TIỂU LUẬN:
Một số giải pháp góp phần hoàn thiện
chính sách nâng cao chất lượng sản
phẩm ở công ty Tiêu Chí Vàng
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường sôi động như hiện nay, thông tin kinh doanh đang
được lợi dụng để làm giàu, nhiều nhà sản xuất , các đại lý đã có lúc xem nhẹ những
lợi ích đích thực của người mua hàng, khi cung ứng cho họ những sản phẩm không
đạt chất lượng. “Nếu một món hàng nào mà bạn định mua có mức giá rẻ hơn bình
thường, hãy xem xét kỹ bảng hiệu đã chế tạo ra chúng, để có thể thẩm định uy tín
về chất lượng sản phẩm đó đến đau. Nếu lời mời chào mua hàng quá hoa mỹ, đang
rót vào nhu cầu mua của bạn những lời đường mật, hãy bình tâm lại để xem xét tính
Chương III: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách nâng cao chất
lượng sản phẩm ở công ty Tiêu Chí Vàng.
Chương I: sản phẩm và chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm trong
marketing – mix I. Sản phẩm.
Tất cả các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh trên thị trường đều có mục đích
duy nhất là thoả mán các nhu cầu của người tiêu dùng từ đó tìm kiếm lợi nhuận. Có
nghĩa là các sản phẩm làm ra của doanh nghiệp đều được đem bán, trao đổi trên thị
trường. Đây là đặc điểm khác biệt giữa nền kinh tế hàng hoá (kinh tế thị trường) với
nền kinh tế thời kỳ bao cấp trước đây. Thời kỳ bao cấp sản phẩm làm ra chỉ thoả
mãn nhu cầu nội bộ hoặc đem phân phối theo yêu cầu Nhà nước, các sản phẩm đó
chưa phải là hàng hoá. Trong nền kinh tế hàng hoá, sản phẩm làm ra của các doanh
nghiệp phải được đem ra thị trường "cân, đo" giá trị của nó, thông qua trao đổi với
các đơn vị giá trị khác, nếu không sản phẩm đó chưa được gọi là hàng hoá.
1. Khái niệm.
"Sản phẩm được hiểu là tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ có thể đem chào bán ,
có khả năng thoả mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người, gây sự chú ý,
kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ" (Marketing - ĐH KTQD ).
Với cách định nghĩa đó, sản phẩm không có sự phân biệt với hàng hoá, vì
quan niệm rằng, trong nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm là kết quả của khâu sản
xuất, trước khi đi vào tiêu dùng, đều được trao đổi qua thị trường. Hay nói cách
khác thị trường đã là hàng hoá mọi sản phẩm dịch vụ, đặt các nhu cầu mua, cũng
như những hành vi sản xuất để bán, dưới sự điều tiết khắc nghiệt của các quy luật
kinh tế khách quan của thị trường.
2. Phân loại sản phẩm.
Theo khái niệm trên, sản phẩm hàng hoá được chia thành 2 loại: hàng hoá hữu
hình và hàng hoá vô hình.
ngoài, đặc thù, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc trưng của bao gói. Trong thực tế, khi tìm
mua những lợi ích cơ bản, khách hàng dựa vào những yếu tố này. Và cũng nhờ hàng
loạt các yếu tố này nhà sản xuất khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trường,
để người mua tìm đến doanh nghiệp, họ phân biệt hàng hoá của hãng này so với
hãng khác.
3.3. Sản phẩm - hàng hóa bổ sung.
Đó là những yếu tố như: tính tiện lợi cho việc lắp đặt, những dịch vụ bổ sung
sau khi bán, những điều kiện bảo hành Nhờ các yếu tố này đã tạo ra sự định giá
mức độ hoàn chỉnh khác nhau, trong nhận thức của người tiêu dùng, về mặt hàng
hay nhãn hiệu cụ thể. Nó góp phần tăng cường sức cạnh tranh của các nhãn hiệu
hàng hoá.
4. ý nghĩa của sản phẩm – hàng hóa.
Dù là hàng hoá hay dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng (tức là nhu cầu mua và có khả
năng thanh toán) chỉ xuất hiện khi hàng hoá dịch vụ đó đem lại cho người mua một
hay nhiều lợi ích nào đó. Như vậy những hàng hoá hay dịch vụ mà người kinh
doanh đem bán chỉ là phương tiện truyền tải những lợi ích mà người tiêu dùng chờ
đợi. Những lợi ích đó lại phụ thuộc vào nhu cầu và ước muốn của người tiêu dùng.
