Đề tài : Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 15



LUẬN VĂN
Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công
bố thông tin kế toán của
các doanh nghiệp niêm yết trên Thị
trường chứng khoán Việt Nam - 1 -
MỞ ĐẦU
***
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, sau hơn hai mươi hai năm
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường, nhất là trong
khoảng hơn mười năm trở lại đây với mức tăng trưởng bình quân 7%, năm năm gần
đây bình quân 7,5%, riêng năm 2007 là 8,5% (nguồn: gso.gov.vn), xu thế phát triển
kinh tế ngày càng mạnh mẽ đã làm sức bật cho thị trường tài chính phát triển một
cách nhanh chóng, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng tăng trong toàn nền kinh tế.
Yêu cầu về vốn thúc đẩy thị trường vốn không ngừng phát triển, từ đó dẫn đến
sự ra đời của TTCK là một tất yếu khách quan, khi mà các tổ chức tài chính trung

Với mong muốn đưa ra một số nhận xét đánh giá, đồng thời kiến nghị những
giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán, nhằm mục đích xây dựng
môi trường kinh doanh lành mạnh, tăng cường tính minh bạch, trung thực, kịp thời,
cũng như từng bước nâng cao chất lượng thông tin được công bố trên thị trường,
xây dựng TTCK phát triển hiệu quả, công bằng, ổn định và bền vững.
Mục tiêu tổng quát
TTCK có thể phát triển ổn định và bền vững được hay không phần lớn tùy
thuộc vào môi trường kinh doanh, chất lượng hàng hoá giao dịch trên thị trường,
thông tin được cung cấp trên thị trường là yếu tố góp phần tăng thêm chất lượng,
củng cố niềm tin của các chủ thể kinh doanh. Về phía Nhà nước nhằm thực hiện
điều này, đã ban hành Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành vào
- 3 -
đầu năm 2007. Đối với TTCK Việt Nam, đây là lần đầu tiên có một hệ thống luật
pháp hoàn chỉnh. Để có thể phần nào đó nhận định đúng thị trường, chúng tôi đã
chọn ra ba năm 2006 – 2007 – 2008 để nghiên cứu, đánh giá, vì các lý do sau:
- Năm 2006 là năm có mức tăng đột biến về số lượng cũng như giá trị cổ phiều
các công ty đăng ký và niêm yết nhiều nhất trên TTCK kể từ ngày mới thành lập
cho đến nay (SGDCK Tp HCM: năm 2005: 35 công ty; năm 2006: 106 công ty).
- Năm 2007 là năm lần đầu tiên Quốc hội ban hành Luật Chứng khoán, Chính
phủ và Bộ Tài chính ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hoàn chỉnh hệ
thống luật pháp về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Năm 2008 là năm thứ hai các báo cáo tài chính, nhất là báo cáo tài chính năm
được thực hiện và công bố trong điều kiện có một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh
trên TTCK.
- Một lý do quan trọng nữa là cũng trong những năm này, hiện tượng đầu tư tràn
lan vào thị trường chứng khoán. Từ nửa cuối năm 2006 đến đầu năm 2007, có
khoảng 10 tỷ Đô la Mỹ và 300 ngàn tỷ đồng của nhà đầu tư nước ngoài và các tổ
chức cá nhân trong nước bơm vào TTCK và thị trường bất động sản
1
, ngay lập tức

