Học viện chính Trị-hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh Báo cáo
Tổng hợp kết quả nghiên cứu
đề tài khoa học cấp bộ năm 2010
Msố: B.10-17
việt Nam gia nhập asean từ năm 1995
đến nay: thành tựu, vấn đề đặt ra
và triển vọng
C quan ch trỡ:
VIN QUAN H QUC T
Ch nhim ti: PGS,TS NGUYN TH QU
Th ký ti: ThS NGUYN TH MINH THO 8257
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
AANZFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Ốt-xtơ-rây-lia – Niu Di-lân
ACCI Sáng kiến ASEAN về Biến đổi khí hậu
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
ACIA Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN
ADB Ngân hàng phát triển châu Á
ADMM+ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN
AFSA Hiệp định khung về Khu vực tự do hóa mậu dịch ASEAN
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
AIA Hiệp
định về Khu vực đầu tư ASEAN
AICO Hiệp định hợp tác công nghiệp ASEAN
AIPO Liên minh Nghị viện ASEAN
AMBDC Hợp tác ASEAN về phát triển lưu vực sông Mê Công
AMM Hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu ¸-Thái Bình Dương
APSC Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN
ARF Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN
ASC Cộng đồng an ninh ASEAN
ASCC Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ¸
ASEM Hội ngh
ị ¸-Âu
ASOEN Tổ chức các quan chức cao cấp ASEAN về môi trường
ATIGA Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN
AU Liên minh châu Phi
BSA Thoả thuận hoán đổi song phương
SAARC Hiệp hội hợp tác khu vực Nam
¸
SEANWFZ Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân
SEC Hành lang kinh tế phía Nam
SNG Cộng đồng các quốc gia độc lập
TAC Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam ¸
WB Ngân hàng thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
ZOPFAN Khu vực ASEAN hòa bình, tự do và trung lập MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Phần thứ nhất:
VIỆT NAM GIA NHẬP ASEAN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ
CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN TỪ NĂM 1995
ĐẾN NAY
13
1. Một số lý thuyết về liên kết khu vực 13
2. Việt Nam gia nhập ASEAN - sự mở đầu tiến trình liên kết của
Việt Nam với khu vực 28
3. Những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ Việt Nam- ASEAN
sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN 38
Phần thứ hai:
NHỮNG THÀNH TỰU, KHÓ KHĂN HẠN CHẾ VÀ VẤN ĐỀ
ĐẶT RA TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN TỪ 1995 ĐẾN NAY
61
Trên chặng đường hơn 40 năm xây dựng và phát triển, ASEAN từ Hiệp hội của
những nước nghèo, chậm phát triển đã vươn lên trở thành khu vực phát triển kinh
tế năng động, với dân số h
ơn 500 triệu người, diện tích 4,5 triệu km
2
, quy mô
GDP đạt gần 900 tỷ USD và tổng giá trị thương mại khoảng 800 tỷ USD. Thành
tựu ấn tượng này đã đưa ASEAN trở thành một đối tác giàu tiềm năng của nhiều
nước và tổ chức quốc tế, một trong những tổ chức hợp tác khu vực thành công
nhất, một thực thể chính trị - kinh tế có vai trò ngày càng nổi bật ở châu Á - Thái
Bình Dương cũng như trên thế giới.
Do những l
ợi thế về vị trí địa lý và đặc điểm kinh tế- xã hội nên ASEAN
có vị thế quan trọng trong quan hệ quốc tế, gắn liền với lợi ích chiến lược và
cuộc cạnh tranh ảnh hưởng của nhiều cường quốc trên thế giới. Trong thời kỳ
chiến tranh lạnh, khu vực này đã từng là một tiêu điểm nóng bỏng của cuộc đối
đầu Đông - Tây với s
ự chi phối, tương tác rất phức tạp của hình thái tam giác
chiến lược Xô - Mỹ - Trung. Quan hệ giữa các nước khu vực, cũng vì thế, bị
phân tuyến sâu sắc, thường xuyên căng thẳng giữa hai nhóm nước Đông Dương
và ASEAN. Bởi vậy, chiến tranh lạnh kết thúc mở ra cơ hội lớn cho các nước
ASEAN thực hiện ý tưởng ngay từ khi mới thành lập về thúc đẩy hợp tác, liên
kết trên quy mô toàn Đông Nam Á. Sự m
ở rộng ASEAN-6 thành ASEAN-10 là
bước phát triển có ý nghĩa nhất đối với ASEAN trong thập niên 90 của thế kỷ
XX. Đây là hệ quả tất yếu của sự điều chỉnh và thích ứng của ASEAN trước bối
cảnh quốc tế và khu vực thời kỳ sau chiến tranh lạnh.
