Một số giải pháp tăng cường hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân Hàng Công Thương Đống Đa - Pdf 11

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng hoà nhịp với xu thế chung của thế giới cũng như chuyển biến tích cực
của đất nước , hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua đã có những
bước khởi sắc đáng kể , hệ thống ngân hàng được kết cấu lại đáp ứng yêu cầu
của nền kinh tế thị trường , hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương
mại Việt Nam không ngừng đổi mới và ngày càng hoàn thiện theo hướng
ngân hàng đa năng , hiện đại hoá từng bước hội nhập vào cộng đồng tài chính
khu vực và thế giới .
Bên cạnh các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống , các ngân hàng thương
mại Việt Nam đã triển khai nhiều nghiệp vụ mới trong đó không thể không kể
tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ . Đây được xem là một trong những mảng
hoạt động kinh doanh lớn nhất của mô hình hiện đại . Với vai trò như chiếc
cầu nối giữa kinh tế nội địa với kinh tế thế giới , thị trường hối đoái Việt Nam
tuy còn rất non trẻ và rất sơ khai về trình độ , qui mô hoạt động cũng như kỹ
năng thực hiện nghiệp vụ kinh doanh nhưng đã tạo ra môi trường kinh doanh
ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại đồng thời cung cấp những công cụ
hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro hối đoái cho các công ty xuất nhập khẩu và
những nhà đầu tư quốc tế .
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ thực chất là việc mua bán một loại hàng hoá
đặc biệt (đồng tiền của các quốc gia khác nhau ) , hoạt động này không chỉ
nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán mà còn mang lại lợi nhuân rất lớn cho nhà
đầu cơ kinh doanh nó . Tuy vậy gắn liền với lợi nhuận nhiều luôn là rủi ro ;
việc mua bán ngoại tệ chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều nhân tố như tình hình
kinh tế , chính trị tỷ giá hối đoái , lãi suất ...
Do vậy vấn đề đặt ra cho các ngân hàng , các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu và những bên liên quan khác là phải nắm vững bản chất , đặc điểm
của những xu hướng phát triển của kinh doanh ngoại tệ , của thị trường hối
1
1
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

2
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Hường và TS . Tạ Lợi đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành đề tài , em cũng
xin gởi lời cảm ơn đến các cô chú , các anh chị ở chi nhánh Ngân Hàng Công
Thương Đống Đa đã giúp đỡ em rất nhiệt tình trong thời gian thực tập .
Cuối cùng , em mong nhận được những ý kiến phê bình , góp ý quí báu
của các thầy cô giáo , các cán bộ ngân hàng đã giúp em nâng cao trình độ hiểu
biết về lí luận cũng như thực tiễn .

CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ
1/ KHÁI NIỆM VÀ THỰC CHẤT CỦA KINH DOANH NGOẠI TỆ
Khái niệm : Kinh doanh ngoại tệ là việc mua bán ngoại tệ đảm bảo số dư tài
khoản ngoại tệ, tìm cách thu lời thông qua tỷ giá giữa các đồng tiền khác nhau
Như vậy kinh doanh ngoại tệ cũng giống như kinh doanh hàng hoá, nhưng ở
đây là hàng hoá đặc biệt đó là ngoại tệ, tiền của nước ngoài. Vì tiền tệ là một
loại hàng hoá đặc biệt nên nó có những đặc trưng riêng có của nó. Hoạt động
kinh doanh luôn nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ phần chênh lệch giữa
giá mua và bán hàng hoá nhưng lợi nhuận trong kinh doanh ngoại tệ không
thuần tuý là chênh lệch giữa giá mua và bán ngoại tệ . điều này chỉ đúng khi
số dư nguồn huy động nguồn ngoại tệ luôn được đảm bảo bằng nguyên tệ từ
3
3
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
đầu cho đến cuối kỳ báo cáo . Trong thực tế nguồn vốn và sử dụng vốn ngoại
tệ luôn có sự chênh lệch .
Trường hợp nguồn ngoại tệ huy động chuyển hoá thành nội tệ để kinh
doanh , khi đó trạng thái ngoại tệ (trạng thái ngoại tệ là sự thay đổi lượng tiền
của đồng nội tệ lúc mua ngoại tệ và đến lúc bán ngoại tệ này) trở nên âm, nếu
có biến động tỷ giá tăng. Ngược lại nếu nội tệ được chuyển hoá thành ngoại tệ

