Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 67

- 1 -
MỞ ĐẦU
***
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, sau hơn hai mươi hai năm
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường, nhất là trong
khoảng hơn mười năm trở lại đây với mức tăng trưởng bình quân 7%, năm năm gần
đây bình quân 7,5%, riêng năm 2007 là 8,5% (nguồn: gso.gov.vn), xu thế phát triển
kinh tế ngày càng mạnh mẽ đã làm sức bật cho thị trường tài chính phát triển một
cách nhanh chóng, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng tăng trong toàn nền kinh tế.
Yêu cầu về vốn thúc đẩy thị trường vốn không ngừng phát triển, từ đó dẫn đến
sự ra đời của TTCK là một tất yếu khách quan, khi mà các tổ chức tài chính trung
gian đã có trước đây, không thể đảm nhận tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Thi trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, hoạt động của thị trường có
những yêu cầu rất khác biệt so với các thị trường truyền thống như thị trường hàng
hoá, dịch vụ, thị trường lao động …, hàng hoá lưu thông, mua, bán trên thị trường
là chứng khoán, đây là các công cụ chu chuyển vốn của nền kinh tế, những hoạt
động kinh doanh trên TTCK dựa vào thông tin là chính, lấy niềm tin làm cơ sở cho
sự tồn tại và phát triển của thị trường.
Trong các loại thông tin được cung cấp trên thị trường thì TTKT được cung
cấp đưới dạng các báo cáo tài chính quý, năm là những thông tin có vai trò quan
trọng đặc biệt, nó có ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ cung – cầu chứng khoán, là
động lực cho quyết định mua vào, bán ra của nhà đầu tư trên thị trường sau khi
phân tích các BCTC được công bố. Mặt khác đứng trên phương diện vĩ mô nền
kinh tế, những TTKT của các DNNY cũng phần nào nói lên tình hình chung của
toàn nền kinh tế, tình hình sức khoẻ tài chính quốc gia.
- 2 -
Chính vì những lý do trên, yêu cầu đầu tiên của thị trường là phải xây dựng
được một hệ thống đánh giá chất lượng TTKT, một mạng lưới CBTT hiện đại và
rộng khắp, nhằm ngoài việc thông tin công bố có chất lượng cao, nó còn phải được

- Năm 2007 là năm lần đầu tiên Quốc hội ban hành Luật Chứng khoán, Chính
phủ và Bộ Tài chính ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hoàn chỉnh hệ
thống luật pháp về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Năm 2008 là năm thứ hai các báo cáo tài chính, nhất là báo cáo tài chính năm
được thực hiện và công bố trong điều kiện có một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh
trên TTCK.
- Một lý do quan trọng nữa là cũng trong những năm này, hiện tượng đầu tư tràn
lan vào thị trường chứng khoán. Từ nửa cuối năm 2006 đến đầu năm 2007, có
khoảng 10 tỷ Đô la Mỹ và 300 ngàn tỷ đồng của nhà đầu tư nước ngoài và các tổ
chức cá nhân trong nước bơm vào TTCK và thị trường bất động sản
1
, ngay lập tức
đã tạo ra giai đoạn thị trường bong bóng ( đầu năm 2006 VNIndex trong khoảng
trên 300 điểm, đã tăng mạnh vào cuối năm 2006 và đầu năm 2007, đạt đỉnh vào
ngày 12/3/2007: 1.170 điểm, và trở lại trong khoảng trên 300 điểm vào cuối năm
2008) , đây cũng là nguyên nhân gây nên tình hình lạm phát cao khiến Chính phủ
phải sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ.
- Mặt khác trong giai đoạn này cũng tồn tại nhiều bất cập trong điều hành vĩ mô
TTCK, cùng với hiện tượng khai thác quá mức thị trường đã gây nên hậu quả
không tốt, ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK. Vấn đề này chúng tôi xin được
trình bày, phân tích kỹ trong các phần sau.
Đây là những năm tập trung khá nhiều sự kiện và dữ liệu mang nhiều ý
nghĩa đối với TTCK còn non trẻ của Việt Nam, qua đây chúng tôi muốn chia sẻ
- 4 -
quan điểm về việc xây dựng hệ thống công bố thông tin kế toán trên TTCK trên các
mặt như: hình thức, nội dung, phương tiện …, nhằm mục đích sao cho báo cáo tài
chính cung cấp trên thị trường ngày càng trung thực, minh bạch và hợp lý hơn, góp
phần tăng tăng cường chất lượng hàng hoá giao dịch trên thị trường, tạo lập niềm
tin của nhà đầu tư vào TTCK Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể

kiến nghị đối với các chủ thể có liên quan trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc khoa
học và đảm bảo tính khách quan trong các giải pháp trình bày.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, và phụ lục, đề tài được chia làm ba phần chính
Chương 1
Tổng quan về kế toán và công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán
Kết luận chương 1
Chương 2
Thực trạng công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị
trường Chứng khoán Việt Nam.
Kết luận chương 2
Chương 3
Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin của công ty niêm yết trên
Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
Kết luận chương 3
Kết luận chung
- 6 -
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
KẾ TOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1.1. Bản chất và vai trò của thông tin kế toán.
1.1.1 Bản chất của kế toán.
Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, sự phát triển xã hội của các
cộng đồng cư dân gắn liền với sự phát triển kinh tế. Nhiều di chỉ khảo cổ đã chỉ ra
rằng nền văn minh mà xã hội loài người hiện nay có được, phần lớn là nhờ vào
những kiến thức, tư liệu lịch sử để lại là các tài liệu được ghi chép dưới dạng văn tự
cổ xưa, trong đó các nhà khảo cổ đã tìm thấy những tài liệu có liên quan đến kinh
tế, cổ vật đã được tìm thấy đầu tiên là các bản khắc axít bằng đất nung cách đây
hơn 3.300 năm trước công nguyên, hồ sơ ghi chép bằng chữ tượng hình các khoản
thuế của người Ai Cập cổ đại
2

phải ghi nhận lại, và khi ghi nhận phải tuân thủ nguyên tắc về đo lường, mỗi đối
tượng phải được đo lường với đơn vị đo lường phù hợp. Các giai đoạn trên phải
được ghi chép vào sổ sách theo quy định, đồng thời dùng các phép tính, để tính
toán, quy đổi, tổng hợp các số liệu này đưa vào các biểu mẫu nhằm cung cấp thông
tin cho các đối tượng có liên quan.
Công tác hạch toán được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau, tùy theo yêu
cầu cụ thể của từng lĩnh vực kinh tế nhất định, nhìn chung công tác hạch toán có
các dạng sau:
- Hạch toán nghiệp vụ là dạng ghi chép trong từng công đoạn của quá trình sản
xuất kinh doanh việc ghi chép chỉ mang tính ghi nhận, tính toán, tổng hợp từng
phần không mang tính chất tổng hợp do đó các chỉ tiêu sử dụng ít, thông tin đơn
giản, chủ yếu dùng để làm số liệu tổng hợp mà thôi.
- 8 -
- Hạch toán thống kê là dạng hạch toán cung cấp những thông tin tổng hợp có
sử dụng nhiều đơn vị đo lường, nhiều chỉ tiêu tổng hợp cũng như nhiều phương
pháp, kỹ thuật tính toán phức tạp, số liệu đi kèm với thời gian, khu vực nhất định,
vì thế thông qua số liệu thống kê người ta có thể rút ra các quy luật vận động, xu
thế phát triển của sự vật hiện tượng.
- Hạch toán kế toán là việc phản ảnh một cách thường xuyên, tổng hợp, liên
tục và có hệ thống các sự kiện kinh tế phát sinh trong một đơn vị kinh tế cần xem
xét, theo dõi. Việc phản ảnh các sự kiện kinh tế này thông qua các thước đo là tiền,
hiên vật và thời gian lao động.
“Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”
3
.
Mục đích của kế toán là cung cấp thông tin, thông tin được cung cấp cho
nhiều đối tượng khác nhau, và với các yêu cầu khác nhau, vì thế kế toán được chia
thành hai phân hệ: kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Kế toán tài chính cung cấp những thông tin tổng hợp tình hình dịch chuyển

