LỜI NÓI ĐẦU
*Tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu:
Trong điều kiện biến động của tình hình kinh tế và môi trường kinh doanh
hiện nay, cần có một người điều hành, dẫn dắt doanh nghiệp đi đúng hướng. Chỉ
cần một sai lầm cũng có thể khiến cả doanh nghiệp bị nhấn chìm.
Quản trị là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả bằng sự
phối hợp các hoạt động của những người khác thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh
đạo và nguồn lực của tổ chức. Quá trình quản trị chiến lược như là một hướng đi,
một hướng đi giúp các tổ chức vượt qua sóng gió trên thương trường, vươn tới một
tương lai bằng chính nỗ lực và khả năng của mình. Đây là kết quả của sự nghiên
cứu khoa học, sự nghiên cứu dựa trên cơ sở thực tiễn kinh doanh của rất nhiều công
ty. Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn thay vì bị động
trong việc vạch rõ tương lai của mình, nó cho phép tổ chức có thể đi tiên phong và
gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động.
Khi mà nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập với nền kinh tế thế giới
thì ngân hàng thương mại là một trung gian có vai trò quan trọng trong việc liên kết
các thành phần kinh tế của quốc gia với nhau. Hoạt động của hệ thống ngân hàng
thương mại có khả năng tác động rất lớn tới nền kinh tế nước nhà, mà trong đó vai
trò điều tiết, hỗ trợ từ phía ngân hàng nhà nước là vô cùng quan trọng. Hiện nay,
trong bối cảnh nền kinh tế đang cạnh tranh khốc liệt, để đứng vững và phát triển
ngay tại thị trường tài chính trong nước đã là một thách thức không nhỏ đối với ban
quản trị của mỗi ngân hàng thương mại. Trước tình hình này, một tầm nhìn chiến
lược cùng với sự nhạy bén, thích nghi với sự thay đổi liên tục của nền kinh tế của
ban quản trị là vô cùng cần thiết.
Tất cả các tổ chức cho dù là một ngân hàng, một doanh nghiệp, một cơ quan
Nhà nước, một tổ chức từ thiện hay một trường Đại học đều chịu sự ảnh hưởng với
những mức độ khác nhau từ các yếu tố cấu thành nên tổ chức ấy và các lực lượng
của môi trường xung quanh. Văn hóa, xã hội là một trong những nhân tố ảnh hưởng
rất lớn tới hoạt động của các ngân hàng. Vì vậy, nhóm 1 chọn đề tài: “Phân tích
những yếu tố môi trường ảnh hưởng tới hoạt động quản trị của ngân hàng thương
mại”, trong đó phân tích chính vào yếu tố văn hóa, xã hội. Nghiên cứu về đề tài này
Một doanh nghiệp khi hoạt động sẽ chịu sự tác động của các nhân tố môi trường
(Môi trường chỉ những định chế hay lực lượng bên trong và bên ngoài tác động đến
hoạt động quản trị của tổ chức – giáo trình Quản trị học căn bản). Môi trường được
chia thành:
- Môi trường bên ngoài gồm: Môi trường chung và môi trường đặc thù
- Môi trường bên trong.
• Môi trường chung:
+ Các yếu tố kinh tế vĩ mô
+ Các yếu tố chính trị, luật pháp
+ Các yếu tố xã hội
+ Các yếu tố tự nhiên
+ Các yếu tố công nghệ
• Môi trường đặc thù:
+ Khách hàng
+ Nhà cung cấp
+ Đối thủ cạnh tranh
+ Sản phẩm thay thế
• Môi trường bên trong ổ chức (nội bộ).
Đề tài của nhóm 1 là: “Nghiên cứu ảnh hưởng của cá yếu tố bên ngoài chung
đến các ngân hàng thương mại của Việt Nam. Chọn một trong 6 yếu tố. Nhóm em
tập chọn yếu tố xã hội nên sau đây em xin đề cập rõ hơn ảnh hưởng của các yếu tố
xã hội tới hoạt động của doanh nghiệp (có tham khảo lý thuyết của Michael Porter).
Mỗi tổ chức kinh doanh đều hoạt động trong môi trường văn hóa - xã hội
nhất định. Doanh nghiệp và môi trường văn hóa xã hội đều có mối liên hệ chặt chẽ,
có sự tác động qua lại lẫn nhau. Xã hội cung cấp những nguồn lực mà doanh
nghiệp cần, tiêu thụ những hàng hóa – dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra.
Các giá trị chung của xã hội, tập tục truyền thống, lối sống của doanh nghiệp,
các hệ tư tưởng tôn giáo và cơ cấu dân số, thu nhập của dân cư đều có tác động
nhiều mặt đến hoạt động của tổ chức kinh doanh.
1) Dân cư
sống tốt, có khả năng trình độ và làm tại những vị trí ổn định của xã hội nhưng họ
thích sống độc thân, không muốn phải có trách nhiệm về gia đình, công việc sinh
con đẻ cái… Những yếu tố này đã khiến các doanh nghiệp của Đức nảy sinh các
dịch vụ, các câu lạc bộ, các hàng hóa cho người độc thân.
II) Sự tác động của các nhân tố văn hóa, xã hội tới ngân hàng thương mại.
Dẫn chứng cụ thể vào ngân hàng Agribank
*Đôi nét về ngân hàng Agribank:
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo
Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát
triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng
Nhà nước: tất cả các chi nhành Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng Nông
nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhành Ngân hàn Nhà nước tỉnh, thành phố. Ngân
hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng
Nông nghiệp Ngân hàn Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương
nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị.
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân
hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt
dộng của mình trước pháp luật.