ngân hàng kinh doanh sẽ có lợi nếu ngân hàng đang ở trạng thái dư ngoại
tệ và ngược lại. Trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ tỷ giá luôn luôn biến
đổi nên ngân hàng luôn gặp phải rủi ro do tỷ giá biến động
+ Rủi ro về lãi suất : Lãi suất tăng của một đồng tiền sẽ tác động đến tỷ giá
hối đoái vì vậy so với rủi ro về tỷ giá thì rủi ro về lãi suất ít có ý nghĩa hơn
nhưng với khối lượng kinh doanh lớn thì cũng tạo ra những thiệt hại đáng
quan tâm
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động phức tạp để thành
công trong kinh doanh ngoại tệ đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin
hoàn hảo đây là đặc trưng của nền kinh tế thị trường hiện đại vì vậy để
thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ cần phải có đủ cơ sở vật chất
và các thiết bị hiện đại.
- Nhà kinh doanh ngoại tệ đòi hỏi phải có chuyên môn nhất định về
nhiều lĩnh vực , phải có những kỹ năng nhất định , phải có trình độ
quản lý vì kinh doanh ngoại tệ là hoạt động có mức độ rủi ro cao ,
không những thế nhà kinh doanh cũng phải có trí tuệ cao cùng với
những nỗ lực thường xuyên để xác định những gì sẽ xảy ra trên thị
trường và tỷ giá sẽ biến động đến mức nào .
- Những nhà kinh doanh ngoại tệ cần có trạng thái tâm lí trí tuệ tốt và tự
tin rằng họ có thể kiếm được lợi nhuận thông qua giao dịch trong mọi
tình huống diễn biến cua thị trường tác động đến hoạt động kinh doanh
ngoại tệ là luôn luôn đúng do đó nhà kinh doanh phải là người thực tế
và có sự hiểu biết nhất định để thừa nhận những sai sót của mình , phải
sẵn sàng giảm các trạng thái ngoại hối đang thua lỗ trước khi khoản lỗ
trở nên trầm trọng .
2.2 Các hình thức kinh doanh ngoại tệ
5
5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Thực tế cho thấy, bất kỳ loại hình kinh doanh nào mang lại lợi nhuận lớn

6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
được thực hiện bằng bàn phím với những ký tự điện tử và thông tin sẽ xuất
hiện trên màn hình, đồng thời một máy in được nối mạng với hệ thống sẽ in
lại thành biên bản thông tin được chuyển đi. Hệ thống này có ưu điểm so với
hình thức điện thoại là việc ghi nhận các thoả thuận bằng văn bản, khắc phục
các lỗi nhầm thường gặp trong giao dịch điện thoại như nghe nhầm, viết
nhầm, vì thế hệ thống “ Money dealing” được sử dụng rộng rãi.
Tỷ giá giao ngay (SPORT-RATE) được niêm yết trên các báo kinh tế
hàng ngày ở các quốc gia. Thực tế hiện nay, tỷ giá của hầu hết các loại ngoại
tệ được trao đổi đều được tính toán so với USD mà không được tính toán trực
tiếp với nhau nữa. Đồng USD được sử dụng như một loại ngoại tệ trung
chuyển ( transport), đồng thời tỷ giá giữa hai đồng tiền không thông dụng,
Điều kiện thực hiện hình thức kinh doanh hối đoái giao ngay là:
+ Trước hết, phải có nhu cầu của khách hàng, thông thường hình thức
giao ngay phát sinh khi có nhu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện
hình thức này để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
+ Hình thức kinh doanh giao ngay còn được thực hiện trong hoạt động
đầu cơ của ngân hàng, dự toán tỷ giá của một đồng tiền trong thời gian tới,
ngân hàng sẽ mua đồng tiền đó theo hợp đồng giao ngay với ngân hàng khác.
Khi tỷ giá thay đổi theo đúng dự toán, ngân hàng có thể bán trao ngay số tiền
đầu cơ đó và thu chênh lệch. Ngoài ra, hình thức trao ngay được sử dụng kết
hợp với các hình thức khác trong các đầu cơ chênh lệch lãi suất.
1.2.2 Hình thức kinh doanh ngoại tệ chênh lệch tỷ giá( ARBITRAGE)
Hình thức kinh doanh ARBITRAGE là hình thức kinh doanh của bản thân
ngân hàng, theo ý nghĩa nguyên thuỷ cuả nó, hình thức này là việc lợi dụng sự
chênh lệch về tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lời thông
qua hoạt động mua và bán. Do đó, nó có tên gọi là kinh doanh chênh lệch tỷ
giá. Đó là việc tiến hành mua bán ngoại tệ đồng thời trên các thị trường hối
đoái theo nguyên tắc mua ở nơi rẻ và bán ở nơi đắt. Nghĩa là mua với tỷ giá