những ý kiến kiến nghị đối với các chủ thể hoạt động trên thị trường với mục đích
sao cho thông tin kế toán công bố trên thị trường ngày càng trung thực, hợp lý,
chính xác, kip thời và minh bạch.
Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, khả năng nghiên cứu và các lý do bất khả kháng
khác, trong luận văn chỉ đề cập đến báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên
TTCK, và cũng chỉ dùng tư liệu là báo cáo tài chính thường niên của các doanh
nghiệp niêm yết trên SGDCK TpHCM (HOSE) trong ba năm : 2006 – 2007 –
- 5 -
2008, kết hợp với phần khảo sát, thống kê thực tế, để phân tích, đánh giá đưa ra
định hướng và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện việc CBTT trên TTCK mà
thôi.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như chọn mẫu nghiên cứu, điều
tra, khảo sát, thống kê mô tả, phân tích và các dữ liệu quá khứ đã tập hợp được
thông qua các biểu đồ, hình ảnh, các chỉ số phân tích …, kết hợp so sánh, đối chiếu
với hệ thống luật pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan đến các lĩnh
vực mà đề tài nghiên cứu, từ đó đánh giá tình hình thực tế, đưa ra một số giải pháp
kiến nghị đối với các chủ thể có liên quan trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc khoa
học và đảm bảo tính khách quan trong các giải pháp trình bày.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, và phụ lục, đề tài được chia làm ba phần chính
Chương 1
Tổng quan về kế toán và công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán
Kết luận chương 1
Chương 2
Thực trạng công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị
trường Chứng khoán Việt Nam.
Kết luận chương 2
Chương 3

việc ghi chép các sự kiện kinh tế giá trị thực sự của nó, hạch toán kế toán và thông
tin kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong quá trình hoạt
động kinh tế của con người nhất là vào giai đoạn hiện nay.
- 7 -
Với mục đích đạt được hiệu quả kinh tế cao trong các hoạt động kinh tế, thông
tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, chính xác, và trên tất cả mọi mặt. Trong
bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay, các hoạt động kinh tế rất đa dạng, có nhiều lĩnh
vực khác nhau, nhưng dù ở trong lĩnh vực nào đi nữa thì thông tin kế toán luôn
mang tính chất quan trọng và không thể thiếu, qua đó cho phép chúng ta hiểu rõ về
các hoạt động kinh tế mà mình đang thực hiện, cũng như hiệu quả của các công
việc này là như thế nào. Hạch toán kế toán chính là công việc ghi chép các diễn
biến trong hoạt động kinh tế dựa trên quan sát, đo lường, tính toán và ghi lại những
sự việc trên.
Trong các hoạt động kinh tế diễn ra hàng ngày thường mang tính chu kỳ, đầu
chu kỳ là quá trình đầu tư bằng nhiều phương tiện khác nhau như vốn bằng tiền,
nguyên vật liệu, sức lao động của con người …, cuối chu kỳ là quá trình thu hoạch,
tổng kết tính toán hiệu quả hoạt động kinh tế, xem xét để ra quyết định tiếp tục một
chu kỳ tái sản xuất mới, đây chính là các đối tượng mà trong quá trình quan sát
phải ghi nhận lại, và khi ghi nhận phải tuân thủ nguyên tắc về đo lường, mỗi đối
tượng phải được đo lường với đơn vị đo lường phù hợp. Các giai đoạn trên phải
được ghi chép vào sổ sách theo quy định, đồng thời dùng các phép tính, để tính
toán, quy đổi, tổng hợp các số liệu này đưa vào các biểu mẫu nhằm cung cấp thông
tin cho các đối tượng có liên quan.
Công tác hạch toán được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau, tùy theo yêu
cầu cụ thể của từng lĩnh vực kinh tế nhất định, nhìn chung công tác hạch toán có
các dạng sau:
- Hạch toán nghiệp vụ là dạng ghi chép trong từng công đoạn của quá trình sản
xuất kinh doanh việc ghi chép chỉ mang tính ghi nhận, tính toán, tổng hợp từng
phần không mang tính chất tổng hợp do đó các chỉ tiêu sử dụng ít, thông tin đơn
giản, chủ yếu dùng để làm số liệu tổng hợp mà thôi.

