68TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-----------------------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
:
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ – GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
VÀ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH VIỆT NAM
t nền kinh tế muốn phát triển thì phải
có một hệ thống ngân hàng mạnh. Chính vì vậy, ưu tiên hàng đầu là nghiên
cứu và phát triển các dịch vụ ngân hàng.
Trong những năm gần đây, các nền kinh tế trên thế giới thường phải
đối mặt với nhiều biến động trên thị trường tài chính dẫn đến suy thoái kinh tế
nghiêm trọng. Các nhà kinh tế cũng như các nhà quản lý trên thế giới trên thế
giới đặc biệ
t quan tâm, nghiên cứu đến lĩnh vực tài chính nói chung và hệ
thống ngân hàng nói riêng.Việt Nam hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi
nền kinh tế tiến tới công nghiệp hoá,hiện đại hoá. Đảng và nhà nước ta luôn
có chủ trương huy động mọi nguồn lực, nguồn vốn phục vụ cho sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn
vốn ngoài nước là rất quan trọng, nguồn vố
n hỗ trơ phát triển ODA cần được
sự quan tâm đặc biệt. Đảng và nhà nước cũng chủ trương phát triển kinh tế
hướng vào xuất khẩu. Tất cả cho thấy mối quan hệ kinh tế với nước ngoài là
đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh ở nước ta. Mà mối quan hệ này
muốn tồn tại và phát triển thì phải nhờ vào các dịch vụ ngân hàng quốc tế. Do
vậy việc nghiên cứu về d
ịch vụ ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng quốc
doanh ở Việt nam là rất cần thiết.
Khoá luận tốt nghiệp này tập trung vào hệ thống hoá vấn đề lý luận,
làm rõ bản chất vai trò và lợi ích của dịch vụ ngân hàng quốc tế. Từ lý luận
dẫn đến đánh giá khách quan hoạt động ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam. Khoá luận này không tập trung vào việc
mô tả qui trình nghiệp vụ
, mà chủ yếu phân tích dữ liệu nhằm mục đích giải
70
thích được vấn đề: Tại sao một số dịch vụ có tồn tại nhưng chưa phát triển,
71
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
I . TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
1. Đôi nét về lịch sử ngân hàng và dịch vụ ngân hàng
Thuật ngữ "ngân hàng" đã có từ lâu. Tại thành Athène (Hylạp), các
nhà đổi tiền được gọi Trapezita - bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "Trapeza"có
nghĩa là cái bàn. Hoạt động mua bán, trao đổi, vay tiền được tiến hành trên
các ghế dài gọi là Banca. Đây cũng là nguồn gốc tạo các từ Banque (Pháp),
Bank (Anh, Mỹ, Đức), Banco (Italia)…. có nghĩa là ngân hàng sau này.
Ngân hàng liên tục phát triển theo điều kiện kinh tế xã hội. Các nghiệ
p
vụ ngân hàng đơn giản đã xuất hiện từ thời thượng cổ. Dưới thời Trung cổ,
các hoạt động ngân hàng được mở rộng tại khắp các nước Châu Âu, Trung
đông, Trung Hoa. Tuy hoạt động ngân hàng xuất hiện từ lâu, nhưng mãi đến
đầu thế kỷ XV (1401), mới có một cơ quan trên thế giới được xem là một
ngân hàng thực sự, đó là Banca di Barcelone ở Tây ban nha. Và sau đó ít năm,
ngân hàng Banca di Valencia cũng đựơc thành lậ
p ở Tây ban nha. Hai ngân
hàng này được coi là hai ngân hàng đầu tiên trên thế giới đã thực hiện phần
lớn các nghiệp vụ của ngân hàng hiện nay tuy qui mô và mức độ có khác
nhau. Trước thế kỷ 17 hoạt động ngân hàng chỉ là buôn tiền, cho vay nặng lãi
là chủ yếu và khách hàng chính là vua chúa và tầng lớp quí tộc giàu sang.
