Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng XHCN, cùng với công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu, nứoc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văm
minh thì nền kinh tế đất nứoc cần phải được tăng trưởng và phát triển. Để làm
được điều đó cần phải có một đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng nhằm giúp cho
ngân hàng có quy định đúng đắn trong hoạt động cho vay của ngân hàng, giúp
ngân hàng thu được lợi nhuận và giảm rủi ro, đảm bảo vốn cho vay phát huy được
hiệu quả kinh tế- xã hội.
Tại chi nhánh NHĐT và PTVN Hà Thành, công tác tín dụng có vai trò rất
quan trọng, không chỉ trực tiếp tác động đến sự sống còn của hoạt động kinh doanh
tại chi nhánh mà còn tác động gián tiếp tới sự phát triển của đất nước. Do đó trong
những năm gần đây, công tác tín dụng tại chi nhánh NHĐT và PTVN Hà Thành
được chú trọng, không ngừng phát triển và đã đạt được nhiều thành công.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề, sau thời gian thực tập, tìm hiểu thực tế tại
chi nhánh NHĐT và PTVN Hà Thành em nhận thấy mục đích nghiên cứu của đề tài
là nhằm hệ thông hoá những lý luận cơ bản về công tác tín dụng trung và dài hạn.
Việc đánh giá chất lượng công tác tín dụng trung trung và dài hạn tại chi nhánh
NHĐT và PTVN Hà Thành nhằm rút ra những những kết quả, nhưng hạn chế và chỉ
ra những nguyên nhân đưa đến hạn chế đó. Từ đó, đưa ra một số giải pháp và đề xuất
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn tại chi NHTM
nói chung và tại – Chi nhánh NHĐT và PTVN Hà Thành nói riêng.
Chuyên đề tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan tới công tác tín
dụng trung và dài hạn. Phạm vi nghiên cứu là công tác cho vay vốn trung dài hạn
tại Chi nhánh NHĐT và PT Hà Thành.
1
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
1
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
Trong quá trình nghiên cứu, khoá luận sử dụng các phương pháp như:
dụng trung- dài hạn.
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng trung hạn được hiểu là loại
tín dụng có thời gian hoàn vốn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để thực hiện các dự
án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Tín dụng NH trung
hạn được cấp cho khách hàng để mở rộng cải tạo, khôi phục, hoàn thiện, hợp lý
hoá quy trình công nghệ, quy trình sản xuất.
Tín dụng NH dài hạn là loại tín dụng có thời gian hoàn vốn trên 5 năm, được
sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
đời sống. Hình thức tín dụng này được NHTM cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ
việc xây dựng mới, mở rộng hoặc hoàn thiện quy trình công nghệ, quy trình sản
xuất.
Đối với điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn trung-dài hạn
rất lớn, trong khi các DN chưa có nhiều thời gian để tích luỹ vốn và chưa tích luỹ
được nhiều. Đồng thời việc đầu tư trực tiếp của công chúng qua việc mua trái
phiếu, cổ phiếu do các DN phát hành còn là một vấn đề rất hạn chế. Cho nên trong
3
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
3
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
thực tiễn nhu cầu về vốn trung- dài hạn của các DN chủ yếu được đáp ứng bởi vốn
tự có cuả DN và đa phần còn lại bằng sự tài trợ của hệ thống NHTM thông qua tín
dụng trung- dài hạn.
1. 1. 2. Các loại hình tín dụng trung- dài hạn
Tín dụng trung- dài hạn là một nghiệp vụ đang được tồn tại cùng với nghiệp
vụ trong hoạt động kinh doanh của NH. Ngày nay, trong điều kiện hoạt động của
nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, do đó nghiệp vụ
tín dụng trung- dài hạn đòi hỏi phát triển theo góp phần quan trọng trong việc đổi
mới hiện đại hoá trang thiết bị và công nghệ sản xuất cho các ngành kinh tế của
mọi thành phần kinh tế. Nghiệp vụ tín dụng trung- dài hạn của các NH trong những
năm gần đây đã triển khai theo các hình thức sau:
đầu tư cho dự án.
1 Tín dụng trực tiếp
Đây là hình thức tín dụng trung- dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
NHTM tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm đối với từng dự án đầu tư
của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ. Thực tế cho thấy việc lựa chọn dự án
tốt là yếu tố quyết định nhất của hình thức tín dụng này.
