TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
ĐẠI
HÓC NGOẠI
THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT
NGHIỆP
<2£tàù
NHỮNG
THUẬN
LỢI VÀ KHÓ
KHẢN
KHI THÂM
NHẬP
THỊ
TRƯỜNG
HOA KỲ CỦA
CÁC
DOANH
NGHIỆP
XUẤT
KHẨU
HÀNG
DỆT MAY
VIỆT
NAM
Giáo viên hướng dẫn
2005
MỤC
LỤC
Chương Ị. TONG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT
KHẨU
HÀNG
DỆT MAY
VIỆT
NAM Ì
ì-
Lịch sử phát
triển
ngành
dệt
may
Việt
Nam Ì
Ì-
Giai
đoạn trước năm 1986
(giai
đoạn hình thành
của
ngành
dệt
may
Việt
Nam)
2
2-
li.
Thực
trạng
vấn đề sỰn
xuất
và
xuất
khẩu hàng
dệt
may
nước
ta
10
Ì- Thực
trạng
vấn
đề
sản
xuất
hàng
đét
may
10
2-
Tinh
hình
xuất
khẩu
hàng
dệt
Hoa
Kỳ 30
2-
Đc
điểm
thị
trường
dệt
may Hoa
Kỳ 31
3-
Vấn đề pháp
luật
tại
thị
trường
Hoa
Kỳ 36
4-
Hệ
thống
phân
phối
hàng
hoa
trên
thị
trường
Hoa
Kỳ 38
Kỳ
trong
thời
gian
qua
40
2-
Tinh
hình
xuất
khẩu
44
Sinh
viên thục hiện:
Mai
Thị Thanh
Hòa
- Lớp
Nga
K40D
-
KTNT
Trường
Đại
học
Ngoại
Thương
Luận vãn
tốt
nghiệp
mang tính khách
quan
56
2-
Khó khăn và
tồn
tại
60
2.1-
Khó khăn mang tính chủ
quan
60
2.2-
Khó khăn mang tính khách
quan
67
Chương HI- GIẢI PHÁP
ĐẨY
MẠNH
XUẤT KHẨU
HÀNG
DỆT MAY
VIỆT
NAM VÀO THể
TRƯỜNG
HOA KỲ 83
ì- Định hướng phát
triển
hàng dệt
may
Kỳ
trong
những
năm
tới
83
2-
Định
hướng
phát
triển
hàng
dệt may
Việt
Nam vào thị
trường
Hoa
Kỳ
84
li-
Giải
pháp đẩy
mạnh
xuất
khẩu hàng dệt
may
Việt
Nam
vào
thị
2-
Kiến
nghị giảm
phí hạn
ngạch
xuất
khẩu
dệt
may
sang
Hoa Kỳ
Ì lũ
Kiến
nghị
đơn
giản
Kết
luận
Tài
liệu
tham
khảo
3- hoa
thủ tục hải
quan
110
4-
Đơn
giản
hoa
quốc
gia trong
khu
vực.
Hơn
nữa, hiện
nay
Việt
Nam đang
trong
giai
đoạn
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại hóa đất
nước.
Việc
tập
trung
đẩu tư phát
triển
ngành công
nghiệp
dệt
may
trong
thời
gian
thủ
trường khó tính như: Hoa Kỳ,
Nhật
Bản, EU,
Canada Trong
số các
thủ
trường
tiềm
năng nói trên chúng
ta phải
kể
tới
Hoa Kỳ
với tiềm
năng
nhập
khẩu
hàng
dệt
may
khổng
lồ
hàng năm.
Hiệp
đủnh thương mại
Việt
Nam - Hoa Kỳ được ký
kết
tháng 7 năm
dệt
may
khổng
lồ
hàng năm, Hoa Kỳ được
coi
là
thủ
trường
tiềm
năng chủ
chốt
của ngành
dệt
may
Việt
Nam
trong
tương
lai.
Để
thực
hiện
được mục tiêu đó,
việc
nghiên
cứu,
tìm
hiểu
những
dệt
may
Việt
Nam của
thủ
trường
này sẽ giúp ngành
dệt
may đề
ra
được
những
giải
pháp
thiết
thực
nhất
nhằm
gia
tăng kim
ngạch
xuất
khẩu
hàng
dệt
may vào
thủ
trường Hoa Kỳ.