* Điều kiện để thực hiện hình thức kinh doanh ARBITRAGE là :
Trước hết, Ngân hàng phải là thành viên của hện thống thông tin điện tử,
ở đó Ngân hàng có thể thường xuyên theo dõi biến động tỷ giá các thị trường
khác nhau trên thế giới, đồng thời có thể đưa ra tỷ giá chào mua, chào bán của
mình.
Thứ hai, cán bộ kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng cần có trình độ, phản
ứng linh hoạt với thị trường. Người kinh doanh ngoại tệ phải biết thông tin
8
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
kinh tế chính trị, xã hội phải dự đoán được phản ứng của thi trường trước
những thông tin đó, đưa ra được mức tỷ giá thực tế luôn biến động ( ví dụ :
Khi nhận được thông báo thu từ nước ngoài vào Pháp giảm nhẹ trong tháng
qua, dự đoán xuất khẩu giảm sẽ dẫn tới giảm cung USD trong tương lai, lập
tức cán bộ ngân hàng Pháp ấn định tỷ giá của mình tăng cao một chút để tránh
những thiệt hại xẩy ra. Một ngân hàng Đức có 3 triệu USD chưa cân đối được
sau một hợp đồng bán FRF với khách hàng, nhận thấy cố thể thu lợi từ tỷ giá
chào mua vừa tăng của ngân hàng Pháp, lập tức bán 3 triệu USD này cho
ngân hàng Pháp.
Như vậy, các ngân hàng liên tục thay đổi tỷ giá, liên tục giao dịch ngoại tệ
trong ngày nhằm tránh rủi ro trước những biến động tỷ giá và thu lơị nhuận
ARBITRGE. Lợi nhuận này có thể thấp hơn lợi nhuận tính theo khoảng cách
giữa tỷ giá mua vào và bán ra của ngân hàng.
1.2.3. Hình thức kinh doanh ngoại tệ theo hợp đồng kỳ hạn (FORWARD):
Hình thức kinh doanh ngoại tệ theo hợp đồng kỳ hạn được thực hiện bằng
hợp đồng mua bán bằng ngoại tệ kỳ hạn, trong đó việc hoàn tất hình thức này
được thực hiện vào một thời điểm nhất định sau đó, với tỷ giá nhất định đã
được quy định trong hợp đồng tại thời điểm ký kết.
Khác với hình thức mua bán theo hợp đồng giao ngay là kinh doanh
chênh lệch giá kiếm lời, hình thức mua bán theo hợp đồng kỳ hạn chủ yếu là

+ Các quy định của pháp luật phải cho phép, tạo điều kiện cho các ngân
hàng qua các quy định về xác định tỷ giá kỳ hạn, phí hợp đồng...
+ Khách hàng biết đến hình thức này của ngân hàng và có yêu cầu thực
hiện nó nhằm tránh những biến động tỷ giá ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động
kinh doanh của khách hàng.
+ Khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Nếu ngân
hàng chỉ thực hiện một hình thức kỳ hạn đơn lẻ, ngân hàng có thể phải gánh
chịu một rủi ro hối đoái thay cho khách hàng của mình. Vậy khả năng, mối
quan hệ của ngân hàng với khách hàng khác, với các ngân hàng bạn trong
nước và thế giới là yếu tố quan trọng để ngân hàng thực hiện được các hình
thức đối ứng, loại trừ rủi ro trên. Hơn nữa, ngân hàng còn có khả năng đưa ra
mức tỷ giá kỳ hạn hấp dẫn với khách hàng hơn các ngân hàng khác.
10
10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
1.2.4.Hình thức kinh doanh ngoại tệ theo hợp đồng tương lai
Đây là một hình thức hối đoái mới, đưa vào các giao dịch ngoại tệ từ đầu
những năm 80. Hình thức này cũng được thực hiện gần giống với hợp đồng
kỳ hạn,trong đó quy định tránh nhiệm mua hoặc bán một khối lượng ngoại tệ
nhất định vào thời điểm ấn định và theo tỷ giá thoả thuận từ trước. Điểm khác
biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng tương lai được
tiêu chuẩn hoá, cụ thể như sau:
* Số đồng tiền giao dịch chỉ giới hạn ở một số ít đồng tiền cò lưu lượng
giao dịch lớn.
* Quy mô của từng giao dịch : Được quy định là bội chuẩn theo từng
loại đồng tiền giao dịch.
* Thời điểm tất toán : Được quy định là một số thời điểm nhất định
trong năm, bất kể hợp đồng được ký kết vào các thời gian khác nhau.
*Phương thức đánh dấu thị trường : Các loại động trên thị trường hối
đoái tương lai không tất toán trực tiếp giữa người bán và người mua.Việc ký