Do vậy nhiệm vụ đặt ra cho các nhà kinh doanh là phải xác định chính xác nhu cầu,
mong muốn và do đó, lợi ích mà người tiêu dùng cần được thoả mãn, để từ đó sản
xuất và cung cấp những hàng hoá và dịch vụ có thể đảm bảo tốt nhất những lợi ích
cho người tiêu dùng.
II. Chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm trong Marketing – Mix.
Trước một quyết định tiêu dùng của người mua, lợi ích của hàng hoá và dịch
vụ mang lại biểu hiện dưới nhiều tiêu thức khác nhau. Song chung qui lại, có thể
lượng hoá lợi ích của hàng hoá và dịch vụ trên 2 mặt chủ yếu: số lượng và chất
lượng. Số lượng là khái niệm của chỉ lượng của sản phẩm mà người tiêu dùng nhận
được khi họ trao đổi mua bán trên thị trường. Số lượng là hình thái hữu hình, là
những hiện vật cụ thể mà con người có thể quan sát trực tiếp. Số lượng cũng là một
nhu cầu cơ bản của loài người vì "con người thích nhiều hơn ít". Nhưng nhu cầu về
giá bán, mời chào người mua, hứa hẹn những dịch vụ tốt nhất với khách hàng "thị
trường giống như cái sân chơi trên đó các nhà kinh doanh tha hồ thi thố tài lực của
mình. Ai chiếm được nhiều phần sân chơi nhất, sẽ hành động thuận lợi, kinh doanh
phát triển, ngược lại, ai đuối sức hơn, sẽ bị đối thủ cùng chơi lấn át, và kết cục, anh
ta sẽ nhận lấy phần thất bại" (Paul Sammelson - Kinh tế học tập I ).
Về mặt lý thuyết, chất lượng sản phẩm liên quan đến các yếu tố sau:
+ Công nghệ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp trong việc sản xuất sản phẩm.
+ Tay nghề bậc thợ của lao động trực tiếp sản xuất, trình độ chuyên môn của
các nhà quản lý trong việc tổ chức sản xuất.
+ Các quyết định về bao bì, mẫu mã sản phẩm, đóng gói, nhãn hiệu
+ Các quyết định trong việc ưu đãi và quan tâm đến người lao động.
+ Các dịch vụ khác đi kèm để thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng.
2. Yêu cầu cấp thiết của chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm.
Do đó, để tránh phá sản, để chiếm lĩnh lòng tin của khách hàng để mở rộng thị
trường tiêu thụ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải bằng mọi biện pháp chạy đua với
nhau, cạnh tranh với nhau. "Nâng cao chất lượng sản phẩm" là một biện pháp,là một
chính sách hữu hiệu nhất mà các doanh nghiệp sử dụng để tăng thêm uy tín, tăng
sức cạnh tranh trên thị trường. Nó không chỉ giúp cho doanh nghiệp tồn tại, đứng
vững và vươn lên ở hiện tại mà còn giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phát triển
mở rộng trong tương lai.Chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là phương
châm để duy trì "sự sống" của sản phẩm, cũng là cách duy trì sự sống của doanh
nghiệp. Bởi vì nói như Kono Suke Matsuhita - Chủ tịch tập đoàn điện tử hàng đầu
Nhật Bản :"Nếu cho rằng mọi hàng hoá có linh hồn, thì chất lượng chính là linh hồn
của nó" (Bản lĩnh trong kinh doanh và cuộc sống - NXB chính trị quốc gia
1994).Chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm cần đến nhiều nỗ lực và thái độ
của các nhà sản xuất. Chỉ khi các nhà sản xuất thấy yêu cầu về chất lượng sản phẩm
không phải từ phía người mua, mà từ chính sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, lúc đó chất lượng sản phẩm sẽ là một mục tiêu quan trọng không kém mục
tiêu lợi nhuận. Chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm có thể thực hiện thông qua
nghiệp phải là tốt nhất để thu hồi vốn nhanh, vòng sản xuất của doanh nghiệp không
bị gián đoạn.
- Thiết bị công nghệ được mua phải tương xứng với trình độ hiểu biết và
chuyên môn của người lao động trong doanh nghiệp. Có như vậy họ mới vận hành
máy móc được chính xác, sản phẩm làm ra đảm bảo yêu cầu chất lượng.