Bước sang thế kỷ XXI, tình hình khu vực và thế giới tiếp tục có những
thay đổi to lớn và nhanh chóng. Để kịp thích ứng v
ới tình hình mới, ASEAN một
sắc rằng, để có môi trường quốc tế hoà bình và ổn định đáp ứng yêu c
ầu phát
triển đất nước, thì trước tiên phải xây dựng được mối quan hệ hữu nghị với các
nước láng giềng khu vực. Do vậy, Việt Nam ngày càng chủ động đổi mới tư duy
đối ngoại, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về “thêm bạn, bớt
thù”, từng bước hình thành và triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa, dành ưu tiên xứng đ
áng cho việc cải thiện, củng cố,
phát triển quan hệ với các nước láng giềng khu vực, trong đó có các nước
ASEAN.
Sự cải thiện quan hệ với các nước ASEAN, tiến tới gia nhập ASEAN
(7/1995) là một quá trình Việt Nam xử lý hàng loạt vấn đề đối ngoại phức tạp.
Từ sau Đại hội VI của Đảng (1986), Việt Nam chú trọng thúc đẩy đối thoại với
ASEAN, coi việc nhanh chóng đạt được giải pháp chính tr
ị toàn bộ cho vấn đề
Cam-pu-chia là khâu đột phá trong quan hệ với ASEAN. Hiệp định Pa-ri về
Cam-pu-chia được ký kết ngày 23/10/1991 mở ra bước phát triển mới của quan
hệ Việt Nam- ASEAN. Sự kiện này còn tác động tích cực đến tiến trình bình
thường hóa quan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ, từng bước đưa Việt Nam thoát ra
khỏi vòng bị bao vây, cô lập kéo dài của các thế lực quốc tế thù địch.
3
Từ khi gia nhập ASEAN đến nay, Việt Nam năng động phát triển quan hệ
với các nước trong Hiệp hội trên cả bình diện song phương lẫn đa phương.
Thành tựu đạt được trong quá trình tham gia ASEAN không chỉ giúp Việt Nam
tạo lập, củng cố môi trường hòa bình bình xung quanh đất nước, đáp ứng yêu
cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, mà còn tạo điều kiện thuận l
ợi
để Việt Nam bảo đảm những lợi ích chiến lược thiết yếu. Việt Nam tranh thủ
được các nguồn lực trong khu vực, khai thác lợi thế của ASEAN, phát huy nội
ững biểu hiện hạn chế về chất lượng, hiệu quả và chiều sâu, còn thiếu các
nhân tố cho sự phát triển vững chắc, ổn định, lâu dài. Các mối quan hệ kinh tế,
an ninh, chính trị nhiều khi chưa gắn kết mật thiết với nhau, trong một số trường
hợp cụ thể hợp tác kinh tế - thương mại chưa theo kịp những tiến bộ đạt được
4
về chính trị, ngoại giao, chưa tạo được nhiều bước đột phá mới về chất, chưa
xây dựng được và khai thác tốt quan hệ lợi ích đan xen tùy thuộc lẫn nhau. Hợp
tác Việt Nam - ASEAN vẫn còn bị động đối phó với những vấn đề nhạy cảm và
mới nảy sinh, nhất là các vấn đề liên quan đến tranh chấp biên giới lãnh thổ, tài
nguyên thiên nhiên, khủng hoảng và suy thoái kinh tế, sự phối h
ợp hành động
trước các vấn đề khu vực và quốc tế, v.v
Những khó khăn, hạn chế trong việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao
hiệu quả hợp tác trên nhiều mặt với ASEAN, nhất là việc tháo gỡ những vấn đề
nhạy cảm còn tồn đọng, đang và sẽ tác động không thuận chiều đối với môi
trường an ninh chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong nước và tiến trình hội
nhập quố
c tế của Việt Nam, cũng như triển vọng quan hệ Việt Nam - ASEAN.