1) Dân số và phân bố dân cư
Dân cư là điều mà tất cả các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
dịch vụ đều phải nghĩ đến trước khi bắt đầu kinh doanh. Dân chúng chính là khách
hàng, người tiêu dùng sản phẩm của họ đồng thời trả tiền cho doanh nghiệp để
doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Đối với mỗi ngân hàng cũng vậy.
- Ban đầu, khi Agribank mới được thành lập, mục tiêu chính là hộ trợ
nông dân phát triển sản xuất. Khi đó điều kiện kinh tế còn chưa cho phép nên
người đi tiên phong.
+ Ví dụ thứ 2 mà chúng tôi muốn nêu ra ở đây là chi nhánh Agribank
Côn Đảo (được thành lập ngày 11/8/2012 tại huyện Côn Đảo)
Côn đảo có vị trí địa lí thuận lợi, là nơi có di tích lịch sử đặc biệt
mang tàm cỡ quốc tế và quốc gia. Với những lợi thế về tự nhiên Côn
Đảo có rất nhiều đặc điểm và lợi thế để phát triển kinh tế trên nhiều
lĩnh vực ngành nghề, đặc biệt là du lịch sinh thái, các dịch vụ chất
lượng cao. Với dân số khoảng 6500 người, có 10 khu đô thị dân cư,
diện tích là 75,2km2. Kinh tế ở Côn Đảo ngày càng phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt là nghỉ dưỡng du lịch Côn đảo đang thực hiện mục tiêu
xây dựng côn đảo trở thành khu du lịch, dịch vụ chất lượng cao tầm
cỡ quốc gia và quốc tế.
Khi đất nước không còn trong thời kì bao cấp, xu hướng phát triển của cả
quốc gia là phát triển công nghiệp và dịch vụ thì vấn đề của một doanh nghiệp là
lợi nhuận và phát triển bền vững. Điều này cũng có tác động rất lớn tới định hướng
và những quyết định của Agribank. Trong tình thế đó, Agribank vừa tập trung đầu
tư vào những khu vực có kinh tế phát triển mạnh (thành lập chi nhánh Agribank
Côn Đảo) để thu lợi nhuận nhanh, đồng thời đầu tư vào những khu vực có tiềm
năng phát triển như huyện Tuy Đức nhằm hướng tới những mục tiêu lâu dài cho
doanh nghiệp.
2) Văn hóa, lối sống và chuẩn mực đạo đức
"Văn hóa, lối sống chuẩn mực đạo đức" ảnh hưởng như thế nào tới các
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
* Văn hóa:
Mỗi quốc gia đều có một nền văn hóa riêng, văn hóa chính là yếu tố tạo nên
bản sắc của các dân tộc như: tập quán, thói quen, tâm lý. Đối với ngân hàng
hoạt động chủ yếu là huy động vốn sẽ chịu ảnh hưởng lớn của môi trường
văn hóa:
- Ở các nước phát triển, người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để
hưởng những tiện ích trong thanh toán, hưởng lãi. Trong tiềm thức họ, ngân
Tại khu vực nông thôn, chủ yếu là phát triển các hình thức cho vay linh hoạt
như: cho vay theo hạn mức tín dụng; cho vay lưu vụ đối với hộ nông dân; cho vay
mua sắm hàng tiêu dùng, vật dụng gia đình; Đặc biệt, gần đây Agribank còn
cung cấp dịch vụ cho vay với thế chấp là vật nuôi và phải đi kèm bảo lãnh của
chính phủ. Chính sách này đã giúp hỗ trợ rất nhiều cho người chăn nuôi có thể tiếp
tục sản xuất, nhất là trong bổi cảnh giá các chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất
tăng quá nhanh.
Tại khu vực thành thị, Agribank lại hướng tới việc kiếm lời từ các dịch vụ
khác nhiều hơn là cho vay. Bằng việc cung cấp rất nhiều dịch vụ tiền gửi như: tiền
gửi có kỳ hạn trả lãi sau toàn bộ; tiền gửi có kì hãn trả lãi định kì; tiền gửi có kỳ
hạn trả lãi trước toàn bộ và tiền gửi có kỳ hạn lãi suất tăng theo thời gian. Sẽ không
nhiều ngân hàng trả trước lãi suất cho khách hàng như vậy. Có thể nói đây là chính
sách thu hút vồn rất hay của Agribank trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái, người
dân không muốn gửi tiền vào các ngân hàng.
Tiểu kết:
Nhận thấy tầm quan trọng của các yếu tố văn hóa xã hội, Agribank đã đầu tư
một cách hợp lý để phát triển hệ thống một cách toàn diện nhất. Từ những dịch vụ
cho vay ở nông thôn cho đến việc thu hút đầu tư ở các thành phố lớn, Agribank đã
và đang đi rất đúng hướng. Các ngân hàng nói chung cũng như các doanh nghiệp
sản xuất dịch vụ nói riêng nên học tập Agribank trong việc quản lý doanh nghiệp
cho phù hợp với môi trường văn hóa xã hội tại Việt Nam.
3) Một số tồn tại chưa tốt của ngân hàng và đề suất phương án giải
quyết.
- Kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình rõ rệt trong
những năm gần đây. Việc có nhiều người khu vực nông thôn nắm
trong tay hàng tỉ đồng hiện nay không còn là điều gì đó quá bất ngờ.
Vậy mà việc quảng cáo về những chương trình tiền gửi hấp dẫn thì
hầu như không hề có. Tại các khu vực nông thôn mới ngày nay đang
có những khách hàng rất tiềm năng, cần được quan tâm, chăm sóc
ngay từ bây giờ. Thế nên cần có những chiến lược để thu hút lượng