Đáp ứng hai yêu cầu trên thì việc đầu tư công nghệ sản xuất của doanh
nghiệp sẽ cho kết quả tốt, tránh sự lãng phí vốn sản xuất mà tình hình sản xuất
không được cải thiện.
3.2. Giải pháp về con người.
Nâng cao tay nghề, bậc thợ cho người lao động trong doanh nghiệp, đây là
yếu tố quan trọng nhất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Bởi lẽ máy móc thiết bị dù
hiện đại đến đâu cũng do con người làm ra. Người lao động vận hành máy móc
chính xác mới tạo ra các sản phẩm hoàn thiện, đa tính năng. Bên cạnh đó năng suất
lao động của công nhân phản ánh năng suất lao động của toàn doanh nghiệp trình
độ tay nghề chuyên môn, bậc thợ tay nghề của người lao động quyết định sự thành
bại của doanh nghiệp. Với cùng các yếu tố đầu vào các các yếu tố môi trường như
nhau thì người lao động nào có trình độ hơn sẽ tạo ra được số sản phẩm nhiều hơn
và đẹp bền hơn. Mà trong cơ chế thị trường cạnh tranh hiện nay, với các sản phẩm
cùng loại, sản phẩm nào có sự cải tiến độc đáo, có giá trị sử dụng cao, tức là có các
đặc tính thoả mãn những nhu cầu của người tiêu dùng, thì sản phẩm đó sẽ được
người tiêu dùng ưa chuộng, tín dùng. Và vì vậy, sản phẩm đó sẽ tìm được một chỗ
đứng trên thị trường, ngược lại các sản phẩm bị đào thải dần dần. Do đó yêu cầu
nâng cao tay nghề, bậc thợ cho người lao động là một yêu cầu cấp bách của các
doanh nghiệp. Nâng cao tay nghề bậc thợ cho người lao động cũng là cách nâng cao
chất lượng sản phẩm làm ra cuả doanh nghiệp, cũng là cách để duy trì sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Nâng cao tay nghề, bậc thợ cho người lao động có thể
thực hiện bằng nhiều cách khác nhau:
- Doanh nghiệp có thể cử một bộ phận lao động của mình đi học, bồi dưỡng
thêm kiến thức chuyên môn đang công tác, hoặc đào tạo cho họ một lĩnh vực mới,
trường "khó tính" mà đối thủ của nó phải bó tay. Thành công trong cạnh tranh là
"Doanh nghiệp biết làm những việc mà doanh nghiệp không thể làm được".
3.4. Giải pháp về hệ thống dịch vụ Marketing.
Để hoàn thiện chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm còn kết hợp nhiều
yếu tố khác nữa. Đó là đẩy mạnh hoạt động của hệ thống dịch vụ Marketing của
doanh nghiệp, nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nắm vững thị trường mà nó đang
phục vụ, hiểu về đối thủ, cung cấp cho người quản lý những thông tin nhanh, chuẩn
xác về mọi khâu của quá trình tái sản xuất, về nhu cầu của người tiêu dùng, giúp
cho doanh nghiệp hoàn thiện hơn các sản phẩm nó đang cung ứng. Đó là việc doanh
nghiệp tổ chức các dịch vụ đi kèm bổ trợ cho sản phẩm như dịch vụ hướng dẫn, tư
vấn, dịch vụ lắp đặt Nó làm tăng thêm tính hoàn chỉnh của sản phẩm tới tay người
tiêu dùng, cũng từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm.
4. ý nghĩa của chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm trong Marketing – Mix:
Tóm lại, chất lượng sản phẩm là 1 chỉ tiêu khái quát. Trong thực tế nó thường
được phản ánh qua những tham số và đặc tính khác nhau tuỳ thuộc từng loại hàng
và nhất thiết phải do quan niệm của người tiêu dùng quyết định. Nâng cao chất
lượng sản phẩm vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện, vừa đặt ra yêu cầu, vừa tạo động
lực giúp các doanh nghiệp đứng vững trong cạnh tranh. Nâng cao chất lượng sản
phẩm đòi hỏi các doanh nghiệp phối kết hợp nhiều yếu tố, tạo ra các sản phẩm có
nhiều tính năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.