Tín dụng tuần hoàn
Tín dụng tuần hoàn được coi là tín dụng trung- dài hạn khi thời hạn của hợp
đồng được kéo dài từ một đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và được trả
nợ khi có nguồn, trong thời gian hợp đồng có hiệu lực.
Trong các DN cổ phần khi có nhu cầu về vốn trung- dài hạn, DN có thể ra
tăng việc phát hành cổ phiếu, nhưng cũng có thể vay NH dưới hình thức tín dụng
tuần hoàn, sau đó sử dụng phần lợi nhuận tính trả cho cổ đông để trả nợ, đồng thời
tăng vốn góp của cổ đông lên.
Thực chất đây là một hình thức cải biến cơ cấu tài chính của DN, chuyển nợ
vay NH thành vốn trung- dài hạn.
5
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
5
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
DN vay vốn cũng có thể yêu cầu NH chuyển tín dụng tuần hoàn thành tín dụng
trung- dài hạn và thậm chí có thể ra hạn kéo dài nhiều năm với điều kiện có tài
khoản đảm bảo cho khoản vay một cách chắc chắn. Việc chuyển đổi này thường
được diễn ra vào cuối giai đoạn của hợp đồng và điều đó còn phụ thuộc vào mức
độ thực hiện hợp đồng và tình hình tài chính của khách hàng vay vốn.
Tín dụng thuê mua- dịch vụ thuê mua
Tín dụng cho thuê là một kiểu cho thuê tài sản để sử dụng chuyên môn theo
hợp đồng. Nếu trong hợp đồng có kèm theo lời hứa của người thuê sẽ bán lại tài
sản này, chậm nhất là khi hợp đồng cho thuê theo giá thoả thuận trước thì đó là
thuê tài chính. Nếu trong hợp đồng không kèm theo lời hứa thì đó gọi là thuê hoạt
trung phục vụ sản xuất. Nắm trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến độ
phát triển các công trình, các dự án, tạo được hiệu quả kinh tế bền vững, lâu dài
góp phần thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã định hướng công nghiệp
hoá- hiện đại hoá.
Bên cạnh đó, các khoản cho vay trung- dài hạn có vai trò tạo nguồn vốn để
thực hiện xây dựng mới, hiện đại hoá từng bước nền sản xuất trong nước, thúc đẩy
sản xuất, nâng cao chất lượng, mẫu mã, đa dạng về tính năng của sản phẩm để tiêu
thụ trong nước và xuất khẩu. Hàng hoá có tính chất cạnh tranh trên thị trường quốc
tế sẽ thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân thương
mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Tín dụng trung- dài hạn có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh
tế vĩ mô. NHNN luôn quản lý tín dụng trung- dài hạn bằng các quy định và chính
sách của mình. NHNN đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế,
ổn định lưu thông tiền tệ. Thông qua tín dụng trung- dài hạn, Chính Phủ cũng có
thể quản lý và thực hiện các chương trình kinh tế lớn một cách có hiệu quả. Thực
7
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
7
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
tế cho thấy, các chương trình kinh tế lớn đều được cấp vốn thông qua hệ thống các
NHTM, hiệu quả được xét đến kỹ hơn và Chính Phủ cũng quản lý dễ dàng hơn các
chương trình đầu tư này. Ngoài ra, Chính Phủ còn có thể hướng tín dụng trung- dài
hạn vào các ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ quá trình công nghiệp hoá- hiện đại
hoá để các ngành này đi đầu, tạo đà cho sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước.
Hoạt động tín dụng trung- dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan gia luôn
gắn liền với thị trường thế giới. Tín dụng trung- dài hạn đã trở thành nhịp cầu nối
liền quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc
tế như: Các hình thức tín dụng giữa các Chính Phủ, giữa cá nhân với cá nhân, các
hình thức tài trợ, cho vay không hoàn lại của Chính Phủ các nước.
1.1.3.2. Đối với DN:
hạn tại NH, vừa giúp NH thực hiện chiến lược kinh
doanh đem lại lợi tức cho DN mà không gia tăng
sự kiểm soát của người bên ngoài đối với hoạt
động kinh doanh của DN như trong trường hợp
phát hành cổ phiếu. Mặc dù, có nhiều thuận lợi
như vậy nhưng lãi suất trung- dài hạn của NH là
chi phí khá cao đối với DN. Nó buộc các DN phải
nghĩ đến hiệu quả đầu tư, doanh thu đạt được
không chỉ đủ để trả vốn và lãi cho NH mà phải
đem lại lợi tức cho mình. Do vậy, lãi suất tín dụng
trung- dài hạn của NH là đòn bẩy thúc đẩy DN
khai thác triệt để đồng vốn để kinh doanh có lãi và
thắng lợi trong cạnh tranh.
