Trần Công Duy ĐHCN Hà Nội
Lớp Ôtô 4-k3
Chương I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Động cơ đốt trong ngày nay đang phát triển rất mạnh, giữ vai trò quan
trọng trong nhiều ngành kinh tế quốc dân như nông nghiệp, giao thông vận tải
đường bộ, đường sắt, đường biển, đường không cũng như trong nhiều ngành công
nghiệp khác.
Sản lượng động cơ đốt trong ngày nay trên thế giới ngày càng tăng cao.
Tuy nhiên, con đường phát triển đi lên của ngành động cơ đốt trong nói chung
và ngành công nghiệp ôtô nói riêng của các nước rất khác nhau. Tùy thuộc chủ
yếu vào năng lực của ngành cơ khí và mức độ công nghiệp hoá của từng nước.
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, người ta chia ra trong động cơ đốt trong
cũng như trong ôtô ra nhiều hệ thống như hệ thống nhiên liệu, hệ thống bôi trơn,
hệ thống làm mát...Trong đó, mỗi hệ thống đều có tầm quan trọng nhất định. Hệ
thống bôi trơn là một trong những hệ thống chính của động cơ.
Việc khảo sát một hệ thống bất kỳ trong động cơ sẽ giúp cho sinh viên
củng cố lại những kiến thức đã học và biết đi sâu tìm hiểu những hệ thống khác.
Do vậy, đề tài khảo sát hệ thống bôi trơn trên động cơ ô tô là một trong những
đề tài đã nói trên.
1.2. MỤC ĐÍCH-YÊU CẦU.
Trong quá trình học tập chuyên ngành về công nghệ ô tô tại trường đại
học công nghiệp Hà Nội, đồ án chuyên ngành I với đề tài nghiên cứu, khảo sát
mà cụ thể là khảo sát một hệ thống bất kỳ trên ô tô giúp cho sinh viên biết cách
tìm hiểu một trong các hệ thống đó, trên cơ sở khảo sát tương tự sẽ nắm bắt sâu
hơn các hệ thống khác của động cơ đốt trong nói riêng và các hệ thống trên ô tô
nói chung.
Ngoài ra, việc khảo sát này còn giúp cho sinh viên có thêm kinh nghiệm,
biết hướng nghiên cứu để đi sâu tìm hiểu một hệ thống bất kỳ.
Do đó, nghiên cứu khảo sát hệ thống bôi trơn là một đề tài như vậy.
được dùng trong động cơ đốt trong là chủ yếu.
2.1.4. Một số đặc điểm của dầu bôi trơn:
Tính chất quan trọng nhất liên quan đến chất lượng dầu bôi trơn là độ
nhớt của nó. Mỗi loại động cơ yêu cầu dầu bôi trơn có một độ nhớt nhất định,
phù hợp với điều kiện làm việc của động cơ. Nếu dầu quá nhớt (đặc) thường khó
lưu động trong hệ thống bôi trơn. Nên trong giai đoạn khởi động động cơ, dầu
khó đến được tất cả các bề mặt làm việc của chi tiết đặc biệt là các bề mặt ma
sát ở xa bơm dầu. Do đó một số bề mặt ma sát có thể thiếu dầu khi khởi động
dẫn đến nhanh bị mài mòn, nhanh hỏng.
2
Các loại dầu bôi trơn thường có ký hiệu và chỉ số trên bao bì thể hiện tính
năng và phạm vi sử dụng của chúng. Hiện nay các chỉ số của dầu chủ yếu dựa
trên tiêu chuẩn của các tổ chức Hoa Kỳ. Có 2 thông số quan trọng để đánh giá
đó là chỉ số SAE và chỉ số API.
• Chỉ số SAE (Society of Automobile Engineers) ban hành tháng 6 năm
1989 là chỉ số phân loại theo độ nhớt 100
0
C và 18
0
C của hiệp hội kỹ sư
Hoa Kỳ. Tại một nhiệt độ nhất định chỉ số SAE lớn nghĩa là độ nhớt cao
và ngược lại. Chỉ số SAE cho biết cấp độ nhớt chia thành 2 loại:
Loại đơn cấp: Là loại chỉ có 1 chỉ số độ nhớt. Ví dụ SAE-40, SAE-50,
SAE-10W, SAE-20W. Cấp độ nhớt có chữ W (Winter) dựa trên cơ sở độ
nhớt ở nhiệt độ thấp tối đa (độ nhớt ở nhiệt độ khởi động từ -30
0
C đến 50
0
C)
còn cấp độ nhớt không có chữ W chỉ dựa trên cơ sở độ nhớt ở 100
dầu; 6. Van an toàn; 7. Két làm mát; 8. Đồng hồ báo áp suất; 9. Đường dầu
chính; 10. Bôi trơn trục khuỷu; 11. Bôi trơn trục cam.
Trong hệ thống bôi trơn cưỡng bức trên, toàn bộ lượng dầu của hệ thống
bôi trơn được chứa trong các te 1 của động cơ. Bơm dầu 3 được dẫn động từ
trục khuỷu động cơ hoặc trục cam. Dầu trong các te 1 được bơm 3 hút qua phao
2 . Phao 2 có lưới chắn để lọc sơ bộ những tạp chất có kích thước lớn trong dầu,
kể cả khi động cơ bị nghiêng. Sau bơm, dầu có áp suất cao (có thể đến
10KG/cm
2
). Sau đó đi qua bầu lọc dầu 5 để loại bỏ cặn bẩn. Sau khi qua bầu lọc,
dầu được đưa lên đường dầu chính và đi bôi trơn trục khuỷu, trục cam và trở lại
các te 1. Van an toàn 4 và 6 là van tràn có tác dụng không chế áp suất dầu sau
bơm và sau két làm mát. Khi bơm và két làm mát bị tắc hoặc áp suất dầu trong
hệ thống quá lớn, van an toàn sẽ được mở để đảm bảo tính ổn định, tránh hiện
tượng thiếu dầu bôi trơn cung cấp cho các bề mặt làm việc.
Khi dầu quá nóng (khoảng 80
0
C), để giảm nhiệt độ của dầu, sau khi qua
bầu lọc 5 dầu sẽ được đưa vào két làm mát 7 và được đưa đến đường dầu chính
9 để đảm bảo bôi trơn, đảm bảo độ nhớt của dầu nhờn.
2.1.6. Bơm dầu.
Bơm dầu nhờn là một trong những bộ phận quan trọng của động cơ, nó có
nhiệm vụ cung cấp liên tục dầu nhờn có áp suất cao đến các bề mặt ma sát để
bôi trơn, làm mát và tẩy rửa mặt ma sát. Bơm dầu dùng trong động cơ đốt trong
đều là loại bơm thể tích chuyển dầu bằng áp suất thủy tĩnh như các loại bơm
4
piston, bơm phiến trượt, bơm bánh răng và bơm trục vít. Trong đó bơm bánh
răng được dùng hết sức phổ biến vì nó có các ưu điểm như nhỏ gọn, áp suất bơm
cao, cung cấp dầu liên tục và làm việc rất an toàn, tuổi thọ cao.
Trong phần nghiên cứu và khảo sát hệ thống bôi trơn này, bơm dầu bánh