Giai đoạn phát triển thứ hai Trong vòng năm thế kỷ - từ thế kỷ thứ V
đến thế kỷ thứ X, nhiều hoạt động mới được áp dụng và đạt được những bước
tiến mới về nghiệp vụ ngân hàng như:
♦ Ngân hàng bắt đầu ghi chép và theo dõi hoạt động c
ủa thân chủ qua
số hiệu tài khoản.
♦ Ngân hàng áp dụng phương pháp bù trừ. Những chủ nợ của cùng
một loại tiền hay tài sản thì được thanh toán chuyển nhượng lẫn nhau trong
mua bán giữa họ ở cùng một ngân hàng và kể cả đối tác ở ngân hàng khác, và
nợ đáo hạn được bù trừ.
73
♦ Nghiệp vụ chuyển ngân, tức là chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác
cũng được áp dụng.
♦ Ngân hàng cũng làm nghiệp vụ bảo lãnh, là biểu hiện ban đầu của
hình thức chấp nhận các thương phiếu trong nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
♦ Ngân hàng đã áp dụng chiết khấu thương phiếu.
Giai đoạn thứ ba: Ngân hàng đánh dấu sự phát triển vào giai đoạn th
ứ
ba với việc mạnh dạn cho vay tiền, tạo ra các khoản tiền mới trong lưu thông.
Ngân hàng từ lâu đã phát hành các chứng thư (như séc ngày nay) khi có người
gửi vào ngân hàng bằng tiền vàng hoặc tiền đúc - 100 tiền ngân hàng thay cho
100 tiền vàng đúc. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XVII khi chứng thư được chấp
nhận rộng rãi và nhu cầu tăng đột ngột, một số ngân hàng đã phát hành các
chứng thư tự do (không có tiền vàng bảo đả
m) và tiền ngân hàng ra đời. Tuy
nhiên tiền ngân hàng (Bank notes) chỉ được lưu hành rộng rãi từ đầu thế kỷ
XX sau khi nhà nước độc quyền phát hành giấy bạc pháp định. Ngày nay do
sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là khoa học công nghệ, dịch vụ ngân hàng đã
phát triển về mọi mặt và ra đời những loại sử dụng công nghệ cao như thanh
vụ ngân hàng trong nước và đáp nhu cầu tham gia vào thị trường tài chính
quốc tế và những đổi mới trong lĩnh vực này đã tạo ra rất nhiều nghiệp vụ
ngân hàng mới. Lịch sử phát triển ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển
dịch vụ ngân hàng quốc tế thứ nhất.
Một vài thập kỷ sau thế chiến thứ II kết thúc, bên cạnh sự phát
triển kinh tế vượt bậc của Mỹ, các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp, Đức...
các nước tư bản khác như Canada và đặc biệt là Nhật cũng giành được những
thành tựu kinh tế quan trọng. Lẽ tất yếu khi kinh tế phát triển kéo theo việc
các ngân hàng của các quốc gia công nghiệp hoá, đặc biệt là ngân hàng các
nước Canada, Nhật bản, Đức, Anh, Pháp c
ũng theo gương của các Ngân hàng
Hoa kỳ ra sức mở rộng nghiệp vụ của mình ra nước ngoài trong thập kỷ 70.
Lịch sử ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế
thứ hai.
Bên cạnh làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng ồ ạt của các nước tư
bản, có một làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ ba của các nước đang
phát triển diễn ra bình lặng vào cuối thậ
p kỷ 70.
Làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ tư bắt đầu bằng sự kiện ra
75
đời đạo luật nhất thể hoá châu Âu ban hành vào năm 1986; trong đó Cộng
đồng Châu Âu xoá bỏ mọi rào chắn đối với luồng vốn quốc tế. Điều này tạo
điều kiện cho dịch vụ ngân hàng quốc tế phát triển mạnh mẽ về chất lượng và
số lượng và vì vậy các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang tính toàn cầu hoá.