1.1.2 Vai trò của thông tin kế toán.
Giai đoạn hiện nay, TTKT ngày càng trở nên quan trọng, khi mà toàn cầu hoá
kinh tế phát huy tác dụng của nó, từ những thay đổi mô hình kinh tế thị trường theo
hướng mở, thay đổi mô hình doanh nghiệp, thay đổi trong những mối quan hệ của
các công ty mẹ, con, công ty xuyên quốc gia …, sự quan tâm của chính quyền về
hoạt động kinh tế trong và ngoài nước cho mục đích điều hành, yêu cầu có được
thông tin hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN của các nhà đầu tư, nhà tài trợ,
Hội đồng quản trị, cổ đông góp vốn …, thông tin tài chính của doanh nghiệp phải
được cung cấp đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời, chính xác và trung thực.
Những vấn đề thông tin kế toán cung cấp trước hết giúp cho các nhà quản trị
doanh nghiệp nắm được toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh, quá trình chuyển
dịch nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp
cũng từ những thông tin được cung cấp này ra những quyết định liên quan đến thị
- 10 -
trường hàng hoá, thị trường tài chính – tiền tệ, quyết định điều tiết, hoạch định
chính sách vĩ mô của các cơ quan quản lý.
Mặt khác thông tin kế toán đó là các báo cáo tài chính thường kỳ, còn phản ảnh
thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ các báo cáo này nhà quản lý có thể đánh
giá một cách đúng đắn và toàn diện hoạt động kinh doanh mà mình đang quản lý,
hiệu quả thực tế trong công tác điều hành, khả năng hoàn thành các mục tiêu đã đề
ra và quan trọng hơn cả là từ các thông tin này giúp cho hoạt động sản xuất kinh
doanh ngày càng mang lại hiệu quả cao hơn.
1.2 Vấn đề công bố thông tin kế toán trên TTCK.
Các nước có TTCK trên thế giới, nhìn chung đều yêu cầu các công ty niêm yết
trên thị trường phải công bố TTKT theo quy định của các tổ chức quản lý, điều
hành thị trường. Công bố BCTC thường kỳ trên thị trường chứng khoán là cung cấp
thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết về: tình hình tài sản, nguồn vốn,
kết quả sản xuất kinh doanh, mức cổ tức được chia …, sở dĩ vấn đề công bố TTKT
được đặt ra vì các lý do sau:
- Nhằm mục đích công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính của doanh

Thị trường tài chính (Financial Market) bao gồm thị trường vốn (Capital
Market) và thị trường tiền tệ (Currency Market), TTCK là bộ phận chính của thị
trường vốn. Thị trường tài chính được hình thành, tồn tại và phát triển là một tất
yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, nó được sinh ra để giải quyết các mâu
thuẫn cơ bản giữa khả năng và nhu cẩu cung ứng vốn phục vụ những hoạt động
kinh tế của thị trường.
Trong quá trình phát triển của nền KTTT, nhu cầu về vốn cung ứng cho nền
kinh tế ngày càng cao, tốc độ giao dịch trong sản xuất, thương mại ngày càng phát
- 12 -
triển, vòng quay vốn trong lưu thông hàng hoá tăng lên cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, song song với tình hình phát triển tài chính – tiền tệ, các
công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn cũng nhanh chóng phát
triển, từ đó nảy sinh các quan hệ mua, bán các loại công cụ tài chính này, đặc biệt
là các loại chứng khoán được luật pháp cho phép lưu thông, mua bán trên thị
trường. Chính sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã hình thành nên thị trường
tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán các chứng khoán (bao gồm cả hai
loại ngắn và dài hạn), với mục đích giải quyết các nhu cầu về vốn đầu tư.
Mặt khác sự thay đổi về mô hình hoạt động của doanh nghiệp, dưới hình thức
vốn tự có của công ty được chia thành nhiều cổ phần có mệnh giá bằng nhau và
được gọi là công ty cổ phần, quan trọng hơn cả là việc luật pháp cho phép mua bán
các loại cổ phần trong công ty cổ phần, đi đôi với việc phát hành cổ phiếu huy động
vốn trong công chúng để phục vụ cho mục đích tái sản xuất mở rộng của doanh
nghiệp.
Sự phát triển lớn mạnh của thị trường tài chính, cùng với yêu cầu thực hiện cơ
chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang tổ chức phát hành mà không thông qua
định chế trung gian nào, hay nói khác đi đó là đáp ứng yêu cầu chu chuyển vốn đầu
tư có chi phí thấp, yêu cầu này đã hình thành nên một loại thị trường cao cấp đó là
TTCK, việc mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn là chứng khoán vốn và
chứng khoán nợ, được diễn ra tập trung tại TTCK, trên hệ thống giao dịch điện tử
của Sở giao dịch chứng khoán và các hệ thống giao dịch không tập trung khác có