Yêu cầu phát triển đất nước trong hội nhập quốc tế đến năm 2020 đang đòi
hỏi Việt Nam cần có một chiến lược đối ngoại hoàn chỉnh, trong đó xác định rõ
những định hướng phát triển quan hệ với ASEAN. Từ đó sẽ cụ thể hóa thành
những chính sách, giải pháp cụ thể nhằm kh
ắc phục những vấn đề còn tồn đọng,
tăng cường hợp tác Việt Nam - ASEAN trong tình hình mới. Để xây dựng một
chiến lược đối ngoại như vậy, thì việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện
và thấu đáo thực tiễn 15 năm Việt Nam gia nhập ASEAN (1995 - 2010) và triển
vọng quan hệ Việt Nam - ASEAN có vị trí, tầm quan trọng nổi bật trong khoa
học nghiên cứu các vấn đề quốc tế và chính sách
đối ngoại ở nước ta hiện nay.
c ngoài về Việt Nam nói chung, trong đó
có một số đề cập đến hoạt động đối ngoại Việt Nam. Nhưng số các công trình
lấy quan hệ Việt Nam - ASEAN từ sau năm 1995 đến nay làm đối tượng nghiên
cứu chuyên sâu thì hầu như còn quá ít ỏi. Mặc dù vậy, trong khi đánh giá vai
trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như phân tích về đường lối,
chính sách đối ngoại của Việt Nam, một vài bài viế
t đã chỉ ra những đóng góp
của Việt Nam trong hợp tác, liên kết ASEAN. Trong số đó đáng chú ý là các
công trình sau:
- Vietnam's Foreign Relations: Dynamics of Change của tác giả Frank
Frost (Pacific Affairs, Vol. 67, No. 4/1995);
- Ideology and Foreign Policy: Vietnam's Marxist Leninist Doctrine and
Global Change, 1986-96 của Eeo Palmujoki (Institute of Southeast Asian
Studies, Singapore, 1999);
- Dosch, Jorn (2006), Vietnam's ASEAN Membership Revisited: Golden
Opportunity or Golden Cage?, Contemporary Southeast Asia, Journal of
International and Strategic Affairs, Volume 28, Number 2, August
- Việt Nam quan tâm đến việc xây dựng những cân bằng chiến lược mới,
của Madhur Singh (Hindustan Times, New Delhi, 20/6/2007);
- Vị thế Việt Nam tiếp tục được khẳng định trên trường quốc tế và khu
v
ực (Tổng thuật bài viết của các nhà nghiên cứu nước ngoài, Thông tin Những
vấn đề chính trị - xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 9-2007).
Các công trình kể trên, khi phân tích những bước điều chỉnh chính sách
đối ngoại của Việt Nam từ giữa thập niên 80 - đầu thập niên 90 của thế kỷ XX
đã khẳng định những thành tựu đối ngoại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời
cũng chỉ
ra một số điểm thay đổi chủ yếu trong quan hệ của Việt Nam với các
nước ASEAN. Tuy vậy, các công trình này mới chỉ tiếp cận một số mặt trong
chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN, chưa có được cái nhìn tổng
Southeast Asia (Rahui Sen, ISEAS 2004); Roadmap to an ASEAN Economic
Comunity (Denis Hew, ISEAS 2005); ASEAN Economic Co-operation (Linda
Low, ISEAS 2005); ASEAN and Regionalism (Rodolfo Severino, ISEAS.
2005); Các tác giả nêu trên, khi phân tích về tiến trình liên kết ASEAN đã có
cách nhìn khá khách quan đối với sự tham gia của Việt Nam, đồng thời nhấn
mạnh những khó khăn mà Việt Nam cũng như các nước thành viên mới khác
của ASEAN phải đối mặt khi triển khai các chương trình hợp tác, liên kết kinh
tế của Hiệp hội do sự chênh lệch về trình độ phát triển.
2.2. Những nghiên cứu trong nướ
c:
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động
đối ngoại và hội nhập quốc tế, thì ở nước ta cũng diễn ra một sự “bùng nổ” rất
đáng khích lệ của công tác nghiên cứu về quốc tế và quan hệ đối ngoại. Các nhà
nghiên cứu trong nước không chỉ ngày càng quan tâm đến những vấn đề quốc
tế, mà còn đặc biệt chú trọng các vấn đề
lý luận và thực tiễn đối ngoại Việt
7
Nam. Hàng loạt công trình nghiên cứu đã ra đời, cung cấp cho người đọc khối
lượng tri thức phong phú, đa chiều và tương đối toàn diện về đường lối, chính
sách và hoạt động đối ngoại Việt Nam, trong đó có nhiều công trình liên quan
trực tiếp quan hệ Việt Nam - ASEAN kể từ khi nước ta chính thức gia nhập
ASEAN.