đồng kỳ hạn đối với một số đối tượng sau :
+ Một doanh nghiệp lớn vừa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Doanh
nghiệp này vừa nhận được khoản thu ngoại tệ về xuất khẩu, anh ta muốn đổi
nội tệ để sử dụng chi trả trong nước. Tuy nhiên, anh ta lại có nhu cầu ngoại tệ
trong tháng tới để trả tiền hàng nhập khẩu. Thay vì ký kết hợp đồng bán ngoại
tệ giao ngay và hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn, doanh nhiệp này sẽ sử dụng
SWAP. Như vậy doanh nghiệp vừa đảm bảo tránh được rủi ro hối đoái vừa
giảm được chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ ký kết SWAP, chứ
không phải hai hợp đồng riêng biệt.
+ Đối với Ngân Hàng Thương Mại, SWAP là công cụ hữu hiệu tạo ra
trạng thái vốn của hai đồng tiền mà không làm ảnh hưởng tới trạng thái ngoại
hối . Vì vậy, giao dịch này trong thực tế thường được các ngân hàng thực hiện
với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng một đồng tiền nhất định mà không
phải đi vay trên thị trường. Hình thức SWAP còn giúp các ngân hàng cân
bằng được sự mất cân đối về hối đoái trong các hình thức tiền gửi và tiền vay.
1.2. 6. Hình thức kinh doanh ngoại tệ theo quyền chọn
Hình thức hối đoái theo quyền chọn là một sự thoả thuận bằng hợp đồng
giữa người mua và người bán về quyền chọn mua (call-option) hoặc quyền
12
12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
chọn bán (put-option), một loại ngoại tệ nhất định, với số lượng cụ thể theo tỷ
giá cố định và vào thời điểm cụ thể.
Trong hợp đồng này, người mua quyền lựa chọn phải trả cho người bán
một khoản tiền đảm bảo. Thông qua đó, người mua dành được quyền mua
hoặc bán một loại ngoại tệ nào đó. Mặt khác, anh ta có thể từ chối bỏ quyền
lựa chọn của mình khi thấy bất lợi. Rủi ro của người mua quyền lựa chọn chỉ
giới hạn ở số tiền phải trả cho quyền đó . Ngược lại, người bán quyền chọn
thu được một khoản tiền từ việc bán quyền nhưng trở thành đối tác thụ động,
chịu rủi ro không hạn mức khi tỷ giá biến động không thuận lợi với anh ta.

Thông thường, các ngân hàng là người bán các hợp đồng quyền lựa chọn
cho khách hàng XNK của mình. Vì phải ngánh chịu rủi ro nên việc xác định
mức tiền đảm bảo cho hợp đồng lựa chọn rất quan trọng.
3 . SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI
TỆ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Để thấy được sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ngoại
tệ ở các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam hiện nay ta đánh giá vai trò
hoạt động kinh doanh ngoại tệ đối với bản thân ngân hàng với bản thân
ngân hàng và đối với nền kinh tế như thế nào .
Ngày nay việc trao đổi hàng hoá ngày càng mở rộng vượt ra khỏi biên giới
của một quốc gia làm nảy sinh việc thanh toán giữa quốc gia này với quốc
gia khác , giữa doanh nghiệp quốc gia này với doanh nghiệp quốc gia khác
trong quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế . Thanh toán quốc tế thường
gắn với việc trao đổi đồng tiền nước này với đồng tiền nước khác .
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho thanh toán quốc tế, đầu tư vốn bằng
nhiều loại tiền khác nhau, các Ngân Hàng Thương Mại đã tiến một bước
dài vượt ra khỏi những kinh doanh truyền thống để thực hiện các hoạt
động nhận gửi , cho vay và mua bán ngoại tệ trên thị trường hối đoái .
Khi đó hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói riêng càng thể hiện vai trò quan
trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn cả đối với nền kinh tế
3.1 Đối với bản thân ngân hàng
- Đối với một Ngân Hàng Thương Mại , hoạt động kinh doanh ngoại tệ
đảm bảo chắc chắn việc thực hiện thanh toán cho khách hàng của ngân
hàng giữa các nước thực hiện trôi chảy , thoả mãn nhu cầu tối đa ngày
càng cao của khách hàng , tăng qui mô của ngân hàng thông qua việc thúc
14
14
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
đẩy mạnh hoạt động tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu , thu hút thêm được
nhiều khách hàng đến với ngân hàng