động sản xuất kinh doanh như chi phí, thu nhập, của từng bộ phận, sản phẩm cụ thể
- 9 -
cũng như của từng khâu, từng loại sản phẩm, các thông tin này nhằm mục đích
phục vụ nhu cầu quản trị ở các cấp độ khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp.
Đặc điểm của kế toán quản trị là những thông tin nó cung cấp mang tính định
hướng tương lai (sự kiện sắp xảy ra), nhờ vào thông tin của kế toán quản trị, các
nhà quản lý thực hiện chức năng quản trị của mình như: hoạch định, kiểm soát và
ra quyết định, vì vậy hình thức công bố thông tin rất đa dạng và tùy theo thông tin
cung cấp mà sử dụng các thước đo khác nhau cho phù hợp.
“Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông
tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội
bộ đơn vị kế toán”
5
.
Kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối liên quan mật thiết với nhau, trong
quá trình cung cấp thông tin hai loại kế toán này tạo thành sự liên kết nhất quán,
phản ảnh liên tục những sự kiện đã, đang và sẽ xảy ra trong suốt quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò của thông tin kế toán.
Giai đoạn hiện nay, TTKT ngày càng trở nên quan trọng, khi mà toàn cầu hoá
kinh tế phát huy tác dụng của nó, từ những thay đổi mô hình kinh tế thị trường theo
hướng mở, thay đổi mô hình doanh nghiệp, thay đổi trong những mối quan hệ của
các công ty mẹ, con, công ty xuyên quốc gia …, sự quan tâm của chính quyền về
hoạt động kinh tế trong và ngoài nước cho mục đích điều hành, yêu cầu có được
thông tin hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN của các nhà đầu tư, nhà tài trợ,
Hội đồng quản trị, cổ đông góp vốn …, thông tin tài chính của doanh nghiệp phải
được cung cấp đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời, chính xác và trung thực.
Những vấn đề thông tin kế toán cung cấp trước hết giúp cho các nhà quản trị
doanh nghiệp nắm được toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh, quá trình chuyển
dịch nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp

tham gia thị trường là như nhau.
- Thông tin trên thị trường là một trong những yếu tố để nhà đầu tư ra quyết
định đầu tư, như thế nó chính là một trong những yếu tố tạo ra cung, cầu hàng hoá
trên thị trường, đây cũng là yếu tố cơ bản để thị trường tồn tại, hoạt động hiệu quả
và phát triển bền vững.
- Mặt khác các công ty niêm yết trên TTCK hầu hết là những công ty hàng đầu
trong các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh trong nền kinh tế, chất lượng công ty
tốt hơn về nhiều mặt so với các công ty chưa đủ điều kiện niêm yết, chính vì vậy,
các cơ quan quản lý, điều hành vĩ mô, các tổ chức thống kê …, có thể thông qua
các số liệu này để đánh giá tình hình kinh tế chung trong toàn quốc.
Như vậy vấn đề CBTT trên TTCK mang tính chất quan trọng sống còn của
thị trường, thông tin được công bố một cách chính xác, minh bạch, kip thời tạo ra
niềm tin, sự an tâm cho các nhà đầu tư, tạo ra động lực kích thích cung, cầu hàng
hoá trên thị trường. Trong các loại thông tin được công bố trên thị trường, thông tin
kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và sự phát triển bền vững
của thị trường.
1.2.1 TTCK và cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán.
1.2.1.1 Thị trường chứng khoán (Securities Market)
Thị trường tài chính (Financial Market) bao gồm thị trường vốn (Capital
Market) và thị trường tiền tệ (Currency Market), TTCK là bộ phận chính của thị
trường vốn. Thị trường tài chính được hình thành, tồn tại và phát triển là một tất
yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, nó được sinh ra để giải quyết các mâu
thuẫn cơ bản giữa khả năng và nhu cẩu cung ứng vốn phục vụ những hoạt động
kinh tế của thị trường.
Trong quá trình phát triển của nền KTTT, nhu cầu về vốn cung ứng cho nền
kinh tế ngày càng cao, tốc độ giao dịch trong sản xuất, thương mại ngày càng phát
- 12 -
triển, vòng quay vốn trong lưu thông hàng hoá tăng lên cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, song song với tình hình phát triển tài chính – tiền tệ, các
công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn cũng nhanh chóng phát