Chương II: công ty tiêu chí vàng và thực trạng về chính sách nâng cao chất
lượng sản phẩm
I. Tổng Quan về công ty tiêu chí vàng.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
In ấn là một nghành công nghiệp hiện đại, các sẩn phẩm của nghành phải đạt
đánh giá là đạt "hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001 :
2000".
2. Bộ máy tổ chức và quản lý của Công ty.
Cơ cấu tổ chức của Công ty được chia thành 4 phòng và 4 phân xưởng.
2.1. Các phòng ban quản lý
+ Phòng Tổ chức - Hành chính: Làm công tác tham mưu và giúp việc cho
Giám đốc trong việc tổ chức tất cả các công việc liên quan đến cán bộ, phát triển tay
nghề, ra các quyết định khen thưởng, kỷ luật chịu trách nhiệm về các thủ tục hành
chính, cung cấp, lưu trữ, bảo vệ tài sản của Công ty và tiếp khách hội nghị.
+ Phòng Tài chính - Kế toán: Làm tham mưu giúp việc cho Giám đốc về các
mặt tài chính, tổ chức hạch toán kinh tế các hoạt động sản xuất kinh doanh như: kế
toán tiền lương, chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và quyết toán đối với Nhà
nước.
+ Phòng Kế hoạch - Sản xuất: Có nhiệm vụ giao dịch, tìm việc làm cho Công
ty, ký kết hợp đồng kinh doanh, theo dõi tình hình sản xuất của Công ty, theo dõi
các hợp đồng kinh doanh, soạn thảo các văn bản, công văn.
+ Phòng Vật tư - Kinh doanh: Đây là nơi theo dõi tình hình kinh doanh và
cung ứng vật tư của Công ty.
2.2. Các phân xưởng sản xuất
+ Phân xưởng chế bản: Có nhiệm vụ chế bản vi tính, bình bản, phối bản và
sửa bản tạo ra những bản in được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho
quy trình in.
+ Phân xưởng in Offset: Có nhiệm vụ kết hợp bản in, giấy và mực in để tạo
ra những trang in đúng yêu cầu kỹ thuật.
+ Phân xưởng bao bì - Flexo: Có nhiệm vụ sản xuất các loại bao bì màng
mỏng, PP, PE, OPP, màng xốp, bao bì giấy tráng màng mỏng, sau đó in và gia công
chúng lên máy in Flexo, in lưới bể hợp.
+ Phân xưởng sách: Có nhiệm vụ khâu, đóng sách để hoàn thiện sản phẩm.
Tất cả các bộ phận dưới sự chỉ đạo chung của Ban Giám đốc gồm một Giám
đối gọn nhẹ quản lý theo chế độ một thủ trưởng đứng đầu là giám đốc công ty,
người có quyền lãnh đạo cao nhất chịu mọi trách nhiệm với Nhà nước cũng như đối
với cán bộ công nhân viên về mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Giúp việc cho
giám đốc có 1 Phó Giám đốc, 1 Kế toán trưởng, 1 trợ lý kế hoạch, 1 trợ lý mỹ thuật
và một số chuyên viên khác.
Số cấp quản trị được chia làm 3 cấp:
+ Quản trị cấp cao: gồm Giám đốc và Phó Giám đốc.
+ Quản trị cấp thừa hành: gồm các trưởng phòng chức năng.
+ Quản trị viên thực hiện: gồm những người có nhiệm vụ chuyên môn như kế
toán, mỹ thuật, các quản đốc phân xưởng.
Phó Giám
đốc sản
xu
ấtGiám đốc
Phó Giám
đốc nội
chính
Phòng
Tổ
ch
ức
Phòng
Tổ
ch
ức
Phân
xưởn
g
sách Kho
3. Một số đặc điểm về ngành hàng và thị trường của Công ty
3.1. Đặc điểm về sản phẩm sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm sản xuất của Công ty phục vụ và đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Tuỳ theo tựng loại sản phẩm cụ thể như về các ấn phẩm, sách báo, văn hoá phẩm và
các biểu mẫu kinh tế mà kết cấu và kích thước của mỗi sản phẩm là khác nhau.
Sản phẩm của Công ty nhìn chung khá đa dạng phức tạp, không cố định, phụ
thuộc vào nhu cầu của khách hàng cho nên đối với khách hàng này có thể là đẹp, là
chất lượng tốt nhưng đối với khách hàng khác lại chưa đạt chất lượng theo yêu cầu.