2 Như vậy, vay vốn trung- dài hạn từ NH là biện
pháp quan trọng để các DN có vốn cho thực hiện
dự án của mình.
1.1.3.3. Đối với hoạt động NH
9
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
9
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
Hoạt động của NH trong cơ chế thị trường là hoạt động trong môi trường
cạnh tranh gay gắt. Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt này
đòi hỏi mỗi NH phải thực sự quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
chính mình. Vì vậy, hoạt động tín dụng được xem là sự cần thiết để mang tính cạnh
tranh của NH. Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường vận động trong
điều kiện nền kinh tế mở với nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại, tiến tới đổi mới toàn bộ nền kinh tế đã cho thấy nhu cầu vốn trung-
dài hạn là cấp thiết và quan trọng. Nguồn vốn này tạo điều kiện cho các DN đổi
mới kỹ thuật, trang bị công nghệ mới, phương pháp sản xuất mới để tạo ra hàng
tới nền kinh tế mà còn tác động tới các DN mà hơn cả là tới NH. Thông qua việc
xem xét hiệu quả của hoạt động cho vay trung- dài hạn sẽ giúp cho NH có thể đánh
giá lại hoạt động cho vay của mình để từ đó có thể đưa ra những giải pháp thông
qua nhằm khắc phục những tồn tại thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho
vay.
Xét trên quan điểm của NH thì hoạt động tín dụng trung- dài hạn được xem là
có hiệu quả khi nó đảm bảo được ba yếu tố:
Khả năng sinh lợi cho NH
Khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn
Khả năng thanh khoảnh từ phía nguồn.
Điều này có nghĩa là các NH khi tiến hành cho vay trung- dài hạn thì khoản
cho vay đó phải đem lại thu nhập cho NH, đảm bảo trang trải được chi phí trả cho
lãi suất huy động hoặc đi vay, chi phí NH và rủi ro của NH. Song không phải các
NH cứ cho vay nhiều, mang lại nhiều lợi nhuận là có hiệu quả cao bởi vì nếu cho
vay ra mà không thu hồi được vốn cho vay hoặc cho vay không cân xứng với
nguồn huy động được thì sớm hay muộn NH cũng dễ rơi vào tình trạng thua lỗ, đổ
bể. Chính vì vậy, yếu tố hiệu quả trong kinh doanh là yếu tố quan trọng và cần thiết
đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của NH.
11
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
11
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng trung- dài hạn
1.2.2.1. Quy mô cho vay trung- dài hạn
Quy mô cho vay trung- dài hạn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau:
1 Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá một cách khái quát và có
hệ thống đối với những khoản vay tại một thời điểm. Khi xác định doanh số cho
vay, chưa có sự đánh giá cụ thể về chất lượng và phần ròng của những khoản vay
trong một thời kỳ nhất định. Nhưng đây là chỉ tiêu cho biết khả năng luân chuyển
sử dụng vốn của một NH. Quy mô đầu tư và cấp vốn tín dụng của NH đó với nền
Tổng dư nợ cho vay lớn phản ánh quy mô tín dụng của Ngân hàng lớn, khối lượng
cho vay của Ngân hàng lớn. Thông qua chỉ tiêu này cũng đánh giá được khả năng
huy động vốn của Ngân hàng. Ngân hàng có tổng dư nợ cho vay cao chứng tỏ khả
năng huy động vốn để thực hiện nghiệp vụ cho vay tốt.
Dư nợ cho vay trung và dài hạn phản ánh lượng vốn khác hàng đang còn nợ
Ngân hàng trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại một thời điểm. Dư nợ cho
vay trung và dài hạn phản ánh quy mô cho vay trung và dài hạn tại một thời điểm .
Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn cho biết dư nợ trung và dài hạn
chiếm bao nhiêu % trong tổng dư nợ.
Từ chỉ tiêu này, Ngân hàng thể hiện chính sách tín dụng của Ngân hàng là
thu hẹp tín dụng trung và dài hạn hay mở rộng quy mô tín dụng trung và dài hạn.
Tỷ trọng này cao chúng tỏ hoạt động tín dụng trung và dài hạn là chủ yếu trong
hoạt động tín dụng của Ngân hàng .