nghiệp nhập khẩu máy móc , thiết bị phuc vụ nhu cầu sản xuất trong nước
và xuất khẩu hàng hoá mở rộng thị trường . Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu
ngoại tệ cho doanh nghiệp cả trong lúc thị trường sẵn ngoại tệ cũng như thị
trường khan hiếm ngoại tệ để doanh nghiệp có thể thanh toán đúng hạn với
đối tác của mình .
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ vì thế đã tạo điều kiện thuận lợi cho
thương mại quốc tế phát triển . Đặc biệt đối với một nước đang trên đường
hội nhập quốc tế như Việt Nam, hoạt động kinh doanh ngoại tệ góp phần
góp phần thúc đẩy , mở rộng mối quan hệ kinh tế nội địa với kinh tế thế
giới bên ngoài , dần khẳng đinh và nâng cao vị thế quốc gia trên trường
quốc tế .
Với vai trò quan trọng như vậy việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ngoại
tệ ở các Ngân Hàng Thương Mại nước ta hiện nay là rất cần thiết .
4/ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH NGOẠI TỆ Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
4.1 Những nhân tố nội tại trong bản thân ngân hàng
Đây là yếu tố thuộc về chủ quan nên mỗi ngân hàng đều có khả năng
kiểm soát được nó , là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh
doanh . Sau đây là các yếu tố tác động đến hoath động kinh doanh ngoại tệ
của ngân hàng
Khách hàng của ngân hàng :
Ngân hàng kinh doanh ngoại tệ trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu của
khách hàng . Ngân hàng càng thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng bao
nhiêu thì càng thu hút nhiều hơn khách hàng đến với mình , mạng lưới
khách hàng càng mở rộng . Điều này lại tác động trở lại đối với hoạt động
kinh doanh của ngân hàng chẳng hạn như ngân hàng nào càng có nhiều
khách hàng có nhu cầu thanh toán và đầu tư quốc tế thì càng có điều kiện
để phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ . Chính do hoạt động trung
gian với khách hàng mà ngân hàng tham gia mua bán ngoại tệ trên thị
16

Các ngân hàng thận trọng thường giới hạn hoạt động của mình trong các
hoạt động trung gian với khách hàng và các hoạt động bảo hiểm về rủi ro
17
17
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tất thảy các yếu tố này đều tác động đến hoạt động kinh doanh nói chung
và hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói riêng của ngân hàng . Điều này giải
thích tại sao trong cùng một môi trường kinh doanh , cùng chịu một chế độ
quản lí mà có ngân hàng hoạt động tốt và hoạt động chưa tốt , vị thế cạnh
tranh của mỗi ngân hàng khác nhau .
4.2 Các yếu tố bên ngoài ngân hàng
4.2.1 Tỷ giá hối đoái và lãi suất
Tỷ giá hối đoái và lãi suất là hai biến số rất quan trọng trong việc mua
bán ngoại tệ . Một khi có sự biến động sảy ra thì các ngân hàng buộc phải
điều chỉnh các quyết định kinh doanh của mình .
Tuy nhiên tỷ giá hối đoái và lãi suất chịu tác động của nhiều nhân tố
như: sức mua của đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát của các nước liên quan,
chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền, các nhân tố tác động đến cung cầu
hàng hoá, yếu tố tâm lí của công chúng, vị thế của các nước liên quan trên
trường quốc tế, tình hình kinh tế thế giới, chính sách tỷ giá hối đoái của
quốc gia .
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ gắn liền với sự biến động của tỷ giá trên
thị trường . Các thành viên trên thị trường luôn theo dõi diễn biến của tỷ
giá để ra quyết định mua hay bán một loại ngoại tệ nào đó . Dự báo tỷ giá
quan trọng đối với ngân hàng. Dự báo dài hạn và trung hạn là cơ sở cho
chính sách và chiến lược. Dự báo ngắn hạn là cơ sở cho các quyết định về
hình thức .
Trên thị trường nếu tỷ giá biến động mạnh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Nhưng ngược lại nếu tỷ giá cố định các
hình thức kinh doanh ngoại tệ cũng không thể phát triển phong phú được .