76
3. Bản chất dịch vụ ngân hàng quốc tế
3.1. Định nghĩa dịch vụ ngân hàng quốc tế
77
Trên phương diện phân loại nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là một dạng
hoạt động kinh doanh quốc tế thì nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân
hàng thương mại có thể được coi là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình hoạt động đầu tư và cung ứng dịch vụ tiền tệ và
tài chính quốc tế trên thị trườ
ng trong nước và quốc tế nhằm mục đích sinh
lời.
Việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng
thương mại tổ chức bằng hai phương thức sau:
Tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại nước ngoài bằng
cách thiết lập các chi nhánh, công ty con, văn phòng đại diện. v.v ở nước
ngoài.
Tổ chức một bộ phận kinh doanh quốc tế được chuyên môn hoá
tại trụ sở chính để thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
3.2. Đặc điểm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Mặc dù ngày nay dịch vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại
phát triển đa dạng về hình thức cũng như nội dung, tuy nhiên sau khi nghiên
cứu về học thuật cũng như quá trình vận động phát triển của nó, chúng ta rút
ra những đặc điểm chung như
sau:
Xu thế gia tăng nhanh hơn mức tăng tiềm lực sản xuất: Như đã
trình bày trong phần lịch sử phát triển, ngày nay xu thế quốc tế hoá hoạt động
ngân hàng đang diễn ra mạnh mẽ. Trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất
hàng hoá cũng diễn ra xu thế toàn cầu hoá nhưng thực tế cho thấy mức độ
thấp hơn của thị trường tài chính. Hàng ngày, lượng tiền tệ
lưu chuyển trên thị
trường tài chính thế giới cao gấp 30 lần khối lượng hàng hoá lưu chuyển trên
phạm vi toàn cầu. Đối với các nước đang phát triển, chỉ trong 8 năm (1990-
1997), dòng vốn đầu tư tư nhân đổ vào tăng hơn 5 lần. Trong khi mậu dịch
nghiệp v
ụ ngân hàng quốc tế có mức độ rủi ro cao hơn nghiệp vụ ngân hàng
ở trong nước. Tuy nhiên, rủi ro càng cao lợi nhuận càng lớn nên các ngân
hàng vẫn phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế để có cơ hội và tiềm năng
phát triển lâu dài.
Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng nhiều bởi luật
pháp quốc tế và thông lệ quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế
của dịch vụ
79
ngân hàng quốc tế quyết định. Do sự phức tạp trong môi trường hoạt động
kinh doanh quốc tế, do sự không thống nhất về luật pháp giữa các quốc gia,
do trình độ phát triển không đồng đều mà đòi hỏi phải có luật pháp quốc tế,
thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực
hiện dịch vụ ngân hàng quốc tế.
3.3 Động cơ tiế
n hành dịch vụ ngân hàng quốc tế
Động cơ dễ hiểu nhất là mong muốn theo đuổi các khách hàng
khi các khách hàng của họ thực hiện hoạt động ra nước ngoài. Đây là một
nguyên lý Marketing truyền thống “theo chân khách hàng”. Các công ty của
Mỹ những năm 60, 70 của Nhật và châu Âu trong thập niên 70 hăng hái mở
rộng hoạt động ra nước ngoài thì các ngân hàng của họ cũng theo sau. Động
cơ này có phần mang tính phòng vệ, bởi vì các ngân hàng muốn duy trì và
củng c
ố các mối quan hệ với các khách hàng và muốn chứng tỏ một điều là họ
có kiến thức và chất lượng phục vụ cao hơn các ngân hàng địa phương.