Tuy nhiên, tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn chỉ một phần đánh giá
hiệu quả tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng, nhưng chưa phản ánh được bản
chất của chất lượng tín dụng trung và dài hạn. Thông qua chỉ tiêu này, chúng ta
chua thể đánh giá được chất lượng tín dụng trung và dài hạn là tốt hay xấu. Muốn
làm được điều này, chúng ta cần xem xét đến tính an toàn, lành mạnh và khả năng
sinh lời của các khoản tín dụng trụng và dài hạn.
1 Chỉ tiêu sử dụng vốn:
13
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
13
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
2 Huy động vốn x 100%
3 Chỉ tiêu sử dụng vốn =
4 Sử dụng vốn
Doanh số cho vay trung- dài hạn
Hoặc: =
Nguồn vốn trung- dài hạn
Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả tín dụng trung và dài hạn thông qua chỉ tiêu lợi
nhuận, chúng ta cần xem xét dưới giác độ của 2 chủ thể trong quan hệ tín dụng. Đó
là Ngân hàng là chủ thể cho vay và doanh nghiệp là chủ thể đi vay.
Chỉ tiêu lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tín
dụng trung và dài hạn của Ngân hàng. Song chúng ta không thể sử dụng một mình
chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng mà phải
là sự kết hợp của tất cả các chỉ tiêu.
Tỷ lệ nợ quá hạn: Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, các Ngân hàng
luôn quan tâm tới khả năng trả nợ đúng hạn của khách hàng hay chính là khả năng
thu hồi vốn và có lãi từ các khoản cho vay của Ngân hàng. Ngân hàng cố gắng
phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất giảm thiếu rủi ro
ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan,
do khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổibởi nhiều nguyên
nhân.
Để đánh giá về tính an toàn và khả năng thu hồi vốn của hoạt động tín dụng
đặc biệt với hoạt động tín dụng trung dài hạn, các Ngân hàng thường sử dụng tỷ lệ
nợ quá hạn. Tỷ lệ này được xác định bằng công thức:
Dư nợ quá hạn trung- dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ cho vay trung- dài hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn cho biết cho biết tổng dư nợ trung và dài hạn có bao
nhiêu phần % là nợ quá hạn.
15
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
15
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, “ nợ quá hạn là một khoản nợ mà
một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn”. Một khoản vay không được trả
đẩy đủ đúng hạn như đã thoả thuận mà không có lý do chính đáng thì nó trở thành
nợ quá hạn.
Hiệu quá tín dụng trung và dài hạn luôn được các Ngân hàng chú trọng và
nâng cao. Muốn làm được điều này, trước hết Ngân hàng cần phân tích các nhân tố
ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng trung và dài hạn.
Vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này cho ngân hàng thu được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án
mới, Vòng quay của vốn cang tăng lên tức là ngân hàng cũng thu được nhiêu nợ và
càng chứng tỏ rằng nguồn vốn trung và dài hạn mà ngân hàng đầu tư có hiệu quả.
Doanh số thu nợ trong kì
Vòng vốn tín dụng =
_____________________________________________
Dư nợ chovay trung và dài hạn bình quân
Ngoài ra, ở góc độ kinh tế xã hội, chúng ta có thể xem xét một số chỉ tiêu
phản ánh các giá trị gia tăng được tạo ra từ khoản cho vay của ngân hàng, đó là:
- Tổng số việc làm tạo ra từ các đự án có sử dụng trung và dài hạn.
- Tổng giá trị gia tăng được tạo ra từ doanh số cho vay của ngân hàng. Phần
giá trị gia tăng của một dự án có thể do nhiều nguồn vốn khác của dự án tạo ra. Do
đó, rất khó để xác điịnh đâu là phần giá trị gia tăng do khoản cho vay tạo ra, đâu là
phần gia tăng do các nguồn vốn khác tạo ra. Tuy nhiên, có thể ước lượng một cách
tương đối là tính theo % vốn góp vào dự án từ khoản cho vay của ngân hàng.
+ Nhiều tác động khác của khoản cho vay của ngân hàng khó có thể đánh giá
qua các chỉ tiêu định lượng mà chỉ có thể đánh giá qua các chỉ tiêu định tính như
tác dụng cua cho vay trung và dài hạn với việc: đổi mới cơ cấu kinh tế xã hội, nâng
cao trình độ nghề nghiệp, tăng năng suất lao động xã hội.