ngoại hối từ nước ngoài vào trong nước và ngược lại , đồng thời chính
sách quản lí ngoại hối cũng kiểm soát việc lưu thông và sử dụng ngoại hối
trong phạm vi quốc gia tuỳ theo đặc điểm mục tiêu phát triển của nền kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia mà quốc gia đó quản lí kinh doanh ngoại hối
theo các loại hình :
19
19
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Chính sách nhà nước độc quyền quản lí ngoại thương ngoại hối , với
chính sách này toàn bộ quan hệ kinh tế đối ngoại do nhà nước độc
quyền nắm giữ . Việc xuất nhập khẩu hàng hoá hay vay mượn nước
ngoài đều tập trung trong tay nhà nước và được thống nhất quản lí .
Việc chuyển đổi ngoại tệ ra nội tệ do xuất khẩu hàng hoá đều thực hiện
qua tỷ giá do nhà nước ấn định mang tính chất áp đặt chủ quan. Trong
xã hội nghiêm cấm mua bán kinh doanh tàng trữ ngoại hối .
- Chính sách thắt chặt quản lí ngoại thương ngoại hối : Đặc trưng cơ bản
của chính sách này là nhà nước không nắm giữ độc quyền trong kinh tế
đối ngoại song nhà nước quản lí gắt gao đối với toàn bộ việc xuất nhập
khẩu hàng hoá cũng như xuất nhập khẩu tư bản , thực hiện việc xây
dựng hàng rào thuế quan, quản lí chặt chẽ các luồng vận động của
ngoại hối .
Trong cơ chế này toàn bộ ngoại hối bất kì tổ chức hay cá nhân có được từ
bất kể nguồn nào đều phải bán cho nhà nước thông qua hệ thống ngân
hàng . Các tổ chức cá nhân được phép mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng
phải chịu sự quản lí , kiểm soát của ngân hàng . Khi cần ngoại tệ để nhập
hàng hoá hay thanh toán cho nước ngoài phải được sự đồng ý của cơ quan
có thẩm quyền . Nếu cần chỉ tiêu trong lãnh thổ cần rút nội tệ ra .
- Chính sách nới lỏng quản lí ngoại thương ngoại hối : Chính sách này
không quản lí chặt chẽ việc đầu tư tư bản cũng như quan hệ thương mại
xuất nhập khẩu hàng hoá , đồng thời cho phép mở rộng các mặt hàng

Việc áp dụng chế độ quản lí ngoại hối chặt chẽ đến mức nào phụ thuộc vào
diều kiện từng nước . Một chính sách quản lí ngoại hối đúng đắn phù hợp
sẽ có tác động kinh doanh đối ngoại , dẫn đến sự phát triển kinh doanh
ngoại tệ . Trái lại chính sách quản lí ngoại hối cứng nhắc , không hợp lí sẽ
gây nhièu trở ngại , kìm hãm hoạt động kinh doanh ngoại tệ , cản trở sự
phát triển của thị trường hối đoái
4.2.4 Tình hình chính trị kinh tế xã hội
Một đất nước có tình hình chính trị kinh tế xã hội ổn định vững mạnh
tạo được lòng tin với các nhà đầu tư trong và ngoài nước , là nhân tố thuận
lợi thúc đẩy phát triển kinh tế cùng các hoat động tài chính tiền tệ .
21
21
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Trên cơ sở đó , đồng bản tệ của quốc gia này có giá trị và ổn định trên thị
trường , giành được một tỷ giá hối đoái thuận lợi trao đổi kinh doanh ngoại
tệ với nước ngoài .
Trái lại một đất nước có tình hình xã hội rối ren , có nhiều mâu thuẫn xung
đột , nội chiến về đảng phái sắc tộc ... Sẽ tác động tích cực đến hoạt động
kinh tế sản suất , thương mại quốc tế...
Một quốc gia có hoạt động ngoại thương phát triển dẫn đến hoạt động
thanh toán phát triển thì hoạt động kinh doanh ngoại tệ sẽ thuận lợi và
ngày càng mở rộng vì buôn bán với nước ngoài là bộ phận lớn tuyệt đối
trong bộ phận cung và cầu ngoại tệ .
Ngoài ra đầu tư nước ngoài vào trong nước hay đầu tư trong nước ra nước
ngoài cũng là những loại hình của ngoại thương và chuyển dịch vốn làm
phát sinh nhu cầu hay gia tăng ngoại tệ .
Thực tế cho thấy , các nước có nền kinh tế phát triển thì hoạt động kinh
doanh ngoại tệ cũng phát triển . Sự phát triển này ban đầu nhằm đáp ứng
các nhu cầu thương mại quốc tế đến trình độ nào đó các ngân hàng kinh
doanh cho chính mình để kiếm lơì và bảo hiểm rủi ro . Còn ở các nước

dịch vụ ngày càng nhiều , các ngân hàng đã thực hiện thêm nghiệp vụ
trung gian thanh toán . hoạt động Ngân Hàng Thương Mại đã phát triển vô
cùng nhanh chóng theo sự bành chướng của thương mại quốc tế .
Như vậy giống như mọi thiết chế vật chất tinh thần khác , để có được vị trí
như ngày hôm nay , hệ thống ngân hàng và hoạt động của nó đã đi từ
những bước hình thành cực kỳ thô sơ và không cái gì khác hơn , chính nhu
cầu cần phát triển của loài người và nền kinh tế là tác nhân thúc đẩy hoạt
động các ngân hàng không ngừng được cải thiện , nâng cao cả về thực
hành lẫn lí thuyết để có được như ngày hôm nay .
23
23
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân Hàng Thương Mại

1.2.1 Huy động vốn
Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội là lẽ sống quan
trọng bậc nhất của Ngân Hàng Thương Mại . Đây là nghiệp nghiệp vụ
chủ yếu nhất để duy trì sự ổn định và phát triển của Ngân Hàng Thương
Mại .khác với các tổ chức hoạt động kinh doanh khác hoạt động chủ
yếu bằng vốn tự có , nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại chủ yếu là
tiền gửi . Nguồn tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản nợ của
ngân hàng , nguồn này được huy động bằng cả ngoại tệ và nội tệ .
Ngoài ra ngân hàng còn có thể huy động thêm vốn bằng việc phát hành
chứng chỉ tiền gửi , trái phiếu và các giấy tờ có giá hoặc có thể vay vốn
từ các khoản dự trữ ngắn hạn của các ngân hàng khác , các tổ chức tài
chính trên thị trường tiền tệ và của ngân hàng nhà nước .
Như vậy việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư , của các tổ chức
đơn vị kinh tế qua hình thức tiền gửi là công tác cơ bản đầu tiên trong
hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại và là hoạt động đặc trưng trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng .

toán một cách có hiệu quả nhờ hệ thống máy móc điện tử và các thiết
bị liên lạc hiện đại
2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHCT ĐỐNG ĐA VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM
KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ
2.1Sự ra đời và phát triển của Ngân Hàng CôngThương( NHCT)Đống Đa
Thực hiện nghị định số 53/HĐBT ngày 16/3/1988 của Hội đồng Bộ
trưởng, hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp sang hai cấp trong
đó phân định rõ chức năng quản lý nhà nước của ngân hàng nhà nước và
chức năng kinh doanh của hệ thống NHTM. Trong bối cảnh lịch sử đó, cùng
với sự ra đời của NHCT Việt Nam ngày 1/7/1988 ,chi nhánh NHCT Đống Đa
được thành lập.
Là chi nhánh trực thuộc của NHCT Nà Nội từ năm 1988 đến 1990 là
thời kỳ chuyển đổi khó khăn của hệ thống ngân hàng nói chung và NHCT
25
25

Trích đoạn Chức năng và nhiệm vụ của NHCT Đống Đa Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ Kết quả hoạt động có liên quan chủ yếu đến kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa qua những năm qua
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status