hành, việc mua bán được diễn ra theo nhiều hình thức: phát hành không thông qua
đấu giá và phát hành thông qua đấu giá, chính trong quá trình đấu giá đã hình thành
nhiều loại giá khác nhau của chứng khoán phát hành, nhưng đa phần chứng khoán
phát hành trên thị trường sơ cấp bán theo mệnh giá. Phát hành được chia ra làm hai
loại: Phát hành ra công chúng lần đầu (Inititial Public Offering - IPO) và phát hành
tăng vốn điều lệ.
Các cơ quan quản lý, điều hành TTCK các nước thường có quy định cụ thể đối
với các tổ chức phát hành chứng khoán ra thị trường, gồm:
- Tổ chức phát hành phải đáp ứng quy mô về vốn điều lệ tối thiểu, cơ cấu
cổ đông ngoài công ty, tổng giá trị và số lượng cổ phiếu phát hành và số
lượng nhà đầu tư tham gia mua.
- Có báo cáo tài chính theo đúng quy định về phát hành chứng khoán.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phải có lãi, không thấp hơn
mức quy định và trong một số năm nhất định.
- Mục đích của đợt phát hành, kế hoạch sử dụng vốn.
- Thông tin về các nhà quản lý cấp cao của doanh nghiệp.
- Tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông lớn (theo quy định riêng).
- Các hình thức bảo lãnh (nếu có).
- Các yêu cầu khác …
- 14 -
Đặc trưng của thị trường sơ cấp đó là kênh đầu tư giai đoạn một của các nhà
đầu tư trong và ngoài nước, nguồn vốn giao dịch tại đây sẽ cung ứng trực tiếp cho
những hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức phát hành.
1.2.1.1.2 Thị trường thứ cấp (Secondary Market)
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các loại chứng khoán đã qua giao dịch lần
đầu trên thị trường sơ cấp, và đây chính là hàng hoá của thị trường. trên thị trường
thứ cấp, hoạt động mua đi bán lại diễn ra giữa các chủ thể tham gia thị trường mà
không làm tăng thêm quy mô về vốn đầu tư, không tạo ra nguồn tài chính mới cho
các tổ chức phát hành, các khoản thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các
nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán, tuy nhiên giữa hai thị trường này

lại các công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư đặt lệnh, để hoàn tất thủ tục giao dịch
cho nhà đầu tư.
Cũng cần nói rõ thêm, Sở giao dịch chứng khoán không phải là tổ chức sở
hữu chứng khoán, đây chỉ là nơi giao dịch, và tạo điều kiện cho việc giao dịch được
thuận lợi, công bằng, minh bạch và đúng pháp luật cho các chứng khoán của các tổ
chức đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch.
Thị trường phi tập trung (Over The Counter Market – Thị trường OTC).
Bên cạnh thị trường giao dịch tập trung, thị trường chứng khoán còn có thị
trường giao dịch phi tập trung, tại đây dành cho những công ty chưa đủ điều kiện
giao dịch tại Sở giao dịch, việc giao dịch chủ yếu thông qua yết giá và thương
lượng trực tiếp giữa người mua và người bán về các chứng khoán mà họ sở hữu,
điều kiện giao dịch trên thị trường này tương đối đơn giản, chỉ cần không vi phạm
luật pháp trong quan hệ mua bán.
Ngoài hai thị trường chính thức này, trong các quốc gia có TTCK luôn tồn tại
một thị trường thứ ba, đó là các hoạt động giao dịch, mua bán các loại chứng khoán
- 16 -
theo những hợp đồng miệng hoặc trao tay, các hoạt động mua bán này căn cứ vào
sự tín nhiệm lẫn nhau của các nhà đầu tư.
Để quản lý thị trường OTC, ở một số nước thành lập Hiệp hội kinh doanh
chứng khoán quốc gia, Hiệp hội này ban hành quy chế thị trường, kết nạp và khai
trừ thành viên, giám sát việc thực hiện quy chế của các chủ thể tham gia thị trường.
1.2.1.2 Cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán
1.2.1.2.1 Điều hành và giám sát thị trường
Thông lệ chung trên thế giới, điều hành, giám sát TTCK là các cơ quan quản
lý của Chính phủ, chịu trách nhiệm chính là Ủy ban Chứng khoán (Commission of
Securities Market), đây là cơ quan chức năng chuyên ngành của Nhà nước trong
lĩnh vực chứng khoán, chỉ thực hiện công việc quản lý chung chứ không trực tiếp
điều hành, giám sát thị trường.
Ủy ban chứng khoán có thẩm quyền ban hành các quy định điều chỉnh hoạt
động trên thị trường, làm nền tảng cho các tổ chức tự quản thực hiện chức năng