Động cơ khác thúc đẩy các ngân hàng mở rộng ra quốc tế là
nhằm đa dạng hoá cơ sở kinh doanh của họ. Các ngân hàng đầu tư vào các
khoản cho vay có đặc tính khác với các khoản vay nội địa. Loại nhu cầu về
các khoản vay nước ngoài có thể
hoạt động mà không phải chịu thuế; họ không quan tâm đến công việc kinh
doanh ở địa phương. Loại hình này xuất hiện nhiều ở Mỹ.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện dịch vụ trọn gói: Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện trọn gói là sự mở rộ
ng của ngân hàng
chính, hoạt động như các ngân hàng tại nước đó nhưng về mặt pháp lý chi
nhánh ngân hàng tại nước ngoài lại là một bộ phận của ngân hàng mẹ. Các
chi nhánh thực hiện kinh donh nghiệp vụ ngân hàng bán sỉ dựa chủ yếu vào
các khoản tiền gửi mua từ hệ thống ngân hàng quốc tế được biết đến như là
thị trường liên ngân hàng. Họ không thể phát triển một cơ sở tiền g
ửi địa
phương. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài vừa chịu sự điều chỉnh của luật
ngân hàng trong nước vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước ngoài
mà nó mở chi nhánh.
Ở
một số quốc gia, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị
cấm, ở một số quốc gia khác người ta không muốn lập chi nhánh vì có rủi ro
sung công. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài thường được mở tại các trung
tâm tài chính và thương mại của thế giới.
81
Ngân hàng con ở nước ngoài: Ngân hàng con ở nước ngoài là một
định chế độc lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn hoặc gần như sở hữu
hoàn toàn để phù hợp với luật pháp của nước ngoài. Ngân hàng con ở nước
ngoài hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra còn hình thức Ngân hàng con ở nước ngoài nhưng ngân hàng
mẹ không kiểm soát chúng (ngân hàng m
ẹ chỉ đóng góp một phần vốn tối
thiểu, không đủ giành quyền kiểm soát). Nói chung, ngân hàng con ở nước
hình thức của câu lạc bộ ngân hàng được phát triển mạnh mẽ vào đầu thập
niên 1970.
Cơ chế ngân hàng hải ngoại (International Banking Facilities -IBF):
Vào tháng 12 năm 1981, các IBF được cục dự trữ liên bang M
ỹ uỷ quyền cấp
phép cho các ngân hàng và các tổ chức tiền gửi khác thực hiện hoạt động
ngân hàng quốc tế trong nước Mỹ trên cơ sở giống như các chi nhánh và các
ngân hàng trực thuộc nước ngoài của các ngân hàng Mỹ. Khi cấp phép cho
các IBF, ý đồ chính của Fed là nhằm thu họat động này trở lại Mỹ. IBF tạo ra
cho các ngân hàng môi trường tương đối tự do giống như môi trường các chi
nhánh và ngân hàng trực thuộc của họ đã gặ
p ở nước ngoài. Không có các quy
định dự trữ hay các hạn chế lãi suất nào đối với tiền gửi của người nước
ngoài, không phải bảo hiểm cho các khoản tiền gửi và tránh được những đánh
giá liên quan đến bảo hiểm. Phần lớn các tài sản của IBF bao gồm các khoản
cho vay đối với các doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng trung ương nước
ngoài với mục đích sử dụng ngoài nước Mỹ. Nguồn vốn c
ủa họ là từ các
khoản vay liên ngân hàng của các tổ chức quốc tế , các chính phủ và các cơ
quan nước ngoài
4.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
4.2.1. Đặc điểm và các loại hình trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế là địa điểm có mật độ cao các trụ sở của
các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế, bất kể ngân hàng đó thuộc sở
hữu của quốc gia nào. Các trung tâm tài chính có 3 đặc điểm quan trọng sau :
Tại các trung tâm tài chính quốc tế, các ngân hàng quốc tế giao
dịch với nhau bằng đồng tiền nước ngoài chứ không phải bằng đồng tiền của
83
nước chủ nhà. Bởi vậy các giao dịch tài chính ở trung tâm tài chính không
quy định về kế toán dễ dàng) để kế toán các khoản cho vay và tiền gửi quốc
tế. Các chi nhánh ngân hàng và công ty con này hoạt động như văn phòng lưu
84
giữ sổ sách, văn phòng kế toán cho các giao dịch tài chính được thực hiện ở
nước ngoài. Các trung tâm kế toán này chủ yếu phục vụ khách hàng quốc tế.