- Các yêu cầu khác …
- 14 -
Đặc trưng của thị trường sơ cấp đó là kênh đầu tư giai đoạn một của các nhà
đầu tư trong và ngoài nước, nguồn vốn giao dịch tại đây sẽ cung ứng trực tiếp cho
những hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức phát hành.
1.2.1.1.2 Thị trường thứ cấp (Secondary Market)
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các loại chứng khoán đã qua giao dịch lần
đầu trên thị trường sơ cấp, và đây chính là hàng hoá của thị trường. trên thị trường
thứ cấp, hoạt động mua đi bán lại diễn ra giữa các chủ thể tham gia thị trường mà
không làm tăng thêm quy mô về vốn đầu tư, không tạo ra nguồn tài chính mới cho
các tổ chức phát hành, các khoản thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các
nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán, tuy nhiên giữa hai thị trường này
luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau.
Việc mua bán trên thị trường thứ cấp dựa vào:
- Quan hệ cung cầu trên thị trường.
- Các giá trị của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường như: giá trị hiện tại, giá
trị tương lai, xu thế phát triển …
- Tâm lý của nhà đầu tư.
- Các thông tin có liên quan đến tình hình kinh tế - tài chính quốc gia, thế giới
và tình hình hoạt động của các DNNY.
Thị trường sơ cấp là cơ sở, nơi cung cấp hàng hoá cho thị trường thứ cấp, thị
trường sơ cấp là tiền đề hình thành thị trường thứ cấp, nếu không có thị trường sơ
cấp cũng sẽ không có thị trường thứ cấp. Nhưng một khi thị trường thứ cấp hoạt
động ổn định có hiệu quả và bền vững, đó chính là nguồn động lực thúc đẩy thị
trường sơ cấp phát triển và điều này là yếu tố quyết định, giúp cho các tổ chức phát
hành chứng khoán thành công, nhằm đạt được mục đích huy động vốn phục vụ
hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác hoạt động của thị trường thứ cấp cũng
thoả mãn nhanh chóng nhu cầu chuyển dịch vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán.
- 15 -

Để quản lý thị trường OTC, ở một số nước thành lập Hiệp hội kinh doanh
chứng khoán quốc gia, Hiệp hội này ban hành quy chế thị trường, kết nạp và khai
trừ thành viên, giám sát việc thực hiện quy chế của các chủ thể tham gia thị trường.
1.2.1.2 Cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán
1.2.1.2.1 Điều hành và giám sát thị trường
Thông lệ chung trên thế giới, điều hành, giám sát TTCK là các cơ quan quản
lý của Chính phủ, chịu trách nhiệm chính là Ủy ban Chứng khoán (Commission of
Securities Market), đây là cơ quan chức năng chuyên ngành của Nhà nước trong
lĩnh vực chứng khoán, chỉ thực hiện công việc quản lý chung chứ không trực tiếp
điều hành, giám sát thị trường.
Ủy ban chứng khoán có thẩm quyền ban hành các quy định điều chỉnh hoạt
động trên thị trường, làm nền tảng cho các tổ chức tự quản thực hiện chức năng
điều hành và giám sát thị trường của mình.
Ngoài ra Ủy ban chứng khoán kiểm soát mọi hoạt động phát hành chứng
khoán của các công ty niêm yết nói riêng và các công ty công chúng (Public
Company) nói chung.
Quản lý trực tiếp các tổ chức tự quản, giám sát, thanh tra cũng như xử lý các tổ
chức, cá nhân tham gia thị trường để bảo vệ lợi ích chung, trong trường hợp có hiện
tượng vi phạm pháp luật.
Trực tiếp điều hành và giám sát thị trường chứng khoán gồm có hai tổ chức
chính: Sở giao dịch chứng khoán và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán:
Là một tổ chức tự quản bao gồm các công ty chứng khoán thành viên.
SGDCK thực hiện các chức năng:
- 17 -
- Điều hành, quản lý trực tiếp các hoạt động giao dịch chứng khoán diễn ra
hàng ngày, đảm bảo việc thực hiện được theo đúng quy định của luật pháp.
- Giám sát, theo dõi việc thực hiện giữa các công ty chứng khoán thành viên
với các khách hàng của công ty, khi phát hiện có vi phạm Sở giao dịch sẽ tiến hành
xử lý theo quy định. Trong trường hợp vi phạm có tính chất nghiêm trọng, Sở giao