khoán.
1.2.1.2.2 Các chủ thể khác
Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn trên thị trường sơ cấp,
gồm chính quyền các cấp, các công ty và các tổ chức tài chính với mục đích chuyển
dịch nguồn lực tài chính trực tiếp giữa nhà đầu tư và tổ chức huy động, nhằm mục
đích phục vụ các hoạt động kinh tế.
Hàng hoá của các tổ chức này gồm có: Trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa
phương, trái phiếu công ty, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư …
Nhà đầu tư:
- 18 -
Nhà đầu tư là những chủ thể kinh doanh trên thị trường chứng khoán, nhà đầu
tư có thể chia thành 2 nhóm: các nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư là tổ chức.
- Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận
- Nhà đầu tư là tổ chức: hay còn gọi là định chế đầu tư, thường xuyên mua
bán chứng khoán với số lượng lớn, công việc đầu tư được thực hiện do một bộ
phận gồm những chuyên gia có kinh nghiệm về thị trường.
Đầu tư thông qua các tổ chức có ưu điểm là có thể đa dạng hoá danh mục
đầu tư và khối lượng vốn lớn giúp cho các tổ chức đầu tư có ưu thế hơn hẳn những
nhà đầu tư cá nhân.
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán: Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán, có thể thực hiện các công việc như môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư chứng
khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Là loại hình công ty kinh doanh có điều kiện, các công ty chứng khoán
phải đảm bảo các tiêu chuẩn, quy định của luật pháp về vốn điều lệ và những quy
định khác của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.
- Công ty quản lý quỹ: Thực hiện công việc quản lý quỹ đầu tư chứng khoán,
trong quá trình hoạt động công ty có thể thành lập và quản lý đồng thời nhiều quỹ

Công việc được thực hiện từ một nhóm nhà đầu tư cấu kết với nhau để mua hoặc
bán chứng khoán với số lượng lớn gây nên cung hay cầu giả tạo, làm cho giá cả cổ
phiếu tăng hoặc giảm đột ngột, lũng đoạn thị trường.
- Mua bán nội gián
- 20 -
Là hành vi của kẻ lợi dụng quyền hành hay sự ưu tiên trong việc có được các
thông tin nội bộ của công ty, từ đó mua vào hay bán ra cổ phiếu của công ty đó trên
thị trường. Sau khi thông tin được công bố rộng rãi ra công chúng giá cổ phiếu của
công ty này sẽ có sự thay đổi lớn, tạo ra lợi nhuận phi pháp cho những kẻ mua bán
nội gián.
- Thông tin sai sự thật
Là hành vi phao tin đồn thất thiệt trên thị trường để hưởng lợi do mua thấp và
bán cao sau khi thông tin đã được kiểm chứng, Luật chứng khoán các nước trên thế
giới nghiêm cấm việc này, trong giai đoạn hiện nay, với sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin thì hành vi này càng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nhiều chủ thể tham
gia trên thị trường chứng khoán.
Các công ty niêm yết nếu vi phạm trong việc công bố thông tin sai sự thật làm
thiệt hại cho nhà đầu tư, rối loạn thị trường, sẽ bị xử lý thích đáng theo luật pháp.
- Làm thiệt hại lợi ích nhà đầu tư
Đối với các CTCK hoặc tổ chức đầu tư, trong kinh doanh nghiêm cấm:
+ Làm trái lệnh đặt mua, bán của khách hàng.
+ Không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định.
+ Tự ý mua bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng, hoặc mượn danh
nghĩa khách hàng để mua bán chứng khoán.
1.2.2. Công ty niêm yết và thông tin công bố trên thị trường chứng khoán.
1.2.2.1 Công ty niêm yết
CTNY là những CTCP được SGDCK cho phép niêm yết cổ phiếu của mình
cho mục đích giao dịch trên Sở, nếu công ty đáp ứng được một số tiêu chí theo quy
định của Sở.
Các hình thức niêm yết cổ phiếu gồm có niêm yết lần đầu và niêm yết bổ