17
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
17
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng trung dài hạn của
NHTM
Hoạt động tín dụng trung- dài hạn của các NHTM được thực hiện dưới hình
lợi nhuận và nguồn ngân quĩ, quyền sở hữu tài sản và các điều kiện kinh tế khác
liên quan đến người vay.
Thông tin thu thập được về khách hàng phải chính xác nhằm giảm thiểu rủi
ro tín dụng, mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng, hiệu quả tín dụng trung và dài hạn
sẽ được nâng cao.
Nếu thông tin về khách hàng bị sai lệch thì việc phân tích trước khi cấp tín
dụng sẽ không chính xác dẫn đến hiệu quả cho vay giảm, Ngân hàng sẽ đối mặt với
rủi ro tín dụng cao, giảm lợi nhuận, Ngân hàng có khả năng bị mất vốn, chất lượng
tín dụng thấp.
- Chiến lượng kinh doanh của Ngân hàng: Các Ngân hàng đều có chiến lược
kinh doanh dài hạn, đều hướng đến các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển.
Các Ngân hàng đều hướng tới các mục tiêu dài hạn của Ngân hàng. Chính vì vậy,
chiến lược tín dụng cũng hoạt động dựa trên những mục tiêu này.
Một chiến lược kinh doanh hiệu quả, đúng đắn sẽ góp phần nâng cao cao
chất lượng tín dụng nâng cao vị thế của Ngân hàng. Ngược lại, nếu chiến lược kinh
doanh không hợp lý, không, không phù hợp với những điều kiện của môi trường
kinh tế sẽ ảnh hưỏng rất lớn tới hiệu quả hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng
thấp.
-Chinh sách tín dụng của Ngân hàng
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của Ngân hàng, trong đó hoạt
động tín dụng trung và dài hạn đống vài tro rất quan trọng. Hoạt động này phải
được thực hiện theo một chính sách rõ rang và cụ thể. Chính sách này phản ánh
cương lĩnh tài trợ của một Ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín
dụng và các chuyên viên Ngân hàng, tăng cương chuyên môn hoá trong phân tích
19
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
19
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
tín dụng, tạo sự thống nhất chung cho hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và
nâng cao khả năắnginh lời, đó là chính sách tín dụng.
hưởng hiệu quả tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng.
Chính vì vậy, chính sách lãi suất của Ngân hàng cần lĩnh hoạt và đa dạng trong
việc đặt giá trên cơ sở đảm bảo khả năng sinh lời cũng như khả năng cạnh tranh
của Ngân hàng.
+ Thời hạn tín dụng và kì hạn nợ: Thời hạn trả nợ liên quan đến chu kì kinh
doanh của người vay, khả năng thanh toán và rủi ro của Ngân hàng. Từ đó sẽ ảnh
hưởng đến hiệu quả tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng. Một chính sách tín
dụng đúng đắn sẽ giúp Ngân hàng giải quyết mối quan hệ thời hạn của nguồn và
thời hạn tài trợ, làm giảm rủi ro Ngân hàng đồng thời tăng tính thanh khoản của
các khoản tài trợ, góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng trung và dài hạn của Ngân
hàng.
Nếu chính sách thời hạn của Ngân hàng không hợp lý, hoạt động của Ngân
hàng sẽ luôn tiềm ẩn rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng trung và dài hạn. Từ đó, hiệu
quả tín dụng trung và dài hạn sẽ bị suy giảm.
+ Chính sách về bảo đảm tiền vay: chính sách bảo đảm bao gồm các quy
định về trường hợp tài trợ cần bảo đảm bằng tài sản, các loại bảo đảm cho mỗi loại
hình tín dụng, danh mục các bảo đảm được Ngân hàng chấp nhận, tỷ lệ phần trăm
cho vay trên bảo đảm, đánh giá và quản lý bảo đảm.
Chính sách này liên quan đến chi phí quản lý tài sản bảo đảm, ảnh hưởng đến
chi phí của khoản tín dụng làm ảnh hưởng tới an toàn của những khoản tín dụng và
lợi nhuận của Ngân hàng
+ Chính sách đối với các tài khoản có vấn đề: Các tài khoản co vấn đề bao
gồm các khoản nợ xấu và các tài sản có biểu hiện đang ngờ. Chính sách này quy
định về cách thực xác định nợ xấu có thể chấp nhận và mức độ xấu của khoản nợ
trách nhiệm giải quyết, phạm vi thanh lý và khai thác.