Sản phẩm của Công ty đòi hỏi kiến thức đa dạng phong phú, từ những ngôn
ngữ bình thường đến các từ khoa học ở nhiều lĩnh vực, do đó cách bố trí lao động ở
các khâu, đặc biệt là khâu chế bản phải có một trình độ am hiểu trên nhiều lĩnh vực.
Sản phẩm in là các sản phẩm được sản xuất theo đơn đặt hàng vì thế nó
không giống các sản phẩm khác ở chỗ tự thiết kế sản xuất và tiêu thụ mà bằng chính
chất lượng sản phẩm của chính mình để thu hút khách hàng đến ký kết hợp đồng
sản xuất và tiêu thụ.
Các sản phẩm giấy của Công ty hiện có mặt trên khắp các siêu thị và các
khách sạn nhà hàng và công ty ở khu vực phía bắc. Công ty còn được sự tín nhiệm
của hàng trăm bạn hàng thường xuyên đặt in và gia công đủ các loại ấn phẩm chế
bản kin Flexo phục vụ các cơ sở in ở khắp mọi miền. Mặc dù thị trường hiện nay
khắc nghiệt nhưng công ty đã chọn cho mình một hướng đi riêng.
Với đặc điểm như vậy công ty ngày càng được khách hàng biết đến và hợp
chuyền in Offset khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối, Công ty còn có dây chuyền
khác là dây chuyền sản xuất bao bì Flexo. Việc sản xuất sản phẩm dựa trên công
nghệ chủ yếu sau:
+ In Lazar điện tử: Phục vụ cho việc soạn thảo tài liệu gốc, chứng từ ban đầu
với những tài liệu đòi hỏi chất lượng cao.
+ In Offset: In tranh ảnh, sách báo, tạp chí, quảng cáo.
+ In Flexo: Sử dụng bản in bằng chất dẻo in lên chất liệu có tính nhẹ mỏng
như nilon, giấy bóng.
Để tạo ra sản phẩm in hoàn chỉnh, quá trình sản xuất phải trải qua các bước
quy trình công nghệ sau:
+ Lập Market: Khi nhận được mẫu gốc, trên cơ sở nội dung in, bộ phận
Market sẽ tiến hành bố trí các trang in như sau: tranh ảnh, cột dòng, kiểu chữ, màu
sắc
+ Tách màu điện tử: Đối với các bản in cần màu sắc như tranh ảnh mỹ thuật
chữ màu được đem chụp tách màu, mỗi màu được chụp ra một bản riêng thành 4
màu: vàng, đỏ, đen, xanh. Việc tách màu điện tử và lập Market được tiến hành đồng
thời.
+ Bình bản: Trên cơ sở Market tài liệu và phim tách màu, bình bản làm
nhiệm vụ bố trí tất cả các loại chữ, hình ảnh có cùng một màu vào các tấm Mica
theo từng trang in.
+ Chế bản khuôn in: Trên cơ sở các tấm Mica do bộ phận bình bản chuyển
sang, chế bản có nhiệm vụ chế vào khuôn nhôm hoặc kẽm sau đó đem phơi bản, rửa
bản để bản in không bị nhoè hoặc lỗi.
+ In: Khi nhận được các chế bản khuôn nhôm hoặc kẽm do bộ phận chế bản
chuyển sang, bộ phận in Offset sẽ tiến hành in hàng loạt theo các chế bản khuôn in.
+ Gia công hoàn thiện sản phẩm: Sau khi in xong, các trang in được chuyển
sang bộ phận gia công, bộ phận này sẽ tiến hành xén, đóng chuyển, kiểm tra thành
phẩm và chuyển giao cho khách hàng.
Như vậy, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty Tiêu Chí Vàng 3.4. Đặc điểm lao động
Đến nay Công ty đã có 105 lao động, trong đó số cán bộ quản lý có trình độ
đại học và trên đại học được đào tạo chuyên ngành in trong nước và nước ngoài
chiếm 30%. Số công nhân kỹ thuật chuyên ngành có trình độ trung học được đào
Tài liệu gốc
tách màu điện
t
ử
lập market
bình bản
Chế bản
phơi bản
in
sách
bắt tay
đóng sách
vào bìa
thành ph
ẩmtạo ở các trường trung học nghề và cơ sở dạy nghề là 10%. Tổng số 105 lao động
được phân bổ như sau:
- Phòng Tổ chức - Hành chính: 10 người
Công Tiêu Chí Vàng là doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu vốn kinh doanh là vốn
tự bổ sung (chiếm khoảng 95%). Công ty không có vốn góp liên doanh hay cổ phần
cho nên tình hình huy động vốn là khó khăn. Điều kiện cơ bản để có thể bổ sung
thêm vốn chính là sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Công ty phải dựa vào chính
hoạt động kinh doanh của mình để đầu tư bổ sung nhằm mở rộng quy mô sản xuất
cũng như đầu tư theo chiều sâu nhằm tăng hiệu quả ngày càng cao hơn.