và thông tin công bố trên thị trường thứ cấp.
Công bố thông tin trên thị trường sơ cấp
Thông tin công bố trên thị trường sơ cấp thường là những thông tin của các tổ
chức phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng. Cơ quan quản lý Nhà nước
chuyên ngành (Ủy ban chứng khoán) là nơi nhận hồ sơ phát hành theo luật định, và
chịu trách nhiệm về hoạt động phát hành của tổ chức phát hành.
Hồ sơ phát hành được quy định thường bao gồm một số tài liệu thông tin về
tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, nhân sự quản lý cấp cao của tổ
chức, cơ cấu cổ đông, cổ đông nắm quyền kiểm soát, được trình bày tóm tắt trong
Bản cáo bạch (Prospectus) và các tài liệu khác có liên quan, trình Ủy ban chứng
khoán xem xét chuẩn y.
Ở Việt Nam hiện nay, UBCKNN( SSC) trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quan
quản lý, chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động công bố thông tin và chào bán chứng
khoán trên thị trường sơ cấp của tổ chức phát hành. Nội dung chủ yếu là thông qua
báo cáo tài chính, trong đó “Bản cáo bạch” và “Giấy đăng ký chào bán chứng
khoán” là hai tài liệu quan trọng trong số các tài liệu phải trình Ủy ban chứng
khoán Nhà nước.
Ngoài ra UBCKNN còn chịu trách nhiệm theo dõi việc công bố thông tin theo
quy định của các tổ chức là công ty đại chúng
6
.
Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp
Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp chủ yếu là công bố thông tin của các
tổ chức niêm yết trên SGDCK.
Công bố thông tin là nghĩa vụ quan trọng của các tổ chức niêm yết, những thông
tin có thể ảnh hưởng đến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu, trái phiếu của
tổ chức niêm yết thì phải được công bố kịp thời, chính xác.
- 23 -
Thông tin được công bố trên thị trường được thực hiện theo quy định của các cơ
quan quản lý thị trường trực tiếp và gián tiếp. Tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin

1.2.3. Ảnh hưởng của thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng thông tin
trên TTCK.
a. Đối với nhà đầu tư
Thị trường chứng khoán là loại thị trường cao cấp, Chứng khoán giao dịch
trên thị trường mang một giá trị nội tại khá trừu tượng, giá trị chứng khoán được
quyết định bởi mối quan hệ cung, cầu trên thị trường, nhưng mối quan hệ cung cầu
này lại xuất phát từ tâm lý nhà đầu tư sau khi tiếp nhận thông tin trên thị trường từ
nhiều phía khác nhau, trong đó TTKT là loại thông tin quan trọng bậc nhất, nó cho
nhà đầu tư cái nhìn tổng quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các
tổ chức niêm yết, đồng thời đây cũng là yếu tố chính để nhà đầu tư ra quyết định
mua, bán chứng khoán.
Thông tin kế toán còn được xem như là thông tin nền tảng cho sự phát triển
của thị trường, kết quả dịch chuyển nguồn vốn trong doanh nghiệp, tình hình sản
xuất kinh doanh của các tổ chức niêm yết, mức cổ tức được chia trong kỳ, cách tạo
và sử dụng tiền của tổ chức niêm yết và các thông tin khác trong BCTC, chính là
yếu tố củng cố niềm tin của nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu ở hiện tại và trong tương
lai, đồng thời niềm tin cũng là chìa khoá cho sự thành công và phát triển bền vững
của TTCK.
b. Đối với các tổ chức quản lý, điều hành và tạo lập thị trường
Các cơ quan quản lý điều hành trực tiếp và gián tiếp thị trường quy định thực
hiện việc CBTT của các tổ chức niêm yết, trước hết tạo sự ổn định cho môi trường

Trích đoạn Hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của thông tin được côngbố Về trích lập dự phòng Giải pháp về phạm vi và hình thức công bố thông tin Giải pháp đánh giá chất lượng thông tin công bố Giải pháp xử lý các vi phạm – các biện pháp chế tà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status