- Hiệu quả công tác thẩm định dự án
21
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
21
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
của Ngân hàng, đẩy Ngân hàng đến ngy cơ mất vốn. hiệu quả tín dụng trung và dài
hạn của Ngân hàng thương mại sẽ thấp.
Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng luôn là yêu cầu đặt ra
đối với Ngân hàng.
- Công tác tổ chức Ngân hàng
Việc tổ chức các hoạt động của Ngân hàng theo quy trình khao học, hợp lý
có sự phối hợp giữa các thành viên sẽ làm giảm chi phí của Ngân hàng, đáp ứng
kịp thời nhu cầu của khách hàng. Hoạt động Ngân hàng sẽ thống nhất và đồng bộ.
Đây là cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng trung và dài hạn.
- Trang thiết bị công nghệ Ngân hàng
Những trang thiết bị ngày này ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong
hoạt động của Ngân hàng. Nó giúp giảm khối lượng công việc của các cán bộ tín
dụng, giảm thời gian xét duyệt, thẩm định các dự án, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
khách hàng, nâng cao chất phục vụ khách hàng. Đồng thời giúp cán bộ Ngân hàng
quản lý khách hàng chắc chẽ hơn, kip thời phát hiệu ra những sai sót, giảmchi phí
quản lý Ngân hàng.
Ngân hàng có trang thiết bị hiện đại, đáp ứng những công nghệ phần mềm
hiện đại sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng của Ngân hàng.
- Kiểm soát nội bộ
Đây là hoạt động nhằm hạn chế những sai sót của cán bộ tún dụng nhằm
ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng, nâng cao hiệu quả tín dụng của Ngân
hàng.
Nếu hoạt động này thực hiện lỏng lẻo, những vi phạm trong quy trình nghiệp vụ
không được phát hiện ảnh hưởng tới kết quả hoạt động tín dụng, khả năng xây ra
rủi ro lớn, tới hiẹu quả tín dụng trung và dài hạn sẽ bị ảnh hưởng và suy giảm.
b. Nhân tố thuộc khách hàng
23
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC
23
Chuyên đề tốt nghiệp OU SAVAN
Trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn, rủi ro đạo đức sẽ xảy ra khi
khách hàng sử dụng vốn vay không đúng với cảm kết trong hợp đồng tín dụng.
Việc sử dụng sai mục đích của khách hàng sẽ dẫn đến khả năng thanh toán của
khách hàng do đầu tư vào các khoản mạo hiểm có độ rủi ro cao. Khách hàng sẽ trả
nợ được cho Ngân hàng lợi nhuận Ngân hàng sẽ giảm. Hiệu quả tín dụng trung và
dài hạn của Ngân hàng thấp.
1.2.3.2. Các nhân tố khách quan
Cho dù NH thực hiện tốt các yêu cầu khi cấp và chủ đầu tư có đủ khả
năng cũng như đạo đức để thực hiện dự án thì khoản cho vay cũng vẫn có thể có
hiệu quả thấp. Đó là ảnh hưởng của các yếu tố môi trường.
Môi trường kinh tế- xã hội:
Môi trường kinh tế xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về kinh tế và xã hội
tác động lên hoạt động của DN.
Môi trường kinh tế phát triển rất có thể tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
tín dụng trung- dài hạn. Một khi thị trường đã quen với các khoản tín dụng, các chế
độ báo cáo và hạch toán tài chính được sử dụng phổ biến, thì hiệu quả các khoản
tín dụng được nâng lên.
Chu kỳ kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tín dụng. Trong thời
kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất bị đình trệ, do đó hoạt động tín dụng sẽ gặp khó khăn
về mọi mặt. Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất thực sẽ giảm xuống và nếu như
NH không có cân đối giữa các loại nguồn và sử dụng nguồn nhạy cảm với lãi suất
thì có thể khoản cho vay không đem lại hiệu quả mong đợi... Cũng có thể có những
biến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất ngờ,
dẫn đến thu không đủ, làm giảm khả năng trả nợ cho NH. Một DN hoạt động trong
môi trường kinh tế thì phải chịu tác động của các biến đổi trong môi trường này.
Vấn đề là công tác dự báo tình hình và khả năng ứng phó với các tình huống xảy ra
của DN cũng như của NH để đảm bảo hiệu quả của các khoản tín dụng.
Môi trường pháp lý:
25
Lớp: Ngân hàng 46A Khoa: NHTC