3.6. Cơ cấu sản xuất của Công ty
Công ty Tiêu Chí Vàng là doanh nghiệp tư nhân hạch toán độc lập, quy trình
sản xuất mang tính chất riêng, hoạt động sản xuất kinh doanh đặc thù trong ngành,
quy trình sản xuất kinh doanh khép kính đồng bộ phù hợp với cơ cấu in công
nghiệp, in chứng từ trong ngành.
Công ty chủ động hoàn toàn trong việc khai thác vật tư, nguyên vật liệu (tự
tìm nhà cung cấp) bố trí lao động theo dây chuyền hợp lý, kiểm soát công việc chặt
chẽ từ Marketing, ký kết hợp đồng, tổ chức điều hành sản xuất đến hoàn thiện sản
phẩm và cung cấp sản phẩm cho khách hàng.
4. Những khó khăn và thách thức của công ty.
Hiện tại công ty có những khó khăn và thách thức khá lớn:
- Thứ nhất, sự cạnh tranh của thị trường in mỗi ngày một quyết liệt. Công ty
phải cạnh tranh để mở rộng đối tượng phục vụ, nhận in gia công trên bao bì, thiết kế
market cho một số đơn vị khác. Hình thức tổ chức in của tư nhân với thiết bị hiện
đại dịch vụ linh hoạt, bộ máy gọn nhẹ, có thể trốn thuế đang là đối thủ cạnh tranh
rất mạnh với công ty in hàng không nói riêng và các cơ sở in quốc doanh nói chung.
- Thứ hai, sự cạnh tranh đầu tư đổi mới kỹ thuật hiện đại của ngành in. Chất
lượng sản phẩm in phụ thuộc rất căn bản vào chất lượng hoạt động của máy móc
thiết bị. Ngày nay kỹ thuật và công nghệ in đã phát triển rất nhanh, tạo sức cạnh
tranh cho nhiều cơ sở có vốn lớn. Tuy vậy, giá thành máy in hiện đại vẫn rất cao,
vượt quá khả năng của những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nếu công ty vay vốn để
đổi mới thiết bị, thường phải trả lãi rất lớn đội giá thành khó giữ được thị phần của
ngành hàng. Nếu chờ tích luỹ từ nội bộ, thường khó thực hiện, hoặc không thể mua
Phát triển thị trường là mục tiêu chính của Công ty, thị trường mở rộng, Công
ty tăng cường sản xuất kinh doanh, kèm theo việc mở rộng sản xuất thì phải đầu tư
đúng hướng, phát triển sản xuất theo nhu cầu của thị trường để thoả mãn mọi nhu
cầu của khách hàng.
3. Chiến lược cạnh tranh
Cạnh tranh là động lực thúc đẩy để Công ty phát triển hoạt động sản xuất
kinh doanh do đó Công ty có các chiến lược chính sau:
+ Phòng kinh doanh phải luôn nghiên cứu khách hàng để tìm mọi cách giữ và
tìm đến khách hàng mới bằng các yếu tố chất lượng sản phẩm, thời gian, giới thiệu
sản phẩm.
+ Đội ngũ công nhân kỹ thuật phải được lựa chọn để cho sản phẩm có chất
lượng cao.
+ Đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty phải có trình độ quản lý theo sát các kế
hoạch sản xuất.
+ Ban giám đốc phải có kế hoạch chiến lược không những giữ vững mối
quan hệ với khách hàng cũ mà còn phải tìm các lôi kéo khách hàng mới về với
Công ty bằng uy tín của mình.
4. Chiến lược phát triển sản xuất
Một yếu tố then chốt để đưa một doanh nghiệp in mở rộng thị trường là vấn
đề cải tiến và đầu tư công nghệ mới để cho ra những sản phẩm có kỹ thuật cao phù
hợp với nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp sẽ từng bước đổi mới thiết bị lạc hậu