Không kể
phần
dệt
may
Việt
Nam
sang
thủ
trường Hoa
Kỳ
-
Thuận
lợi
và khó khăn.
Sinh
viên thực hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
Trường
Đại
học
Ngoại
Thương
Luận vãn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001 -
2005
- Chương
in
-
Giải
pháp đẩy
kiến
đóng
góp,
phê bình
tỡ
phía các
thầy
cô để rút
kinh
nghiệm
trong
các công trình
nghiên cứu
tiếp
theo.
Em
xin
chân thành cảm ơn cô giáo Vũ Thị Hạnh,
người
đã
tận
tình giúp đỡ em hoàn thành bài
luận
văn
này.
Em
xin
chân thành cảm em Khoa
Kinh
tế
ngành dệt may
Việt
Nam
Ngành dệt may là một
trong
những
ngành có
lịch
sử phát
triển
lâu đời ở nước
ta.
Công
nghiệp
dệt
may đã có ở
Việt
Nam
khoảng
Ì
thế
kỷ
nay, tuy
nhiên nó mới
chỉ trở
thành ngành
kinh tế
thực
sự
quan
thức
cùa
ngành Công
Nghiệp
Dệt May
Việt
Nam có
điểm
khởi
đầu từ ngành Công
Nghiệp
Dệt
Nam
Định,
được thành
lập
vào năm
1889.
Xuất
khẩu
hàng
dệt
may đã
trở
thành
một
ngành đặc
biệt
quan
trọng trong
đáng kể
trong
thời
gian
gần
đây.
Ngành
dệt
may đang dần
khẳng
định
vai
trò
quan
trọng
cứa
mình
trong
nền
kinh tế
và bước đầu đang
hội
nhập
vào nền
kinh tế thế
giới.
Để có
được
nhũng
thành công ấy ngành
quan
trọng
cứa
đất
nước
ta.
Lịch
sử ngành
dệt
may
Việt
Nam có
thể chia
làm 3
giai
đoạn
với
đặc thù riêng cứa
từng
giai
đoạn
như
sau:
Sinh
viên thực hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
Trường
Đại học
Ngoại
Thương
Nam đấu
tranh
chống
đế
quốc,
thống
nhất
nước nhà. Tuy
thời
kỳ này ngành
dệt
may
Việt
Nam chưa có
nhiều
bước
tiến
nhảy
vọt,
song
nhờ sự
quan
tâm của
Đảng
và Nhà
nước,
ngành
dệt
may của
ta
hiệu
quả như: Nhà
máy Dệt
8-3,
nhà máy Dệt Vĩnh Phúc
Năm 1975 nước
ta
hoàn toàn
giải
phóng, nhân dân ba
miền
thống
nhất,
cả
nước
cùng
nhau
xây
dựng
và phát
triển
kinh tế
nước nhà. Để
thực
hiện
thành công
công
cuộc
xây
dựng
loạt
nhà máy mới được đầu tư xây
dựng
để
phục
vụ cho mục tiêu phát
triển
kinh tế
như:
Nhà máy
sợi
Vinh,
nhà máy
sợi Huế,
công
ty
may
Việt Tiến,
công
ty
may Nhà Bè
Sau khi
cả nước
bắt tay
vào công
cuộc
xây
dựng
và phát
triển
tổ
chức
quản
lý
chung
cho toàn bộ ngành
dệt
may nước
ta
nói
chung.
Trước tình hình đó Chính Phủ đã
ra
quyết
đẩnh thành
lập
Liên
Hiệp
các xí
nghiệp
dệt
và Liên
hiệp
các xí
nghiệp
may. Trước đây ngành
dệt
may của
ta
trực
hiệp
các
xí
nghiệp dệt
và Liên
hiệp
các xí
nghiệp
may.
Năm 1990 Bộ Công
Nghiệp
Nhẹ sát
nhập
lại
với
Liên
hiệp
các xí
nghiệp
dệt
và Liên
hiệp
các xí
nghiệp
may
lấy
tên là Liên
Hiệp
sản
xuất
tựu đạt được,
ngành
dệt
may vẫn còn gặp
phải
một số
vấn
đề
như:
dưới
cơ
chế
kế
hoạch
hóa
tập
trung
các
doanh
nghiệp
vẫn còn
hoạt
động
trì
trệ,
sản
xuất theo
chỉ
tiêu kế
hoạch
trọng
nâng cao nâng
lực
cạnh
tranh
của hàng hóa hay nói đúng hơn là họ
còn chưa
thực
sự có một áp
lực
nào
trong
việc
sản
xuất
và tiêu
thụ
sản phẩm
khi
tiến
hành
kinh
doanh
theo
chỉ
tiêu trên
giao
xuống
như
trong
hồi của ngành dệt may
Việt
Nam)
Trước năm 1990 chúng ta chỉ
thiết
lập
quan
hệ với các nước xã hội chủ
nghĩa
(XHCN)
vì vậy
phần lớn
sản phẩm
dệt
may của chúng
ta
sản
xuất
ra
đều được tiêu
thụ
trong
nước
hoặc
xuất
khẩu sang
các nước Đông Âu. Tuy nhiên
khi
hệ
thống
hướng
XHCN
đã
khiến
các
doanh
nghiệp dệt
may
Việt
Nam gặp không
ít
khó
khăn.
Với
thói
quen
sản
Sinh
viên thực hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
3
Trường
Đại học
Ngoại
Thương
Luận vãn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001 -
2005
xuất,
vốn,
công
nghệ
và
nguồn
lao
động
với
tay
nghề
cao Trước sự
thay đữi
về cơ
chế,
đường
lối,
chính sách của Đảng và
Nhà
nước,
Chính phủ đã ban hành
nghị
định NĐ 338/NĐ-CP quy định các
doanh
nghiệp
sản
xuất dệt
may không
chịu
sự
mới.
Thay
vì sản
xuất
và
xuất
khẩu
dựa vào chỉ tiêu như trước đây, các
doanh
nghiệp
đã
bắt
đầu
tự
hạch
toán,
kinh
doanh
độc
lập,
tách
rời.
Điều
này đã
tạo
cho
doanh
nghiệp
có tính độc
lập
đặt ra
ở
đây là cần có một sự
quản
lý đồng bộ cho các
nghiệp dệt
may
trong
thời
kỳ này.
Trong
nội
bộ ngành
dệt
may
Việt
Nam lúc này
xuất hiện
tình
trạng
một số
doanh
nghiệp
tiến
hành
kinh
doanh
vì mục đích cá nhân mà
bất
chấp
động như một pháp
nhàn độc
lập
trực
thuộc
Bộ Công
Nghiệp,
có cơ cấu
tữ
chức
hoạt
động
theo
phương
thức
tập
đoàn
kinh
tế.
Giai
đoạn từ năm 1986 đến năm 1987 đánh dấu một bước
ngoặt
trong
nền
kinh
tế
Việt
Nam nhờ sự
ra đời
của
hệ
với
một số nước
(XHCN)
cho nên nền
kinh
tế
của chúng
ta
chưa
thể
có
Sinh
viên thục hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
4
Trường
Đại học
Ngoại
Thương
Luận vãn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001 -
2005
được
một Sự
khởi
sắc đáng
kể.
thiết
để đầu tư phát
triển
kinh tế
cũng
hoàn toàn phụ
thuộc
vào
nguồn
ngân sách ít
ỏi trong
nước
Tất cả
những
hạn
chế
này là nguyên nhân chủ yếu làm cho nền
kinh tế
nước
ta
đến nay vẫn
chưa
thể
theo
kịp được
với
các
quốc
gia
khác trên
lĩnh
vực mà
mình
quan
tâm.
Trong
số đó ngành
dệt
may là một
trong
những
ngành
nhận
được
khá
nhiều
sự đầu tư
từ
các nhà đầu tư
trong
và ngoài
nước.
Chúng
ta
đã bước đầu cử
một
số cán bộ
sang
học
tập
của
Đảng và Nhà Nước
ta
tính đến
thời
kỳ này, ngành
dệt
may
Việt
Nam đã có sự
thay đổi
cả về
chất
và về
lượng.
Toàn ngành đã mở
rộng
được
thị
trường
xuất
khấu,
đa
dạng
hóa,
đa phương hóa
quan
hệ
với
nhiều
chóng,
tuy
nhiên sự phát
triển
nhanh
chóng này không tránh
khỏi
một số hạn
chế
mà tiêu
biểu
đó là
những
khiếm
khuyết
trong việc thu
hút và sử
dụng
vốn đầu tư
nước
ngoài,
việc
áp
dụng
công
nghệ
hiện đại
vào sản
xuất, việc
mất cán
dệt
may nước
ta.
Sinh
viên thực hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
5
Trường
Đại
học
Ngoại
Thương
Luận vãn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001 -
2005
3 -
Giai
đoạn từ năm 1997 đến nay
(giai
đoạn phát
triển
của ngành dệt
may
Việt
Nam)
Có thể nói đây là
giai
đoạn
của
hàng
dệt
may so
với
các mặt hàng khác
trong
giai
đoạn
này đưc
thể
hiện
trong
bảng
sau:
Bảng
Ì- Giá
trị
xuất
khẩu hàng dệt may
Việt
Nam qua
hai
năm 2001 và
2002
Hàng hóa Đơn
vị 2001
2002
Tốc
độ tăng
điểu
1000
tấn
41
63 54.8
Lạc
nhân
1000
tấn
78
107 36.7
Dầu
thô
1000
tấn
16732
16850
0.7
Than
đá
1000
tấn
4290
5870
36.8
Hàng
đét
mav
TrUSD
1975
Thương
Luận
vãn
tốt
nghiệp
-
Khóa
2001
-
2005
Qua
bảng số
liệu
trên
ta thấy
hàng
dệt
may
là
mặt hàng
có
tốc
độ
tăng trưởng
xuất
khẩu
cao
thứ hai
qua
hai
may
đang dần
khủng
định được
vai
trò
to lớn
của
mình
trong
cơ
cấu
các
mật
hàng
xuất
khẩu của cả nước.
Năm
2001,
2002
nền
kinh tế thế
giới
trì
trệ khiến
cho công
nghiệp
dệt
may
của Việt
dân được
thể hiện trong
bảng sau:
Bảng
2-Tỷ lệ
đóng
góp của
ngành
dệt may
trong
nền
kinh
tế
quốc
dãn
Năm
GDP
(Tỷ
đồng)
Ngành
DM
(Tỷ
đổng)
Tỷ
lệ
đóng
góp vào
GDP
Tổng kim ngạch
XK
Gòn.
Sự phát
triển
của ngành
dệt
may
trong
những
năm qua có
thể
thấy
rõ qua
những
kết
quả
rất
đáng khích
lệ
như:
- Năng
lực
sản
xuất
của
ngành
dệt
may
phát
triển
cả về
doanh
nghiệp
ngoài
quốc doanh
(chiếm
38%),
354
doanh
nghiệp
có
vốn
đầu
tư
nước
ngoài.
Sinh
viên thục hiện:
Mai
Thị Thanh
Hòa - Lớp Nga
K40D
-
KTNT
7
Trường
Đại
học
Ngoại
Thương
Luận văn
hem 100
triệu
USD.
Dưới
đây là số
liệu
cụ
thể
về 10
mặt
hàng có
tốc
độ phát
triển
cao
nhất
trong
năm
2004.
Bảng
3-10 mặt hàng có giá trị
xuất
khẩu hơn 100
triệu
USD năm
2004
Đơn vị: Triệu USD
Mạt
hàng
Giá
Nguồn: Trangl
-
điểm
tin
kinh
tế-
số521
ngày 15/05/2004
-
Tốc độ tăng trưởng bình quân
trong
10 năm
(từ
năm
1991
đến năm
2000)
là
23,8%.
Năm
2003,
kim
ngạch
xuất
khẩu đạt
3,6
tỷ đô,
gấp 10
lần
so
444
triệu
USD tăng
23,67%
so
với
tháng
trước
và tăng
10,3%
so
với
cùng kỳ năm
2003.
- Thị
trường
xuất
khẩu
hàng
dệt
may luôn
được
mở
rộng
không
ngừng,
hàng
dệt
may
Việt
vị
trí
đáng kể
tại
một
số
thị
trường
lớn
mạnh
trẽn
thế
giới.
Bầng 4-
Kết
quầ
xuất
khẩu
quý
ì
năm
2005
Mặt
hàng
Đơn
vị
Quý
ì
năm
2004
1000T
1.151
253
961
260
Cà phê
1000T
300 200
278 192
Cao
su
1000T
103 115 103
116
Hạt
tiêu
1000T
23.5
31 21
29.5
Dầu
thô
1000T
5.041
1212
4557
1579
Hàng
dệt
may
Đại
học
Ngoại
Thương
Luận văn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001
-
2005
Tuy
ngành
dệt
may nước
ta
trong
thời
gian
qua đã
đạt
được
những
thành
tựu
đáng kể
song
chúng
ta
vẫn còn một số
vấn
vẫn chưa cao do 70% kim
ngạch
xuất
khỉu
được
thực
hiện
theo
phương
thức gia
công,
chỉ có 30% còn
lại
được
thực
hiện
theo
phương
thức xuất
khỉu
bán thành
phỉm
.do
đó
việc
xuất
khỉu
vẫn chưa đem
lại
hiệu
may nước
ta,
từ
đó
thấy
được
điểm
mạnh,
điểm
yếu
cũng
như
những
thuận
lợi,
khó khăn cho toàn
ngành.
Đó là cơ sơ để chúng
ta
rút
ra
những
bài học
kinh
nghiệm
cho ngành
dệt
may nói riêng và toàn bộ ngành
kinh
tế
dệt may
chiếm
31%
tổng
sản lượng hàng công
nghiệp chế
tạo,
sản lượng hàng hóa
chiếm
tỷ
trọng
8,6%
giá
trị
sản lượng công
nghiệp.
Theo
thống
kê năm
2002,
hoạt
động sản
xuất
hàng
dệt
may tính
theo
6 nhóm
sản
phỉm chính:
sản xuất
được 380
triệu
mét.
Dệt kim
32000
tấn, trong
nước
chỉ sản xuất
được 22000
tấn.
Sinh
viên thục hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
lo
Trường
Đại
học
Ngoại
Thương
Luận văn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001
-
2005
- Khăn bông
27,2
nghìn
tấn,
sản
lượng,
28% về
xuất
khẩu,
88,2%
về
sản
phẩm
sợi,
45,4%
về
vải
lụa,
27,7%
về
sản
phẩm. Năng
lổc
sàn
xuất
toàn ngành được
thể
hiện
dưới
bảng
thống
ké
sau:
Bảng
2 Cán bông
Chuyển
4
Tấn
10
000
3
Dệt
thoi
Thoi
Không
thoi
10
000
5 500
Triệu
m
500
4
Dệt kim
Máy DK tròn
Máy DK
phảng
1290
250
Tấn
70000
5
May mặc
Máy may
trong
nước
phải
nhập
khoảng
700-
800
triệu
mét
vải với tổng
giá
trị
ước tính
khoảng
Ì
tỷ
USD,
trong
khi
đó năng
lổc
sản
xuất
trong
nước
chỉ
đạt
500
triệu
m/năm,
ké,
đến
tháng 11 năm
nay,
nhập khẩu
nguyên phụ
liệu
cho
dệt
may da tăng
mạnh.
Trong
11 tháng đầu năm
2003
nhập khẩu
nguyên phụ
liệu
cho
dệt
may da lên
tới
1,8
tỷ
USD, tăng
20,63% so
vối
cùng kỳ năm
2003.
Trong
đó
Bài "Nhập
khẩu
nguyên phụ
liệu
dệt
may da
11
tháng năm
2003
tâng
mạnh
- http://www.vntextile.com).
Cho đến nay tình hình
nhập khẩu
vổi
của
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
tuy
có
giổm
xuống
nhưng mức
giổm
còn chưa đáng
kể.
Sáu tháng đầu năm
giổm 12,15% so
với
tháng
trước
và
chiếm 25,59%
tổng
kim
ngạch nhập khẩu
vổi trong
tháng,
tiếp
đến là
Đài
Loan
đạt
41,7
triệu
USD
chiếm
24,09%
Nhập
khẩu
từ
các
thị
trường
truyền
thống
như:
do chưa
chủ
động
về
nguyên phụ
liệu
cho nên toàn ngành còn phụ
thuộc
vào khách hàng cổ
về chủng
loại,
mẫu
mã
Số
lượng
vổi
nhập
năm
2003
lên
tới
1,2
tỷ
USD.
Hiện
nay ngành
công
nghiệp
dệt trong
nước mới đáp ứng được
mẫu
mã, chủng
loại,
thậm chí là giá
cổ
.nguyên
vật
liệu
trong
nước
ta
cũng
chưa có
sức cạnh
tranh
cao
như hàng
nhập
ngoại.
Đây
là
một
vấn
đề mà các cơ
quan chức
năng
cần
chú
trọng
quan
2005
Ý
thức
được tầm
quan
trọng
của
việc
sản
xuất
nguyên
liệu
cung
ứng cho
ngành
dệt
may
trong,
Đảng
và Nhà Nước đã
tạo
điều
kiện
đầu tư để sản
xuất
nguyên
liệu
cho
dệt
may
thoát
khỏi
thòi kỳ
kinh
tế
kế
hoạch
hóa
tập
trung
quan
liêu bao
cấp,
các chính
sách
thu
hút đầu tư nước ngoài và
khuyến
khích phát
triển
kinh
tế
vừa mới ban hành
cần
có
thời
gian
để thích
ứng.
Giai
công
suất
của máy móc
nhập
về.
Để
khắc
phục
được
điều
này chúng
ta
cần
nhanh
chóng đào
tạo
một
đội
ngũ cán bộ kỹ
thuật
chuyên sâu, học
tập
và
tiếp
thu
những
công
nghệ
tiên
tiến
dệt
may
trong
nước là vấn để
thua lỗ
trong
ngành sản
xuất
tơ tằm
trong
thời
gian
gần đây.
Với
giá thành sản
xuất
tăng cao nên số
lỗ
của
các đơn
vị tỷ lệ thuận với
số lượng sản phẩm sàn
xuất
ra.
Sự
thua lỗ
này đã làm một
số
đơn
vị
cần lưu tâm là
hiện
nay giá tơ trên
thị
trường
thế
giới
đã
giảm
mạnh,
còn giá tơ tằm
trong
nước thì vẫn
giữ
ỏ mức
22.000
đ/kg do
chất
lượng
trứng
giống
tằm và
chất
lượng lá dâu chưa
cao.
Đây là nguyên nhân gây khó khăn
cho
việc
đảm bảo
chất
hiện
đại
hóa
hiện
nay
đã,
đang và
sẽ
tạo
cho nền
kinh
tế
Việt
Nam
rất
nhiều thuận
lợi
trong việc
mở
rộng thị
trường,
đa
dạng
hóa
sản
phẩm,
phát huy được
nguồn
nhân
lực
lớn
mạnh
như:
Trung
Quốc,
Ân
Độ, Pakixtan Một
vấn
đề vô cùng khó khăn nữa là
hiện
nay nước
ta
chưa
phải
là
thành viên
cểa
Tổ
chức
Thương Mại Thế
Giới
(WTO) cho nên hàng hóa
cểa
chúng
ta
khi
nhập
vào các nước thành viên
cểa
tổ
1.2- Vấn để công nghệ
Hiện nay nước ta có khoảng hơn 600 công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH),
cổ phẩn tư
nhân,
trong
đó có
khoảng
460 đơn
vị sản
xuất
may mặc và thuê đan
len,
450
tổ
hợp
dệt
và hơn 100 000
khung
dệt thể
công,
chể yếu
ra đời
từ
1988
trở
lại
đây.
Hiện
nay một
số doanh
khoảng 2000
tổ hợp,
HTX,
hộ
gia
đình
tham
gia
vào
sản
xuất
hàng
dệt
may
với
hơn 700 000
lao
động.
Ngành
dệt
may hoàn
tất
với
đặc
thù công
nghệ
rất
phức
tạp,
thiết
ta
chỉ
có một vài
doanh
nghiệp
liên
doanh
đáp ứng để các yêu cầu nói trên tuy
nhiên
số các doanh
nghiêp như
vậy
không đáng
kể.
Năm
2001
kéo
sợi
đạt 980.000
nghìn
cọc,
trong
đó
chỉ
có
100.000
cọc
sợi
mới
được đầu
Thiết
bị
dệt
tổng
số có
43.000
máy,
trong
đó chỉ có 1.500 máy
dệt
mới,
khổ
rộng
chiếm
khoảng
3,4% còn
lại
là các
thiết
bị
cũ,
khổ
hẹp, hoặc
đã
quá
lạc hậu,
cần
cải
tiến.
Tuy
bị công
nghệ
toàn
ngành,
cụ
thể
trong
ngành may đã
đổi
mới
hơn 90%
thiết
bị,
chủ yếu chỉ
tập
trung
ở các
doanh
nghiệp
quốc doanh
(TW).
Hiện
tại
tình hình
thiết
bị
công
nghệ
trong
ngành
Tỷ
suất
đầu tư cho một chỗ làm chỉ cần
từ
8 đến
lo
triệu
đổng,
khấu
hao máy móc
thiết
bị vào sản
xuất
cũng
rất
nhanh,
trong
vòng một năm
có
thể quay
vòng vốn từ 3 đến 4
lần.
Đây là một đặc trưng về
trang
thiết
bị công
nghệ
trong
ngành
dệt
nước nhà. Có công
nghệ
tiên
tiến,
hiện
đại
cùng
với
khả năng
ứng dụng
công
nghệ
đó
nhanh
chóng, chúng
ta
có
thể
từng
bước
tạo
ra
nhằng
sản
phẩm
chất
lượng
cao,
đáp ứng được nhu cầu
trong
trong
tương
lai.
Sinh
viên thục hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
15
Trường
Đại học
Ngoại
Thương
Luận văn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001
-
2005
1.3-
Vấn đề
lao
động
Để có thể tung ra tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, một sản phẩm may mặc
phải
trải
qua
rất
nhiều
công
đoạn,
trong
thống
thiết
bị máy móc chuyên
dụng
hỗ
trợ
nhưng
vai
trò của con
người
vẫn không hề bị
giảm
sút.
Một sản phẩm sẽ
trở
nên hoàn
thiợn
hơn nếu có sự
kết
hợp
giữa
công
nghợ
và bàn
tay
khéo léo của con
người.
Ví dụ
trong viợc
giác sơ
tiết
trên sản phẩm thường
rất
đa
dạng,
không
thế
sắp xếp kín
mặt vải
được.
Công
đoạn
cắt
và may thì đặc
biợt
cần đến sự
trợ
giúp của con
người,
nhất
là
trong
điều
kiợn
thiếu
máy móc,
trang
thiết
bị
hiợn
ta
có
khoảng
1.600.000
lao
động làm
viợc trong
ngành dợt
may
(kể
cả
lao
động
trong
ngành
trổng
dâu nuôi
tằm).
Trong
đó có 60% đến 70% là
lao
động
nữ.
Tỷ
lợ lao
động nữ
trong
ngành này cao là do đạc thù của ngành
dợt
may
chức
năng
trong
ngành
dợt
may Thành phố Hổ Chí
Minh
và một số
tỉnh
thành khác. Chúng
ta
có
thể
đảm
bảo
một
nguồn
nhân
lực lao
động phổ thông cho toàn ngành
dợt
may
trong
giai
đoạn
hiợn
nay
song
chúng
ta
thời
xu hướng
thời
trang
trên
thế
giới
Sinh
viên thục hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
16
Trường
Đại
học Ngoại Thương
Luận van
tốt
nghiệp
- Khóa 2001
-
2005
để sản
xuất
ra
những
sản phẩm phù hợp
với thị hiếu
của
người
tiêu dùng
trong
và các
tỉnh
thành lân
cận.
Tuy
rằng
hiện
nay ngành
dệt
may đã
tạo ra
một
khối
lượng
việc
làm
lớn
cho
lao
động phổ thông
trong
nước nhưng
một
đặc trưng về
nguằn
nhân
lực
của ngành
dệt
may là tính
biến lao
động
trong
toàn
ngành.
Có
những
thời
điểm
vào mùa vụ sản
xuất
có
những
doanh
nghiệp
dệt
may
Việt
Nam
thiếu
từ
30%
-
40% số
lao
động phổ thông. Chính sự không ổn định
trong
nguằn
nhân
lực
và
nguằn
nhân
lực
không đảm bảo như
hiện
nay đang là vấn đề đau đầu của các
doanh
nghiệp
dệt
may
sản
xuất
hàng
xuất
khẩu.
Nhiều
doanh
nghiệp
đã
phải
chịu
lỗ
do không đảm bảo
tiến
độ
của
các đơn hàng
xuất
khẩu
ở
hai trung
tâm
kinh tế lớn
là Hà
Nội,
thành phố Hằ Chí
Minh
và các vùng phụ cận của
hai
thành phố
này.
Với tình
trạng
thiếu
lao
động như
hiện
nay thì nhu cầu về số lượng
lao
động đáp ứng nhu cầu mở
rộng
sản
xuất
như trên là vấn đề
hết
sức khó khăn cho ngành công
nghiệp
dệt
may
lao
động
trung
và cao cấp
trong
ngành này vẫn còn
thiếu
rất nhiều,
đặc
biệt
trong
giai
đoạn
r
ti
Ị
Sinh
viên thực hiện:
Mai Thị Thanh Hòa - Lớp Nga K40D - KTNT
17
Trường
Đại
học
Ngoại
Thương
Luận vãn
tốt
nghiệp
- Khóa 2001 -
2005
dệt
may nói riêng và toàn bộ nền
kinh tế
Việt
Nam
nói
chung.
Đây là vấn để đặc
biệt
quan
trọng
mà
Đảng
và Nhà nước chúng
ta
cần ưu
tiên
quan
tâm
trong
chính sách phát
triển
kinh tế trong
tương
lai.
1.4- Nguồn tài chính
Sự phát
triển
một ngành
kinh
dệt
may cồa chúng
ta trong
giai
đoạn
phát
triển
hiện
nay.
Nhận
thức
được tầm
quan
trọng
cồa vấn đề vốn
trong
sản
xuất
và
xuất
khẩu,
Đảng
và Nhà nước
ta
đã và đang
có
những
chính sách thích hợp để
giải
quyết
sâu
756,9
Dệt
709
May
47,9
Đầu tư
mới
2516,4
Dệt
2306,4
May
210,2
Nguồn:
Quy
hoạch phát triển ngành
dệt
may
Việt
Nam
đến
năm
2010
-
Thời
báo
kinh
tê
Việt
Nam
2000,
đầu tư
nước
ngoài vào ngành may mặc tăng lên rõ
rệt,
gấp 2,8
lần
về số dự án và gấp 7,5
lần
về
số
vốn
đầu tư đăng ký. Theo đánh giá của các nhà
kinh
tế thì
nguồn
dầu tư nước
ngoài vào ngành
dệt
may nước
ta
trong
những
năm qua là
nguồn
đầu tư đặc
biệt
quan
trọng
góp
trong
tương
lai.
Năm
2001,
VINATEX
đã phê
duyệt
hơn 34 dự án
với
mờc đầu tư hơn 800 tý
đổng,
tăng
127,8%
so
với
cùng kỳ năm
2000 Trong
tổng
mờc vốn đầu tư nói trên
có 81
tỷ
đồng là vốn vay thương
mại,
175
tỷ
đổng vốn
tự
có và
khấu
thời
điểm
nói trên Quỹ hỗ
trợ
mới
vay
được hơn 1.000 tỷ đổng đáp ờng được 20% số vốn của các dự
án.
Trong
tổng
mờc đẩu tư được phê
duyệt
thì có
tới
hơn 2.558 tỷ đồng đầu tư cho
lĩnh
vực dệt
nhuộm,
chiếm
43,5% so
với
toàn bộ
tổng
vốn đầu tư
(Nguồn:
Bài " Phê
duyệt
154
dự
án ngành
bắt
đẩu
xuất
hiện
ngay
từ
giai
đoạn đầu của
thời
kỳ
đổi
mới
đất
nước.
Với
mờc độ
đầu
tư như ở trên và không có sự
quan
tâm đẩu tư thích đáng của các cơ
quan
chờc
năng
trong
vấn đề này,
rất
có
thể
sự mất cân
đối giữa hai