Sự hiện diện một cách đông đảo các tác giả trong nước với các công
trình, bài viết liên quan trực tiếp ho
ặc gián tiếp đến chủ đề quan hệ Việt Nam -
ASEAN cho thấy rõ tính cấp thiết về khoa học và thực tiễn đối với công tác
nghiên cứu mối quan hệ này. Tựu chung lại, có thể chia thành 5 loại công trình
chủ yếu sau:
Thứ nhất: Các công trình đề cập quan hệ Việt Nam- ASEAN trong
8
nước ta với khu vực Đông Nam Á từ 1986 đến nay (Vụ châu Á 2, Bộ Ngoại
giao); Tổng kết chính sách hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta và quá
trình hội nhập quốc tế của ta từ 1986 đến nay (Vụ Hợp tác kinh tế đa phương).
Thứ ba: Các công trình phân tích quá trình hợp tác và liên kết ASEAN,
trong đó quan hệ Việt Nam - ASEAN được xem xét với mức độ khác nhau.
Nhìn chung trong các công trình này, quan hệ củ
a Việt Nam với ASEAN được
đề cập trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, không ít công trình đã chỉ ra những thuận
lợi và khó khăn, vai trò và những đóng góp của Việt Nam trong liên kết khu
vực, vấn đề Việt Nam có thể tận dụng lợi thế của ASEAN đối với việc thực hiện
các mục tiêu chính sách đối ngoại của mình,… Các công trình thuộc loại này rất
đông đảo về số lượng như: ASEAN nh
ững vấn đề và xu hướng (Viện nghiên cứu
Đông Nan Á, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1997); Từ ASEAN 7 đến ASEAN 10: Một
Đông Nam Á thống nhất và thách thức (Nguyễn Quốc Hùng, Nxb. CTQG, Hà
Nội, 1998); Từ ASEAN 7 tới ASEAN 10 - Cơ hội hay là thách thức (Nguyễn Thu
Mỹ, T/c Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/1997); ASEAN Hôm nay và triển vọng
(Nxb. CTQG, Hà Nội, 1998); Tiến tới một ASEAN hoà bình, ổn định và phát
triển bền vững (Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001); Thành tựu, thách thức và triển
v
ọng giao lưu, phát triển văn hoá thông tin các nước ASEAN (Lê Thanh Bình,
T/c Nghiên cứu quốc tế, 2/2001); Thu hẹp khoảng cách phát triển- Thách thức
mới trong liên kết ASEAN (Đào Việt Hưng, T/c Những vấn đề kinh tế thế giới,
6/2002); Hợp tác và liên kết ASEAN trong những thập niên qua: Thành tựu, hạn
chế và bài học kinh nghiệm (Trần Khánh, T/c Kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương, 6/2003); Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hoá (Trần Khánh chủ
biên, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2002); Liên kế
t ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ
đóng góp của Việt Nam (Nguyễn Hoàng, T/c Lý luận chính trị, 8/2007); Hợp tác
liên kết ASEAN hiện nay và sự tham gia của Việt Nam (Nguyễn Hoàng Giáp,
Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thị Quế, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2008);…
Thứ năm: Các công trình và bài viết về sự phát triển quan hệ của
Việt Nam với từng nước ASEAN. Đây là một hướng nghiên cứu đa dạng v
ề
hình thức, từ hội thảo khoa học đến bài viết và nhiều tác phẩm chuyên khảo,
đồng thời cũng rất phong phú về nội dung, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị,
an ninh đến kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật Chẳng hạn các công trình
như: Giao lưu và hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng (Bùi
Danh Lưu, Nxb Giao thông, Hà Nội, 2003); Tổng quan hợp tác kinh tế, thương
mạ
i giữa Việt Nam và Lào (1991-2001) (Nguyễn Hoàng Giáp, T/c Những vấn
đề KTTG, 4/2001); 35 năm quan hệ láng giềng gần gũi Việt Nam - Cam-pu-
chia (Vũ Dương Huân, T/c Nghiên cứu quốc tế, số 4/2002); Ba mươi năm quan
hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào (1977-2007) (Nguyễn Hào Hùng, T/c
Nghiên cứu ĐNA, 8/2007); Quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia trong bối cảnh
mới (Hội thảo khoa học quốc tế, ngày 30/5/2007 của Viện KHXH Việt Nam);
Quan hệ kinh tế biên giới Việt Nam- Cam-pu-chia
(Trần Văn Tùng, T/c Cộng