Trong trường hợp này, trung tâm kế toán đóng vai trò kế toán cho thị trường
tài chính quốc tế.
Trung tâm quỹ (như Singapore, Hongkong)
Trung tâm quỹ đóng vai trò như trung gian tài chính hướng nội, đóng
vai trò như kênh dẫn vốn từ bên ngoài vào trong nước hay khu vực. Ngày nay
Singapore và Hongkong đã phát triển thành trung tâm tài chính phát triển có
thể
đua tranh với các trung tâm tài chính chủ chốt như London, New York, và
Tokyo.
Trung tâm tập hợp tài chính (như Bahrain)
Trung tâm tập hợp tài chính chủ yếu liên quan đến trung gian tài chính
hướng ngoại. Các quốc gia ở khu vực gần Trung tâm tập hợp tài chính huy
động được nhiều vốn nhưng năng lực sử dụng vốn kém. Nguồn tài chính
thặng dư được tích luỹ ở trung tâm tập hợp tài chính sẽ được các tổ chức tài
chính quốc tế đầu tư vào các khu v
ực khác trên thế giới.
Trung tâm tài chính quốc tế ở các nước đang phát triển
Từ thập niên 70, nhiều trung tâm tài chính nước ngoài đã được thiết lập
ở các quốc gia đang phát triển như Singapore, Hongkong, Philippines,
Bahrain, Egyp, Panama... Trong những năm gần đây, các trung tâm tài chính
quốc tế đã được xây dựng tại các nước công nghiệp hóa mới nổi như Malaysia
và Thái Lan.
• 4.2.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
Ngoài ra, những yêu cầu của ngân hàng quốc tế hiện đại đòi hỏi các
nhóm ngân hàng thực hiện các khoản cho vay hợp vốn và các giao dịch tín
dụng. Với khối lượng tiền giao dịch lớn thì không một ngân hàng nào tự
mình thực hiện giao dịch có hiệu quả. Các giao dịch ngân hàng quốc tế đòi
hỏi mối quan hệ thân thiện giữa các ngân hàng bằng cách gắn với nhau bằng
l
ợi ích của mỗi ngân hàng và cùng hoạt động với nhau.
Ngoài việc cùng cho vay hợp vốn và chia sẻ rủi ro, cộng đồng tài chính
ngân hàng quốc tế cùng ở trên một vị trí sẽ có ích cho việc cung ứng tiền và
đầu tư. Sự tồn tại thị trường liên ngân hàng dẫn đến kênh tài chính hiệu quả.
Một số ngân hàng đầu tư nguồn tiền thặng dư của họ vào thị trường liên ngân
hàng, trong khi những ngân hàng khác sử dụng nguồ
n tiền thặng dư để tài trợ
86
hoạt động tín dụng quốc tế. Trung tâm tài chính quốc tế là môi trường thuận
lợi cho người vay và người đầu tư trong vùng gặp nhau.
4.
Tạo ra môi trường pháp lý dễ chịu: Nhà cầm quyền tại các trung tâm
tài chính đã cho phép các ngân hàng quốc tế không chịu các gánh nặng về
thuế, những đòi hỏi về tỷ lệ vốn khả dụng cũng như dự trữ bắt buộc. Các
ngân hàng quốc tế cũng được phép huy động và sử dụng nguồn vốn quốc tế
tạm thời nhàn rỗi để đầu tư mà không bị kiể
m soát về ngoại hối cũng như về
tiền tệ. Thị trường liên ngân hàng cung cấp cho họ cơ hội đầu tư nguồn vốn
thặng dư một cách dễ dàng và với rủi ro thấp nhất.
Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ thuận lợi cho các hoạt động ngân
hàng mà còn thuận lợi cho các các hoạt động khác nhờ những ưu điểm hiển
nhiên của nó. Trung tâm tài chính là nơi đóng trụ sở
của các công ty con của
tiền gửi ngân hàng được dùng làm phương tiện thanh toán, thì cần phải có sự
hợp tác giữa các ngân hàng trong việc thiết lập hệ thống thanh toán bù trừ và
quyết toán nhằm giảm tối đa chi phí thanh toán và tăng khả năng chấp nhận
thanh toán. Muốn vậy, ngân hàng cần phả
i duy trì mối quan hệ tài khoản với
ngân hàng đại lý.
Tài khoản Nostro (tiếng Latinh có nghĩa là tài khoản của chúng tôi) là
tài khoản tiền tệ được mở dưới tên một ngân hàng trong sổ sách các ngân
hàng ở nước ngoài. Ví dụ ngân hàng Vietcombank của Việt nam có tài khoản
bằng đô la ở ngân hàng Mỹ Bank of America thì đây là tài khoản Nostro của
Vietcombank.
Tài khoản Vostro (tiếng Latinh có nghĩa là tài khoản của các bạn) là tài
khoản của một ngân hàng nước ngoài gửi ở ngân hàng đị
a phương bằng tiền
nước ngân hàng địa phương. Ví dụ ngân hàng Bank of America có tài khoản
VND tại ngân hàng Vietcombank thì đó là tài khoản Vostro.
Mục đích của hai loại tài khoản này là thực hiện thanh toán bù trừ và
chuyển tiền quốc tế.
1.2. Ngân hàng đại lý
Hai ngân hàng được coi là ngân hàng đại lý của nhau nếu hai ngân hàng
cùng duy trì tài khoản ngân hàng đại lý với nhau.
Các ngân hàng trở thành các ngân hàng đại lý của nhau khi phát sinh
nhu cầu thanh toán cho khách hàng của ngân hàng tại nơi mà ngân hàng của
họ không có chi nhánh. Các khách hàng của ngân hàng thường yêu cầu ngân
hàng cung cấp các d
ịch vụ tài chính tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Trên lý
thuyết thì điều này có thể thực hiện được qua ngân hàng chi nhánh. Tuy
nhiên, trên thực tế là không thể vì rất tốn kém và gặp khó khăn về chính trị
văn hoá …ở nhiều nước. Mối quan hệ ngân hàng đại lý đem lại lợi ích rất lớn
t để bảo quản những
tài sản có giá như: chứng khoán, các chứng thư, các hợp đồng bảo hiểm,
những tài liệu cá nhân, hoặc có khi chỉ là những tài sản tinh thần như bản thảo
của một tác phẩm văn học, một chiếc nhẫn cưới
89
Bảo quản an toàn các giấy tờ có giá: có nhiệm vụ trông nom quản lý
giấy tờ có giá và các chứng từ khác liên quan như là một đại lý đối với khách
hàng.
1.3.2 Dịch vụ lưu ký
Dịch vụ lưu ký của ngân hàng là dịch vụ giữ chứng khoán theo hợp
đồng cho các khách hàng và thực hiện mua hoặc bán chứng khoán khi được
ký thác. Dịch vụ lưu ký bao gồm việc xuất, nhập chứng khoán, chuyển giao
chứng khoán, bảo qu
ản chứng khoán trong kho, kế toán chứng khoán, giúp
khách hàng nhận cổ tức và thực hiện quyền cổ đông. Các ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ lưu ký tại các quốc gia khác nhau gọi là ngân hàng siêu lưu ký, các
ngân hàng này cũng mua, bán, phân phối chứng khoán khi được khách hàng
tín thác.
Vai trò cơ bản của dịch vụ lưu ký là giảm thiểu rủi ro thanh toán và rủi
ro hoạt động mà các nhà đầu tư phải đối mặt trong tất cả các loại chứng
khoán. Dịch v
ụ lưu ký có thể đạt được bằng cách thực hiện thanh toán giao
dịch chứng khoán nhanh chóng, chính xác và vì vậy giảm thiểu khả năng rủi
ro trong giao dịch. Ngoài ra các ngân hàng làm dịch vụ lưu ký còn thu nhận
cổ tức nhân danh nhà đầu tư, thực hiện các yêu cầu hoàn lại tiền thuế cũng
như các hoạt động khác. Dịch vụ lưu ký còn phục vụ các nhu cầu thông tin
thị trường cho các khách hàng.