Đầu tư thông qua các tổ chức có ưu điểm là có thể đa dạng hoá danh mục
đầu tư và khối lượng vốn lớn giúp cho các tổ chức đầu tư có ưu thế hơn hẳn những
nhà đầu tư cá nhân.
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán: Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán, có thể thực hiện các công việc như môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư chứng
khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Là loại hình công ty kinh doanh có điều kiện, các công ty chứng khoán
phải đảm bảo các tiêu chuẩn, quy định của luật pháp về vốn điều lệ và những quy
định khác của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.
- Công ty quản lý quỹ: Thực hiện công việc quản lý quỹ đầu tư chứng khoán,
trong quá trình hoạt động công ty có thể thành lập và quản lý đồng thời nhiều quỹ
đầu tư. Công ty quản lý quỹ thay mặt quỹ đầu tư để phát hành chứng chỉ quỹ, các
quỹ đầu tư hoạt động kinh doanh chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư.
1.2.1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động trên thị trường chứng khoán
- Nguyên tắc trung gian
Theo nguyên tắc này các giao dịch trên thị trường được thực hiện thông qua
các tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Tại thị trường sơ cấp nhà đầu tư
thường không mua chứng khoán trực tiếp của tổ chức phát hành mà mua từ các tổ
- 19 -
chức bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới,
khách hàng mua và bán chứng khoán thông qua các công ty chứng khoán.
- Nguyên tắc cạnh tranh đấu giá
Trên thị trường sơ cấp lẫn thị trường thứ cấp, giá cả chứng khoán là do mối
quan hệ cung cầu quyết định, mua và bán chứng khoán được thực hiện theo phương
thức đấu giá và tự do cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia thị trường với nhau.
- Nguyên tắc công khai
Chất lượng của hàng hoá chứng khoán không thể kiểm tra như các loại hàng
hoá thông thường khác mà phải dựa trên những thông tin có liên quan. Vì vậy luật
pháp quy định việc công bố thông tin là một nghĩa vụ của các tổ chức niêm yết và

- Làm thiệt hại lợi ích nhà đầu tư
Đối với các CTCK hoặc tổ chức đầu tư, trong kinh doanh nghiêm cấm:
+ Làm trái lệnh đặt mua, bán của khách hàng.
+ Không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định.
+ Tự ý mua bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng, hoặc mượn danh
nghĩa khách hàng để mua bán chứng khoán.
1.2.2. Công ty niêm yết và thông tin công bố trên thị trường chứng khoán.
1.2.2.1 Công ty niêm yết
CTNY là những CTCP được SGDCK cho phép niêm yết cổ phiếu của mình
cho mục đích giao dịch trên Sở, nếu công ty đáp ứng được một số tiêu chí theo quy
định của Sở.
Các hình thức niêm yết cổ phiếu gồm có niêm yết lần đầu và niêm yết bổ
sung.
- 21 -
Niêm yết lần đầu là sau khi được phép của SGDCK, cổ phiếu của công ty cổ
phần lần đầu tiên được giao dịch trên TTCK.
Niêm yết bổ sung gồm các dạng sau:
- Tăng vốn bằng cách phát hành chứng quyền, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu.
- Trả cổ tức bằng cổ phiếu.
- Phát hành cổ phiếu thưởng.
Thay đổi niêm yết được dùng trong trường hợp:
- Thay đổi tên của tổ chức niêm yết.
- Tách, gộp cổ phiếu
Niêm yết lại được áp dụng cho:
- Chứng khoán của công ty đã bị hủy niêm yết
- Chia, tách, sáp nhập các công ty niêm yết và chưa niêm yết hoặc các công ty
niêm yết với nhau.
Hủy niêm yết trong các trường hợp:
- Hủy niêm yết tự nguyện
- Hủy niêm yết bắt buộc

quy định của các tổ chức là công ty đại chúng
6
.
Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp
Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp chủ yếu là công bố thông tin của các
tổ chức niêm yết trên SGDCK.
Công bố thông tin là nghĩa vụ quan trọng của các tổ chức niêm yết, những thông
tin có thể ảnh hưởng đến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu, trái phiếu của
tổ chức niêm yết thì phải được công bố kịp thời, chính xác.
- 23 -
Thông tin được công bố trên thị trường được thực hiện theo quy định của các cơ
quan quản lý thị trường trực tiếp và gián tiếp. Tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin
là yêu cầu quan trọng và là điều kiện bắt buộc khi các tổ chức muốn được niêm yết
trên Sở giao dịch.
Căn cứ vào thời điểm công bố, thông tin được chia làm 3 loại:
Thông tin định kỳ
Gồm các BCTC của các tổ chức niêm yết theo quy định như BCTC quý, BCTC
năm, trong đó BCTC năm phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán, và các thông
tin mà các DNNY phải công bố khác theo yêu cầu của Sở giao dịch chứng khoán.
Thông tin bất thường
Các vấn đề có liên quan đến tình hình hoạt động của tổ chức như: các thay đổi
về nhân sự, thay đổi về nguồn vốn, tài sản, các sự kiện có liên quan đến tình hình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các vấn đề tranh chấp và các vấn đề có
liên quan khác.
Thông tin công bố theo yêu cầu
Các tổ chức niêm yết phải thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của các cơ
quan quản lý, điều hành trực tiếp và gián tiếp trên TTCK, nội dung thông tin công
bố phải nêu ra sự kiện được các cơ quan quản lý yêu cầu, nguyên nhân, mức độ xác
thực, các giải pháp xử lý (nếu có).
Thông tin về giao dịch của các cổ đông nội bộ

b. Đối với các tổ chức quản lý, điều hành và tạo lập thị trường
Các cơ quan quản lý điều hành trực tiếp và gián tiếp thị trường quy định thực
hiện việc CBTT của các tổ chức niêm yết, trước hết tạo sự ổn định cho môi trường
- 25 -
hoạt động kinh doanh của thị trường về mặt pháp lý, thúc đẩy sự phát triển của thị
trường, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào nền kinh tế.
Các tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ trên thị trường, ngoài việc cung cấp
dịch vụ cho các nhà đầu tư họ cũng là các nhà đầu tư, như vậy ảnh hưởng của thông
tin kế toán của các tổ chức niêm yết có tầm quan trọng nhiều mặt đối với hoạt động
kinh doanh của họ, nhất là khoản doanh thu dịch vụ và chứng khoán tự doanh, về
phía các nhà đầu tư, ảnh hưởng của công bố thông tin cũng tác động rất lớn đến
tâm lý của họ trên thị trường.
Ngoài ra TTCK cũng là phong vũ biểu của nền kinh tế (nếu bây giờ chưa thì sau
này sẽ), vì thông thường các DNNY là những công ty có hiệu quả kinh doanh cao
hàng đầu trong các lĩnh vực ngành nghề mà các tổ chức này tham gia trong nền
kinh tế đất nước, vì vậy thông qua những diễn biến trên thị trường, các nhà quản lý,
điều hành vĩ mô có thể nắm được thực trạng sản xuất kinh doanh chung toàn nền
kinh tế, từ đó có những bước đi thích hợp nhằm phát triển kinh tế quốc gia.
Việc công bố TTKT nói riêng và việc công bố thông tin nói chung cũng chính
là yêu cầu bức thiết trong việc thực hiện thị trường tự do cạnh tranh, bình đẳng,
hiệu quả và lành mạnh.
1.2.4 Các yêu cầu về chất lượng thông tin và CBTT.
Bất kỳ quốc gia nào có thị trường chứng khoán, đều có yêu cầu công bố thông
tin phải kịp thời, chính xác theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy yêu cầu về
chất lượng thông tin công bố phải được đặt lên hàng đầu, bởi vì nguồn vốn của các
tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán thực sự là sở hữu của nhiều nhà đầu
tư là cá nhân và tổ chức, chất lượng thông tin có ảnh hưởng đến niềm tin của nhà
đầu tư, ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, đây chính là nguyên nhân sâu xa có tác
động đến mối quan hệ cung - cầu .
Chất lượng của thông tin được công bố cũng nói lên thực trạng kinh doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status