Sản, số 2+3/2006); Quan hệ Việt Nam- Xinh-ga-po từ 1975-2007 (Luận án tiến
sĩ, Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2008), Quan hệ với các nước láng giềng
trong chính sách đối ngoại của Việt Nam từ năm 1991 đến nay (Đề tài cấp Bộ
năm 2009, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, do Nguyễn
Hoàng Giáp làm chủ nhiệm),…
Nhìn chung, với số lượng lớn và nội dung phong phú, tất cả các công
trình, bài viết nêu trên đã phác họa một cách tổng quát tiến trình hội nhập khu
10
vực của Việt Nam. Nhiều công trình trong số đó đã đi sâu luận bàn một số khía
quan hệ Việt Nam - ASEAN k
ể từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN đến 2010,
chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và khó khăn hạn chế đó.
3) Phân tích và dự báo triển vọng quan hệ Việt Nam - ASEAN đến năm 2020.
4) Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hơn
nữa chất lượng, hiệu quả hợp tác, liên kết Việt Nam - ASEAN đến năm 2020.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở
lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ quốc tế. Đề tài
11
vận dụng những quan điểm cơ bản về đối ngoại, về đoàn kết và hợp tác quốc tế,
về mối quan hệ với láng giềng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tình hình thế giới, về hoạch định
và triển khai đường lối đối ngoại đổi mới (Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X
và các Nghị quy
ết Hội nghị TW về đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế), coi đây
là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận, định hướng tư tưởng và khoa học để
thực hiện đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành và liên ngành, chủ yếu là:
+ Phương pháp nghiên cứu kết hợp lịch sử với lôgic: Vận dụng quan đ
iểm
lịch sử để nêu rõ tính kế thừa, đồng thời làm nổi bật những điều chỉnh trong quan
điểm chính sách của Việt Nam đối với các nước ASEAN trong các giai đoạn
khác nhau của thời kỳ đổi mới. Mặt khác, nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam -
ASEAN được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể sau chiến tranh lạnh.
+ Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Qua đ
ó đem lại sự hiểu biết về hệ
ASEAN nói riêng trong thời kỳ đổi mới.
- Đối với các ngành khoa học có liên quan, đề tài sẽ góp phần cung cấp
những nhận thức mới về chính sách của Việt Nam đối với một trong những đối
tác được ưu tiên hàng đầu của Việt Nam hiện nay là ASEAN. Mặt khác, nâng
cao thêm nh
ận thức về sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của Đảng ta đối với tư
tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thông qua tiến trình 15 năm nước ta tham gia
hợp tác, liên kết trong khuôn khổ ASEAN.
- Góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn đối với việc hoạch
định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong củng cố, phát triển quan hệ với
các nước ASEAN từ nay đến năm 2020, đáp ứng yêu cầ
u bảo đảm an ninh, phát
triển và hội nhập quốc tế của đất nước.
- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những cán bộ hoạt động
trong lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng và an ninh. Với ý nghĩa trên, sau khi được
nghiệm thu, đề tài sẽ là nguồn tư liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu
về chính trị quốc tế, quan hệ quốc tế và chính sách đố
i ngoại trong hệ thống
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Đề tài có
cấu trúc gồm 3 phần:
Phần thứ nhất: Việt Nam gia nhập ASEAN và những nhân tố chủ yếu
tác động đến quan hệ Việt Nam - ASEAN từ năm 1995 đến nay
Phần thứ hai: Những thành tựu, khó khăn hạ
n chế và vấn đề đặt ra trong
quan hệ Việt Nam - ASEAN từ năm 1995 đến nay
Phần thứ ba: Triển vọng quan hệ Việt Nam - ASEAN và một số giải
pháp tăng cường hiệu quả sự tham gia của Việt trong hợp tác liên kết ASEAN
đến năm 2020.
với sự phát triển nhiều tr
ường phái lý luận khác nhau. Trong đó phải kể đến lý
luận của trường phái liên chính phủ (intergovernmentalism) đứng đầu là Stanley
Hoffmann với quan điểm cho rằng tiến trình hội nhập không có nghĩa là các
quốc gia tham gia hội nhập mất đi quyền lực của mình, tiến trình hội nhập chủ
yếu phụ thuộc vào ý chí của các chính phủ thành viên, và do vậy nó mang tính
chất liên chính phủ nhiều hơn là tính chất siêu quốc gia. Thực chất của sự h
ội
nhập là việc các quốc gia thành viên tự nguyện tham gia vào các hiệp định
nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề chung trên cơ sở sự đồng thuận và nhất trí
giữa họ.
Cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ XX, sự phát triển của xu
thế toàn cầu hóa và những tiến triển trong quá trình hội nhập trên thực tế giữa 1
Trần Khánh, Liên kết ASEAN - Xét từ góc độ lý luận của khu vực hóa, Tạp chí Cộng sản , số 47 - 2003
14
các quốc gia ở khu vực châu Á, châu Phi và châu Mỹ với sự ra đời của rất nhiều
các tổ chức khu vực, các khối kinh tế khu vực và tiểu khu vực, các khu vực mậu
dịch tự do,… khiến cho những lý luận về chủ nghĩa khu vực được bổ sung và có
bước phát triển mới trên cơ sở chắt lọc các tư tưởng lý luận về hội nhập khu
vực, được gọi là "ch
ủ nghĩa khu vực mới" để phân biệt với những lý luận của
thời kỳ trước (còn được gọi là lý luận cổ điển về chủ nghĩa khu vực).
"Chủ nghĩa khu vực mới" được giới học giả nhìn nhận và phân tích từ
nhiều góc độ. Trong mối quan hệ giữa chủ nghĩa khu vực với toàn cầu hóa,"chủ
nghĩa khu vực mới" là phản ứ
ng, và ở một chừng mực nào đó, là sự điều chỉnh
thành viên tham gia vào tổ chức khu vực. Đây cũng là một yếu tố mới của tiến
trình hợp tác khu vực gắn liền với sự thay đổi của cục diện thế giới thời kỳ sau
chiến tranh lạnh. 2
Đinh Thị Hiền Lương, Chủ nghĩa khu vực các trường phái tiếp cận lý thuyết, www.hocvienngoaigiao.org.vn
15
Thứ ba là sự mở rộng hợp tác, liên kết giữa các tổ chức khu vực với nhau,
hình thành khái niệm về sự hợp tác liên khu vực. Các tổ chức khu vực không
chỉ giới hạn sự hợp tác, liên kết kinh tế của mình trong nội bộ khu vực mà còn
mở rộng hợp tác kinh tế với các khu vực khác hoặc là sự ra đời của các tổ chức
mang tính liên khu vực (APEC là một ví dụ).
Thứ t
ư là hiện tượng một quốc gia có thể đồng thời là thành viên của vài
tổ chức hợp tác kinh tế khu vực khác nhau (Ví dụ như Mỹ và Ca-na-đa vừa là
thành viên của NAFTA vừa là thành viên của APEC hay Việt Nam vừa là thành
viên của ASEAN vừa là thành viên của APEC).
* Các hình thức biểu hiện của chủ nghĩa khu vực trong quan hệ quốc
tế đương đại
Chủ nghĩa khu vực được thể hiện trên thực tế thông qua sự
hình thành các
tổ chức khu vực và liên khu vực. Sự hình thành các tổ chức này có thể dựa trên
sự gần gũi về địa lý hoặc sự tương đồng về ngôn ngữ và văn hóa và sự liên kết,
hợp tác giữa các yếu tố cấu thành tổ chức có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực như
kinh tế, chính trị, quân sự,…
Các liên kết theo khu vực dựa trên cơ sở gần gũi về đị
a lý: Đặc điểm các
nước tham gia vào liên kết này có thể có trình độ phát triển và chế độ chính trị
mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội Nam Á vì sự hợp tác khu vực
(SAARC) Một số liên kết khu vực không chỉ giới hạn trong liên kết trên lĩnh
vực kinh tế mà còn mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khác là chính trị - ngoại
giao và quân sự (như tổ chức EU và ASEAN).
- Liên kết về chính trị: Hình thành chủ yếu t
ừ sau chiến tranh thế giới lần
thứ hai trên cơ sở nước có trùng lợi ích trong cuộc đấu tranh cho một hệ thống
quan hệ quốc tế về chính trị và kinh tế công bằng hơn. Đại diện cho hình thức
liên minh này có Nhóm G7, Nhóm G77.
- Liên kết về quân sự: Trong thời kỳ chiến tranh lanh, sự đối đầu giữa hai
hệ thống TBCN và XHCN đã dẫn đến hình thành các liên kết quân sự trong nội
bộ các hệ thố
ng như Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Tổ chức
Hiệp ước VACSAVA. Sau khi trật tự hai cực kết thúc, một câu hỏi được đặt ra
là liệu có cần tồn tại một tổ chức quân sự gắn liền với sự đối đầu đông tây như
NATO nữa hay không, và thực tiễn đã cho thấy, tổ chức không những được duy
trì mà còn được củng cố và m
ở rộng.
Trong trường hợp hình thành liên minh khu vực thì đối với một liên minh
kinh tế, các chính sách kinh tế của các quốc gia thành viên được điều hòa và
được cấu trúc chung. Đối với liên minh tiền tệ, các quốc gia thành viên chấp
nhận một dạng tỉ giá hối đoái cố định, hoặc là đạt tới một tài chính ngoại hối
chung. Đối với liên minh chính trị, các Nhà nước có liên quan từ bỏ những chủ
quyền chính trị của h
ọ và ủy quyền quyết định cho các thể chế trên quốc gia.
1.2. Lý thuyết khu vực hoá
Khu vực hoá đã trở thành một xu thế phát triển mạnh trên toàn thế giới
với sự ra đời của trên 40 tổ chức kinh tế, thương mại khu vực, trong đó đáng
chú ý là sự ra đời và phát triển của EU, ASEAN, APEC, ASEM, NAFTA
Hiện nay, các tổ chức kinh tế - thương mại khu vực đều dựa trên nền tảng của
quốc tế mà người khởi xướng là David Ricardo (1772-1823). Lý thuyết này xác
định những cái lợi của thương mại bằng cách chứng minh rằng trao đổi, với
những sự chuyên môn hóa mà nó tạo nên, đem lại lợi ích cho tất cả các bên
tham gia trao đổi. Mỗi nền kinh tế địa phương
ắt sẽ có lợi trong việc chuyên
môn hóa trong một hay một số khu vực có một lợi thế so sánh, cho dù đó là
nguồn nhân công dồi dào, rẻ tiền hay là tài nguyên khoáng sản và các tiềm năng
về năng lượng như than đá, dầu mỏ, …
Lý thuyết lợi thế so sánh đối lập với lý thuyết về tự cung tự cấp. John
Stuart Mill viết: Nếu hai nước mua bán với nhau tìm cách tập trung cả khả năng
vật chất c
ủa mình để sản xuất ra những thứ mà họ hiện đang nhập của nhau, thì
nhân công và tư bản hai nước sẽ không được sử dụng có hiệu quả, cả hai nước
gộp lại sẽ không thể thu được từ nền công nghiệp của mình một lượng hàng hóa
lớn như khi mỗi nước tìm cách sản xuất, cả cho bản thân mình cũng như cho
nước kia, những của cải mà nhân công sản xuấ
t của mính thành thạo hơn. Số
18
của cải sản xuất trội ra của hai nước kết hợp với nhau tạo thành cái lợi của
thương mại.
Dựa trên lí thuyết về lợi thế so sánh, ngày nay trên thế giới đã và đang
hình thành rất nhiều tổ chức liên kết về kinh tế nhằm phát huy lợi thế tối đa của
mình. Bắt nguồn từ lí thuyết này liên kết khu vực trở thành xu hướng tất yếu
trong quá trình hội nhập, xu thế khu vực hóa là một phần của xu thế toàn cầu
hóa đang diễn ra sôi động trên thế giới.
Theo quan điểm kinh tế - chính trị, xét trên quan hệ cung - cầu, thì hội
nhập khu vực có thể được xem như là một tiến trình tác động qua lại giữa cung
và cầu ở hai cấp: cấp quốc gia và cấp khu vực. Nói cách khác, ban đầu các quốc
gia có ước vọng thu được lợi ích thông qua hợp tác với nhau, tiếp đế
19
các lợi ích đó. Sự đồng nhất lợi ích giữa các quốc gia càng lớn thì nội dung hợp
tác giữa hai khu vực mở rộng hơn
Thứ tư là vấn đề thành viên: đây là một vấn đề nan giải trong các cuộc
thương lượng, bởi vì số lượng thành viên tăng lên đồng nghĩa với việc tính đa
dạng của các quốc gia thành viên và lợi ích quốc gia tăng lên, và điều đó gây
cả
n trở cho việc tìm ra giải pháp chung thỏa mãn lợi ích của các bên trong các
vến đề liên quan.
1.3. Lý thuyết “về sự phụ thuộc" trong liên kết kinh tế khu vực
Liên kết kinh tế khu vực là quá trình gắn kết nền kinh tế thị trường của
một quốc gia với nền kinh tế thị trường khu vực thông qua các biện pháp tự do
hóa và mở rộng thị trường ở các cấp độ đơn phương, song phương và đa
ph
ương. Quá trình liên kết khu vực là quá trình hội nhập từ hai quốc gia riêng
biệt trở lên cùng nhau hình thành các khối kinh tế khu vực rộng lớn.
Về hình thức, liên kết kinh tế khu vực được diễn ra theo hai hình thức:
liên kết thể chế và liên kết phi thể chế. Hình thức liên kết thể chế là một hình
thức liên kết chặt chẽ nhất trong một tổ chức mà ở đó buộc các nền kinh tế
thành viên phải cam kết th
ực hiện theo đúng quy định của tổ chức. Hình thức
phi thể chế là hình thức tham gia của các nền kinh tế trên cơ sở tự nguyện và
không có tính pháp lí chặt chẽ như hình thức theo thể chế. Hình thức này
thường phổ biến nhất theo hình thức diễn đàn.
Về các cấp độ liên kết, theo nhà kinh tế học người Anh Balassa, thì có 5
cấp độ liên kết kinh tế từ thấp đến cao như sau : khu vực th
ương mại tự do, liên
minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế và liên minh toàn diện. theo
5 cấp độ này, liên kết trong khu vực hiện nay chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc
là EU. Kể từ ngày 1/1/2002 đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12
quốc gia thành viên (khu vực đồng Euro).
Những thay đổi về kinh tế, xã hội và kĩ thuật cùng với sự gia tăng của
toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng làm cho nh
ững kết cấu của trật tự thế
giới trở nên phức tạp hơn và phần nào đã làm suy yếu (mặc dù có thể không chủ
định) quyền tự trị của mỗi quốc gia.
Trong trường hợp hình thành các khu vực tự do trao đổi, các rào cản
thương mại bị hủy bỏ giữa các nước có liên quan đối với toàn bộ sự lưu thông
hàng hóa, và không tồn tại chính sách thương mại chung đối v
ới các nước thứ
ba. Điều này diễn ra trong trường hợp một liên minh thuế quan mà ở đó các
biểu thuế hải quan chung đối với các nước thứ ba được thỏa thuận trong khi đối
với các quốc gia ở bên trong nội khối, thuế hải quan và các rào cản thương mại
phi quan thuế (hạn ngạch nhập khẩu, những hạn chế xuất khẩu tự nguyện) đã bị
hủy b
ỏ. Một thị trường chung thể hiện một liên minh quan thuế trong đó các
dịch chuyển của các nhân tố sản xuất như là lao động và vốn giữa các nhà nước
thành viên hoàn toàn được tự do hóa.
1.4. Liên kết ASEAN xét từ góc độ lý thuyết khu vực hoá, so sánh liên kết
ASEAN với các loại hình liên kết khu vực khác (EU, Mỹ La-tinh, châu Phi, Nam Á)
* Liên kết ASEAN xét từ góc độ lý thuyết khu vực hoá
Như đã đề cập ở trên, nền tảng của lý thuyế
t khu vực hóa bắt nguồn từ
thuyết “Lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế” với các bước tạo lợi thế so
sánh đó là:
- Ký kết và thực thi các Hiệp định ưu đãi mậu dịch song phương