Các dịch vụ lưu ký đã là mộ
t trong những sản phẩm ngân hàng quốc tế
Việc xuất trình chứng thư là không cần thiết, tuy nhiên ngân hàng có quyền
yêu cầu như là một bảo đảm khi thanh toán. Khi người hưởng xuất trình séc
tại khách sạn hoặc bất cứ nơi nào để thanh toán thì người nhậ
n séc phải có
trách nhiệm kiểm tra chữ ký. Người nhận séc gửi séc đến ngân hàng đại lý
tiếp theo ngân hàng đại lý sẽ chuyển tiếp séc tới ngân hàng thanh toán qua
hình thức nhờ thu.
1.5. Dịch vụ thẻ tín dụng
1.5.1 Bản chất của thẻ thanh toán quốc tế
Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán hiện đại cho phép chủ thẻ
sử dụng thẻ để thanh toán cho các hàng hoá dịch vụ với hạn mức chi tiêu
nhấ
t định, trả tiền sau mà ngân hàng cho phép căn cứ vào khả năng tài chính,
91
số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của chủ thẻ. Như vậy, về bản chất kinh tế,
thẻ tín dụng chính là sự vay mượn tiền của chủ thẻ đối với ngân hàng với một
số điều kiện đảm bảo của ngân hàng như: tài khoản của chủ thẻ (nếu có), hợp
đồng sử dụng thẻ, tài sản thế ch
ấp...Tuy nhiên chủ thẻ chỉ sử dụng được thẻ
tại những nơi nhất định (đại lý chấp nhận thẻ, ngân hàng đại lý).
Việc cung cấp các dịch vụ thẻ tín dụng cho khách hàng, ngân hàng có
hai cách lựa chọn như sau:
- Ngân hàng có thể trở thành một thành viên với một nhóm các ngân
hàng cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng hoặc đóng vai trò như một đại lý;
- Ngân hàng cũng có thể phát hành thẻ của riêng ngân hàng nhưng họ
phải thu hút được đủ những người cung cấp hàng hoá và dịch vụ, và phải có
nhóm người giữ thẻ đủ lớn để những người cung cấp hàng hoá và dịch vụ
quen thuộc với phương thức đó. Dịch vụ thẻ tín dụng đòi hỏi phải có khối
Tổ chức thẻ thanh toán quốc tế là tổ chức đứng ra liên kết các thành
viên, đặt ra các quy định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo
thống nhất toàn cầu.
Ngân hàng phát hành thẻ là thành viên chính thức của Tổ chức thẻ
thanh toán quốc tế. Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ
xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, chịu trách
nhiệm thanh toán thẻ đó.
Ngân hàng thanh toán thẻ
hay còn gọi là ngân hàng đại lý là thanh viên
tổ chức thẻ thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ theo hợp đồng. Ngân hàng thanh
toán thẻ trực tiếp ký hợp đồng với các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử
lý các giao dịch về thẻ tại cơ sở chấp nhận thẻ
Chủ thẻ Là người có tên trên thẻ do Ngân hàng phát hành thẻ cấp và
được quyền sử dụng thẻ. Ch
ỉ có chủ thẻ mới sử dụng thẻ của mình mà thôi.
Chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm cho người thân thẻ phụ.
Cơ sở chấp nhận thẻ là các đơn vị bán hàng hoá, dịch vụ như cửa
hàng, khách sạn, nhà hàng…. Có kí hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để
chấp nhận thanh toán.
1.6. Dịch vụ thanh toán quốc tế
1.6.1. Dịch vụ chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương th
ức thanh toán trong đó một khách hàng của
ngân hàng yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho