LUẬN VĂN: Vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa pot - Pdf 11


LUẬN VĂN: Vai trò của kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa Phần thứ nhất: Giới thiệu đề tài

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước
công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu , nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Cơ chế quản lý kinh tế mới ở nước ta hiện nay

*Lý luận sự cần thiết khách quan dẫn đến nghiên cứu đề tài
*Kinh tế thị trường và các đặc trưng của kinh tế thị trường.
*Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
*Vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
*ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Do phạm vi rộng lớn và tính chất phức tạp của đề tài nhất là trong giai đoạn
hiện nay : trong quá trình chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sạng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên bài viết không thể đi sâu và phân tích
đầy đủ các vấn đề.
Phần hai: Nội dung chính của đề tài.

I: Kinh tế trị trường và các đặc trưng của Kinh tế trị
trường.
1.Bản chất của kinh tế trị trường.
Xuất phát từ khái niệm về kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở
trình độ cao, mà ở đó toàn bộ các yếu tố sản xuất đầu vào và sản phẩm đầu ra đều
thông qua thị trường và do thị trường quyết định. Ta có thể thấy bản chất của kinh tế
thị trường: là trong đó các chủ thể kinh tế trong xã hội đều hướng tới mục tiêu lợi
nhuận, lấy lợi nhuận làm động lực sản xuất kinh doanh, các vấn đề: sản xuất cái gì?
Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? đều do thị trường quyết định.
Chúng ta đang từng bước thực hiện những quá trình mang tính quy luật của
bước chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nước, với tự do hóa thương mại và tự do hóa giá cả là khâu
trung tâm đột phá từng bước tiến tới cơ chế thị trường đích thực, đó là một cơ chế phát
huy vai trò điều tiết của Nhà nước hình thành bước đầu của thị trường cạnh tranh làm
cho hàng hóa lưu thương, cân đối cung cầu, thoát khỏi khủng hoảng thiếu, giá cả được
ổn định dần, lạm phát được ngăn chặn.

càng phát triển mạnh. Khi trao đổi trở thành mục đích phổ biến và thường xuyên của
sản xuất thì kinh tế tự nhiên dần chuyển thành kinh tế hàng hoá.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá là quá trình khách quan. Trong lịch
sử, những quan hệ hiện vật, tự nhiên và quan hệ hàng hoá - tiền tệ tồn tại đan xen và
mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá cũng chính là sự xuất hiện
những tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định kinh tế hàng hoá . Mỗi bước
phát triển của kinh tế hàng hoá là một bước đẩy lùi kinh tế tự nhiên. Như vậy, quá
trình vận động và phát triển của kinh tế hàng hoá đã phủ định dần kinh tế tự nhiên và
khẳng định mình là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội độc lập
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng kinh tế hàng hoá
muốn ra đời và tồn tại được cần có hai điều kiện:
*Phân công lao động xã hội đã tạo ra những ngành nghề sản xuất khác nhau.
Do phân công lao động xã hội nên mỗi người chuyên sản xuất một loại hàng hoá nhất
định. Nhưng nhu cầu tiêu dùng của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để
thoả mãn nhu cầu này họ phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Làm nảy sinh quan hệ kinh
tế giữa những ngưới sản xuất.
*Trong điều kiện tư hữu về tư liệu sản xuất, những người sản xuất độc lập với
nhau và có lợi ích kinh tế khác nhau.
Phân công lao động xã hội phát triển cũng dẫn tới sự ra đời của ngành thương nghiệp.
Khi thương nghiệp ra đời quan hệ trao đổi đã có mầu sắc mới. Người sản xuất và
người tiêu dùng quan hệ với nhau qua nhân vật thứ ba là thương nhân. Thương nghiệp
phát triển làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá cùng với lưu thông tiền tệ được
phát triển nhanh chóng.
Quan hệ trao đổi ngày càng được mở rộng và phát triển đỏi hỏi hệ thống giao
thông vận tải cũng phải mở rộng và phát triển đây là điều kiện vật chất làm tăng thêm
các phương tiện trao đổi mở rộng thị trường.
2.2. Quá trình chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang nền kinh tế thị


3. Những đặc trưng của kinh tế thị trường .
Những đặc trưng chung nhất, vốn có của kinh tế thị trường :
Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao.
Các chủ thể trong nền kinh tế thị trường bao gồm các doanh nghiệp, các hộ kinh
doanh, các cá nhân và cả nhà nước. Họ chính là người đề ra các quyết sách kinh tế, các
quyết định trong kinh doanh, họ phải tự chụi trách nhiệm về tính khả thi của các quyết
sách, quyết định được ban hành, cũng như phải tự gánh chịu mọi rủi ro.
Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú.
Người ta tự do mua, bán hàng hoá. Trong đó người mua chọn người bán, người bán
tìm người mua. Họ gặp nhau ở giá cả thị trường. Đặc trưng này không thể có được
trong nền kinh tế hàng hoá kém phát triển. Chỉ trong nền sản xuất hàng hoá phát triển
cao của lực lượng sản xuất, của phân công và chuyên môn hoá lao động mới có được
đặc trưng này.
Ba là: Giá cả để hình thành ngay trên thị trường.
Giá cả thị trường vừa là biểu hiện bằng tiền của giá thị trường, vừa chịu sự tác động
của quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ. Trên cơ sở giá thị
trường, giá cả là kết quả của sự thương lượng và thoả thuận giữa người mua và người
bán. Đặc trưng này phản ánh yêu cầu của luật lưu thông hàng hoá
Bốn là: Cạnh tranh là một tất yếu của thị trường.
Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích
kinh tế. Tuy nhiên cần phân biệt cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật và bằng
những biện pháp kinh tế kỹ thuật qua đó nâng cao năng xuất lao động, số lượng và
chất lượng hàng hoá dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong kinh doanh.
Cạnh tranh lành mạnh là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh không lành mạnh là những quan hệ cạnh tranh được tiến hành bằng những

phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nói rõ được mô hình kinh tế
nước ta trong thời kỳ quá độ.
N
N
ó
ó
i

đ
ế
ế
n
nk
k
i
i
n
n
h
ht


n
n
h
hh
h
ư
ư


n
n
g
gx
x
ã
ãh
h


i

n
g
g
h
h
ĩ
ĩ
a
al
l
à
àn
n


n
nk
k
i
i
n


t
t
a
ak
k
h
h
ô
ô
n
n
g
gp
p
h
h


i
il

b
a
a
o
oc
c


p
p
,
,q
q
u
u


n
nl
l
ý


t
t
r
r
u
u
n
n
g
gq
q
u
u
a
a
n
nl
l
i
i
ê
ê
u


đ
ó
óc
c
ũ
ũ
n
n
g
gk
k
h
h
ô
ô
n
n
g
g


n
h
ht
t
ế
ết
t
h
h

ịt
t
r
r
ư
ư


n
n
g

c
h
hn
n
ó
ó
i
ic
c


a
at
t
ư
ưb
b


h


i
il
l
à
àk
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ết


n
nc
c
h
h

ủn
n
g
g
h
h
ĩ
ĩ
a
a;
;v


i
ih
h
o
o
à
à
n
nt
t
o
o
à
à
n
nl
l
à
à


ư


n
n
g
gx
x
ã
ãh
h


i
ic
c
h
h




n
h
h
ư
ưt
t
r
r
ê
ê
n
nc
c
h
h
ú
ú
n
n
g
gt

gt
t
a
ac
c
ò
ò
n

đ
a
a
n
n
g
gt
t
r

u
á
áđ
đ

ộl
l
ê
ê
n
nc
c
h
h

ủn
n
g

nc
c
ó
ós
s

ựđ
đ
a
a
n
nx
x
e
e
n
n



c
c
á
á
i
im
m


i
i
,
,v
v


a
ac
c
ó


y

đ

ủy
y
ế
ế
u
ut
t

ốc
c


a

h


i
i.
.
2
2
:
:c
c
á
á
c



n
nk
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ết
t
h
h

ịt

n
g
gx
x
ã
ãh
h


i
ic
c
h
h

ủn
n
g

t
h
h

ịt
t
r
r
ư
ư


n
n
g

đ


n
n
h
h


h

ủn
n
g
g
h
h
ĩ
ĩ
a
aở
ởV
V
i
i


t
t


ut
t

ổc
c
h
h


c
ck
k
i
i
n
n
h
ht


n
n
h
h


n
n
g
gn
n
g
g
u
u
y
y
ê
ê
n
nt
t


c


a
ak
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ết
t
h
h




at
t
r
r
ê
ê
n
nn
n
h
h


n
n
g
gn
n
g
g
u

s

ởk
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ếc
c


a
ac

i
,
,t
t
h
h

ểh
h
i
i


n
nt
t
r
r
ê
ê
n


h
h


u
u
,
,t
t

ổc
c
h
h


c
cq
q
u


p
p
h
h


i
i
.
.S
S
o
ov
v


i
ik
k
i

h

ủn
n
g
g
h
h
ĩ
ĩ
a
ak
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế


h
h


i
ic
c
h
h

ủn
n
g
g
h
h
ĩ
ĩ
a
ac

ư
n
n
g
gc
c
h
h

ủy
y
ế
ế
u
us
s
a
a
u
u
:

i
ế
ế
n
nl
l
ư
ư


c
cc
c


a

đ
ư
ư


i


n
nk
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ết
t
h
h




N
a
a
m
ml
l
à
àg
g
i
i


i
ip
p
h
h
ó
ó
n


đ


n
n
g
gv
v
i
i
ê
ê
n
nm
m


i
i


gv
v
à
àn
n
g
g
o
o
à
à
i
in
n
ư
ư


c
c


ô
n
n
g
gn
n
g
g
h
h
i
i


p
ph
h
o
o
á
á
,
,


x
â
â
y
yd
d


n
n
g
gc
c
ơ
ơs
s

ởv


t
tc
c
h
h
o
oc
c
h
h

ủn
n
g
g
h
h
ĩ
ĩ
a

c
a
a
o
oh
h
i
i


u
uq
q
u
u

ảk
k
i
i
n


i
it
t
h
h
i
i


n
nt
t


n
n
g
gb
b
ư

an
n
h
h
â
â
n
nd
d
â
â
n
n
,
,g
g


n
n


n
h
ht
t
ế
ếv
v


i
it
t
i
i
ế
ế
n
nb


x
x
ã
ãh
h


i
i
.
.*
*K
K
i
i
n
n
h
h


đ


n
n
h
hh
h
ư
ư


n
n
g
gx
x
ã
ãh
h


V
i
i


t
tN
N
a
a
m
ml
l
à
àn
n


n
n


t
h
h
à
à
n
n
h
hp
p
h
h


n
nt
t
r
r
o
o
n
n
g

ư


c
cg
g
i
i


a
av
v
a
a
i
it
t
r
r
ò

o
n
n
g

đ
i
i


u
uk
k
i
i


n
nh
h
i

n
h
ht
t
ế
ết
t
h
h

ịt
t
r
r
ư
ư


n
n
g

h
ĩ
ĩ
a
av
v
à
àk
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ết


h
h
ư
ư


n
n
g
gx
x
ã
ãh
h


i
ic
c
h

ns
s

ựq
q
u
u


n
nl
l
ý
ýv
v
ĩ
ĩ


c
,
,s
s
o
o
n
n
g

đ
i
i


u
uk
k
h
h
á

nc
c
h
h


t
tc
c


a
ah
h
a
a
i
in

t
ế
ết
t
h
h

ịt
t
r
r
u
u


n
n
g
gt
t
ư

,N
N
h
h
à
àn
n
ư
ư


c
cl
l
à
à
a
a
i
ic
c


p
pt
t
ư
ưs
s


n
n
,
,
ũ
ũ
n
n
g
gl
l
à
àt
t

ựd
d
o
od
d
â
â

à
àv
v


y
yN
N
h
h
à
àn
n
ư
ư


c
c
t
t
ế
ếl
l
à
àđ
đ

ểb
b


o
ov
v



a
a
i
ic
c


p
pt
t
ư
ưs
s


n
n
.
.t
t
r
r
ư
ư


n
n
g

đ


n
n
h
hh
h
ư
ư

n
n
g
g
h
h
ĩ
ĩ
a
aở
ởV
V
i
i


t
tn
n
a
a

N
N
h
h
à
àn
n
ư
ư


c
cc
c


a
ad
d
â
â
d
d
â
â
n
n
,
,v
v
à
àv
v


y
yN
N
h
h

p
pk
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ếl
l
à
àb
b



a

đ


i

đ
a
as
s

ốn
n
h
h
â
â
*
*T
T
r
r
o
o
n
n
g
gn
n


n
nk
k
i
i

g
gt
t


t
ty
y
ế
ế
u
up
p
h
h


i
i
ì
ì
n
n
h
ht
t
h
h


c
cp
p
h
h
â
â
n
np
p

t
t
ế
ết
t
h
h

ịt
t
r
r
ư
ư


n
n
g
gt
th
h
ì
ì
n
n
h
ht
t
h
h


c
cp
p
h
h
â
â

l
l
à
àp
p
h
h
â
â
n
np
p
h
h


i
it
t
h
h

ì
ì
n
n
h

đ

ộb
b
ó
ó
c
cl
l


t
t
,
,



n
n
g
g
,
,c
c
h
h

ủy
y
ế
ế
u
up
p
h
h

t
t
h
h
u
ul
l


i
in
n
h
h
u
u


n
nt
t

ư
ưb
b


n
n
.
.N
N


n
nk
k
i
i
n
n
h
h

đ
đ


n
n
h
hh
h
ư
ư


n
n
g
gx
x
ã
ãh
h

y
yp
p
h
h
â
â
n
np
p
h
h


i
it
t
h
h
e
e



n
n
g
gv
v
à
àh
h
i
i


u
uq
q
u
u


y
y
ê
ê
ú
ú
,
,b
b
ê
ê
n
nc
c


n
n
h
h


i
ic
c
á
á
c
ch
h
ì
ì
n
n
h
ht
t
h
h



c
cn
n


a

đ

ểv
v


a
ak
k
h
h

đ
đ


n
n
g
g
,
,v
v


a

đ


m
mb
b

b
b


n
n
.
.
III: vai trò kinh tế của Nhà nước.

1.Vai trò kinh tế của Nhà nước nói chung trong lịch sử:
Nhà nước luôn là vấn đề trung tâm của những cuộc đấu tranh chính trị. Mọi
Đảng trong cương lĩnh hoạt động của mình bao giờ cũng hướng mục tiêu vào việc
giành lấy chính quyền Nhà nước. Trong lịch sử phát triển có nhiều cách giải quyết
khác nhau về nguồn gốc và bản chất của Nhà nước. Theo một số quan điểm thì tôn
giáo là quyền lực của Thượng Đế ở trần gian cho đến khi giai cấp tư sản làm cách
mạng đã lên án quan điểm này, họ cho rằng Nhà nước xuất phát từ xã hội, để điều
khiển và quản lý xã hội. Theo họ thì Nhà nước là do nhân dân bầu ra và quyền lực
thuộc về nhân dân. Theo quan điểm của Mác, ông thừa nhận Nhà nước sinh ra từ xã
hội nhưng không phải là khế ước của xã hội mà nó xuất phát từ những mâu thuẫn giai
cấp không thể điều hòa. Mâu thuẫn này dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt để
đi đến một nhu cầu của xã hội là phải có một tổ chứ quyền lực đủ mạnh để duy trì xã
hội tồn tại trong một trật tự nhất định sao cho phù hợp với lợi ích của giai cấp thống
trị, tổ chức ấy chính là Nhà nước. Như vậy Nhà nước là công cụ bạo lực để thống trị
giai cấp, giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì giai cấp đó sẽ thống trị về mặt chính
trị (hay Nhà nước ). Nhà nước chính là công cụ để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.


trường và hoạt động của các doanh nghiệp. Việc đề cao “ bàn tay vô hình” và xem nhẹ
“ bàn tay Nhà nước” đã thực hiện ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) trong giai
đoạn tự do cạnh tranh đã đem lại sự tăng trưởng nhất định trong kinh tế. Tuy nhiên với
một thị trường tự do cạnh tranh hoạt động không có sự can thiệp của Nhà nước ngày
càng bộ lộ nhiều khiếm khuyết như tình trạng độc quyền, ô nhiễm môi trường, hoạt
động kinh tế chồng chéo, triệt tiêu nhau và đặc biệt là các chu ky kinh tế thể hiện
thông qua khủng hoảng kinh tế liên tục mà rõ nhất là thời kỳ đại suy thoái nền kinh tế
TBCN (1929 - 1933). Hơn nữa trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng cao đã chỉ cho
các nhà kinh tế học thấy rằng cần có sự can thiệp của Nhà nước vào các quá trình hoạt
động kinh tế, điều tiết nền kinh tế, nhà kinh tế học người Anh Meynard Keynes (1884
- 1946) người được coi là đã cứu sống CNTB thì lập luận rằng:
“ nguyên nhân đưa đến khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp gia tăng đó là Nhà nước
không can thiệp vào kinh tế hoặc can thiệp những chính sách kinh tế lạc hậu bảo thủ”.
Do vậy theo ông để hạn chế, ngăn chặn khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp thì phải can
thiệp vào kinh tế bằng những chính sách kinh tế vĩ mô thích hợp: đó là các chính sách
về tài chính tiền tệ lãi suất điều tiết ở tầng vĩ mô. Nhà nước trực tiếp phát triển các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ công cộng. Quan điểm này xuất phát
ở chỗ cho rằng sự tăng lên của thu nhập sẽ làm tăng lên tiêu dùng so với tiêu dùng giới
hạn nhưng sự tăng của tiêu dùng chậm hơn sự tăng của thu nhập dẫn tới cầu giảm, điều
này dẫn tới hàng hóa ế thừa từ đó sẽ dẫn tới tỉ suất lợi nhuận giảm. Nếu tỉ suất lợi
nhuận nhỏ hơn hoặc bằng lãi xuất thì chủ doanh nghiệp sẽ không có lãi khi vay vốn
đầu tư như vậy họ sẽ “ tháo lui đầu tư”. Điều này đưa nền kinh tế vào tình trạng trì trệ
khủng hoảng. Vì vậy theo Keynes Nhà nước cần phải can thiệp vào nền kinh tế, can
thiệp vào thị trường. Song khi đánh giá cao vai trò của Nhà nước ông lại bỏ qua vai trò
của thị trường tự do, bỏ qua vai trò của
“ bàn tay vô hình” và “ cân bằng tổng quát”. Hơn nữa, thêm vào đó là tình trạng
khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát xảy ra ngày càng trầm trọng. Điều này đã làm làn

cùng tham gia vào hoạt động kinh tế, đó là thị trường và Nhà nước. Vì vậy Nhà nước
giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế tự nhiên, sự can thiệp của Nhà nước ở
đây chỉ là tầm vĩ mô.

2.Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam :
Những năm trước giải phóng do điều kiện lịch sử lúc đó cho nên cơ chế quản lý
kinh tế của Nhà nước được sao chép gần như nguyên vẹn mô hình phát triển kinh tế xã
hội và cơ chế quản lý kinh tế của các nước XHCN với điển hình là Liên Xô cũ. Cơ chế
quản lý kinh tế của nước ta trong giai đoạn này đề cao công cụ kế hoạch hóa, kế hoạch
hóa mang tính pháp lệnh bắt buộc mọi ngành, mọi cấp cơ quan, đơn vị và cá nhân phải
tuân theo thông qua hệ thống chỉ tiêu kế hoạch để quyết định tất cả các vấn đề kinh tế
xã hội. Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp mang những
đặc điểm cơ bản:
- Nhà nước quản lý kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, điều này được
thể hiện ở sự chi tiết hóa các nhiệm vụ do Trung ương giao bằng một hệ thống chỉ tiêu
pháp lệnh từ một trung tâm.
- Các doang nghiệp, xí nghiệp cố gắng hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra, lãi
Nhà nước thu, lỗ Nhà nước bù, điều này mang tính chất không kinh tế.
- Các cơ quan hành chính - kinh tế cấp trên can thiệp quá sâu vào hoạt động
kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sử nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về mặt
vật chất đối với các quyết định của mình.
- Bỏ qua quan hệ hàng hóa tiền tệ, hiệu quả kinh tế quản lý và kế hoạch hóa
bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu do đó hạch
toán kinh tế chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức: bao
cấp qua giá, bao cấp qua tiền lương hiện vật (chế độ tem phiếu) và bao cấp qua cấp
phát vốn của ngân sách mà không ràng buộc vật chất với người được cấp phát vốn.

chính, sản xuất kinh doanh tự hạch toán cho các cơ sở, các xí nghiệp.
Thực tiễn đã chứng minh sau mười năm đổi mới, hiệu quả của nền kinh tế ngày
càng cao, tính quan liêu của cơ chế tập trung dần được khắc phục, khả năng lao động
sáng tạo của người sản xuất được khuyến khích. Thông qua đại hội Đảng IX một lần
nữa khẳng định cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển
kinh tế xã hội. Nó không những không đối lập mà còn là nhân tố khách quan cần thiết
cho xã hội, phát triển đất nước theo con đường XHCN vì vậy cần phải tiếp tục đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình
thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường chúng ta cần phải đánh giá được mặt tốt, mặt
xấu của cơ chế thị trường để từ đó có bước đi đúng đắn. Như vậy chúng ta có thể hiểu
được cơ chế thị trường là cơ chế từ điều tiết nền kinh tế hàng hóa do sự tác động của
các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh
tế là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Cơ chế thị trường bao
gồm các nhân tố cơ bản là cung, cầu và giá cả thị trường. Hiện nay vẫn còn tồn tại rất
nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế thị trường. Chẳng hạn theo Paul Samuelson thì
cơ chế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế trong cá nhân người tiêu dùng và các nhà
doanh nghiệp tác động lẫn nhau qua thị trường xác định 3 vấn đề trung tâm của tổ
chức kinh tế.
Cơ chế thị trường không phải là một sự hỗn độn mà là một trật tự kinh tế, là
một bộ máy kinh tế, là bộ máy tinh vi phối hợp một cách không có ý thức hoạt động
không có ý thức hoạt động của người tiêu dùng với các nhà sản xuất thông qua hệ
thống giá cả thị trường. Không ai tạo ra nó, nó tự phát sinh ra và phát triển cùng với sự
phát triển của kinh tế hàng hóa.
Dựa vào những kinh nghiệm thực tế của nhiều nước cho thấy thị trường không
phải là một liều thuốc vạn năng, bên cạnh những ưu điểm của nó thị trường cũng bộc

có thể hoạt động không mang lại hiệu quả kể cả trong cạnh tranh tự do và trong cạnh
tranh có sự chi phối của các tổ chức độc quyền. Bên cạnh đó cơ chế thị trường có thể
gây ra sự mất cân bằng và nhiều vấn đề xã hội. Cơ chế này cho phép tổ chức cà sản
xuất đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng có thể gây ra hnững bất bình đẳng lớn trong hệ
thống tổ chức kinh tế vì trong xã hội này không có lý do gì buộc cơ chế thị trường phải
phân phối sản phẩm một cách hợp lý. Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường thường tồn
tại những ngành kinh tế thiếu sự cạnh tranh vì ở đó mức lợi nhuận thấp, số vốn đầu tư
lớn, thời gian thu hồi vốn chậm nhưng lại rất cần cho sự tăng trưởng kinh tế và cần cho
việc giải quyết một số vấn đề xã hội.
Qua trên cho thấy nền kinh tế thị trường không phải là một hệ thống được tổ
chức hài hòa mà trong hệ thống đó chứa đựng rất nhiều các yếu tố phức tạp và nan giải
vì vậy để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường cần thiết
phải có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Từ đó hình thành nên khái niệm cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Theo bản chất của mình kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước không
chỉ vận động theo cơ chế thị trường, cũng không vận động theo cơ chế chỉ huy mà vận
động bởi sự tác động đồng thời của hai cơ chế đó. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà
nước với tư cách là người quản lý xã hội, đồng thời cũng là khách hàng lớn của các
chủ thể kinh tế. Nhà nước thường đảm bảo các dịch vụ bưu điện, thông tin liên lạc,
phát thanh truyền hình, giao thông vận tải. Nhà nước dùng pháp luật để điều hành,
dùng các chính sách đối nội, đối ngoại, chính sách kinh tế và những công cụ khác để
tác động vạch ra kế hoạch phát triển hạn chế những tiêu cực do kinh tế thị trường gây
ra, chống khủng hoảng và thất nghiệp. Sự can thiệp của Nhà nước một mặt làm định
hướng thị trường phục vụ tốt các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, mặt khác
nhằm sửa chữa khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường, tạo ra
những công cụ quan trọng điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô mà không vi phạm cơ chế
tự điều chỉnh ở tầm vĩ mô. Bằng cách đó Nhà nước kiềm chế sức mạnh nguy hiểm của
tính tự phát chứa đựng trong lòng thị trường đồng thời phát huy được những ưu thế
vốn có của kinh tế thị trường.


* Phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao, từ tổ
nhóm, hợp tác xã.
* Phát triển kinh tế tư bản Nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác và liên
doanh giữa kinh tế Nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa
kinh tế Nhà nước với tư bản nước ngoài.
- Tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế.
- Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo.
3.2. Lập kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội. Đây là tập hợp các
mục tiêu ở cấp quốc gia hay khu vực và các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu
đó. Nhà nước phải xây dựng các kế hoạch phát triển quốc gia dài hạn và trung hạn.
Cuối cùng các kế hoạch được cụ thể hóa bằng các kế hoạch hàng năm kết hợp với
hệ thống ngân sách của chính phủ và có tính đến viện trợ của nước ngoài đã được
phê duyệt. Kế hoạch Nhà nước phải quán triệt đường lối chủ trương của Đảng để
đưa ra một hệ thống các mục tiêu vĩ mô xác định tốc độ phát triển, cơ cấu và các
cân đối lớn của các chính sách, các giải pháp để dẫn dắt nền kinh tế theo chiều
hướng kế hoạch.
Kế hoạch Nhà nước phải bao quát các ngành các vùng, các lĩnh vực và các thành
phần kinh tế. Chương trình là tổ hợp các mục tiêu chính sách, các thủ tục, các quy tắc,
các nhiệm vụ, các bước tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng và các yếu tố cần thiết
khác để thực hiện một ý đồ lớn, một mục tiêu nhất định về phát triển kinh tế đất nước,
vùng và ngành. Không có chương trình thì chính phủ dễ có khuynh hướng làm những
điều mới thoạt nhìn thì có vẻ quan trọng nhưng chỉ là gạt bỏ những vấn đề lớn mà
không bắt tay vào thực hiện ngay từ đầu khi khó có thể thực hiện xong.
3.3. Thiết lập khuôn khổ luật pháp về kinh tế.
Theo chức năng này để quản lý nền kinh tế quốc dân Nhà nước phải tạo ra và
thực hiện một hệ thống pháp luật nói chung và một hệ thống về kinh tế nói riêng.
Bằng luật kinh tế Nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các tổ chức và đơn vị

3.6. Kiểm tra kiểm soát nền kinh tế.
Chức năng này đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát triển theo đúng kế hoạch
của Nhà nước. Với chức năng kiểm tra kiểm soát kinh tế Nhà nước có nhiệm vụ kịp
thời phát hiện những sai sót ách tắc đổ vỡ của quá trình phát triển kinh tế, phát hiện
các cơ hội cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân trong tương lai. Nội dung của chức
năng này là:
* Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch của các ngành các cấp.
* Kiểm tra kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực của đất nước.
* Kiểm tra kiểm soát việc thực hiện chủ trương chính sách pháp luật của Nhà
nước.
* Kiểm tra công cụ và chính sách quản lý.
* Kiểm tra việc thực hiện các chức năng của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực
quản lý kinh tế.
3.7. Điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế.
Đây là những tác động bổ sung của Nhà nước đến nền kinh tế thị trường nhằm
sửa chữa những sai sót, khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường tạo cơ hội phát triển
kinh tế.

4. các Giải pháp để đổi mới và hoàn thiện vai trò điều tiết và quản lý của Nhà
nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bài học kinh nghiệm đối với nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN không phải là hạ thấp mà tăng cường hơn nữa, nâng
cao hơn nữa năng lực, hiệu quả quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước. Để tăng cường
vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường cần chú ý đến một số biện pháp sau:
4.1. Xác định mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội phù hợp với đặc
điểm kinh tế xã hội nước ta và bối cảnh quốc tế hiện nay.
Bối cảnh quốc tế hiện nay đang đứng trước những diễn biến mới. Xu hướng

4.2.Tăng trưởng kinh tế và điều kiện tăng trưởng cao và bền vững.
- Nguồn vốn: Muốn tăng trưởng cao trong điều kiện nước ta cần có nguồn vốn lớn, vấn
đề có ý nghĩa quyết định ở đây là có những giải pháp hữu hiệu để thu hút vốn đầu tư
trong và ngoài nước. Tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút đầu tư trong nước.
Tăng cường biện pháp kinh tế vĩ mô để kiềm chế lạm phát, cải cách thủ tục hành chính
đảm bảo thủ tục gọn nhẹ trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài cho phù hợp với hệ thông lệ
quốc tế.
- Công nghệ phải nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao trình độ kỹ thuật công
nghệ của đất nước. Thực hiện chuyển giao công nghệ đối với mọi thành phần kinh tế.
Chuyển giao có gắn với bảo vệ môi trường tránh những công nghệ lạc hậu, gây ảnh
hưởng, ô nhiễm tới môi trường.
- Lao động: Mọi người lao động đang có việc làm tăng cường đầu tư cho giáo
dục và đào tạo nâng cao kỷ luật lao động trong công nhân.
- Giải quyết tốt quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát, tăng trưởng và dân số,
phân phối thu nhập và thị trường.
4.3. Đổi mới cơ chế quản lý và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước.
Tổ chức lại doanh nghiệp Nhà nước dựa trên hai tiêu thức cơ bản: tính chiến
lược và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cơ chế quản lý và chính sách cần xác định các quyền đại diện sở hữu hợp pháp
và địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước, quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà
nước.
Tổ chức lại cơ cấu quản lý nội bộ doanh nghiệp Nhà nước. Tránh hai khuynh hướng:
- Quan niệm vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước một cách máy móc,
muốn duy trì và phát triển doanh nghiệp Nhà nước một cách tràn lan mà không tính
đến hiệu quả kinh tế.
- Coi hình thức sở hữu là một nhân tố chủ yếu quyết định mọi hiệu quả kinh
doanh.

quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân để mọi công dân có đủ điều kiện , cơ hội được
tuyển vào làm việc trong cơ quan Nhà nước. Để quản lý nguồn nhân lực phải phân cấp
quản lý công chức, định rõ trách nhiệm quyền hạn của chính phủ bộ trưởng các cấp
hành chính.
Tóm lại, chiến lược cải cách hành chính phải lấy sự phát triển liên tục tốc độ
cao của kinh tế làm định hướng chiến lược và mục tiêu. Việc thực hiện cải cách hành
chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả nền hành chính quốc gia phải được xem là nhân tố
quyết định cho sự tăng trưởng phát triển kinh tế.
4.6.Các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước.
Nhà nước có thể sử dụng những công cụ sau để nâng hiệu quả điều tiết và quản
lý nền kinh tế :
* Tài chính: thông qua hai chức năng của tài chính là phân phối và giám sát chi
phối mọi hoạt động kinh tế của các chủ thể trong xã hội, với các công cụ tài chính như:
hệ thống thuế, ngân sách Nhà nước Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa công tác tài chính của chúng ta cần phải đổi mới đồng bộ:
Thứ nhất: đổi mới nền tài chính: chuyển từ nền tài chính đơn nhất( tài chính Nhà
nước) sang nền tài chính nhiều thành phần.
Thứ hai: đổi mới về cơ chế tài chính: chuyển từ cơ ché giao nộp cấp phát sang cơ chế
cho vay vốn.và các doanh nghiệp được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính.
Thứ ba: đổi mới về hệ thống tài chính. Chuyển từ hệ thống tài chính hai cấp sang hệ
thống tào chính thống nhất gồm 5 yếu tố sau:
-Tài chính doanh nghiệp.
-Tài chính hộ gia đình.
-Ngân sách Nhà nước.
-Tài chính đối ngoại.
-Các tổ chức tài chính trung gian


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status