MỞ ĐẦU
Thừa Thiên Huế là tỉnh có tiềm năng lớn về cát thạch anh. Đây là
nguồn tài nguyên quí giá không có nhiều mà chỉ tập trung ở một số khu vực
của Việt Nam.
Với nhịp độ phát triển công nghiệp và xây dựng hiện nay, nhu cầu về
các vật liệ thủy tinh gốm sứ của các địa phương và khu vực miền trung là
rất lớn.Việc xây dựng các nhà máy sản xuất gốm sứ thủy tinh, gạch chịu
lửa … căn bản dựa vào tiềm năng sẵn có tại khu vực, vì vậy việc hiểu biết
về chất lượng để sử dụng hợp lý vào các mục đích khác nhau là cần thiết,
mặt khác tài nguyên cát ở ngay trên mặt nếu chúng ta không đánh giá,
khoanh được vùng ranh giới và giữ gìn chúng, thì tài nguyên này cũng bị
xâm hại, chất lượng bị suy thoái.
Theo tinh thần và quyết định số 2624/UBND, ngày 5/11/1997 của
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, theo đó cần phải tiến hành “ Điều tra nghiên
cứu cát Phong Điền” và đây là giai đoạn tiếp theo của Dự án.
Mục tiêu:
Điều tra nghiên cứu chất lượng và trữ lượng cát Phong Điền
Nhiệm vụ triển khai bước II( 2001)gồm :
Đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:25000 và đánh giá tiềm năng cát thạch anh trên
toàn khu vực huyện Phong Điền với tổng diện tích 135 km2.
Đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:10000 và đánh giá chất lượng trữ lượng cát
thạch anh khu Cầu Thiềm.
Tổ chức thực hiện:
Để triền khai nhiệm vụ của bước II, đã tiến hành ký kết hợp đồng số
01/HĐKT giữa sở Công Nghiệp và Tiểu thủ Công Nghiệp Thừa Thiên Huế
với trung tâm Nghiên cứu môi trường địa chất, ngày 8 tháng 6 năm 2001 về
việc “Điều tra đánh giá trữ lượng, chất lượng cát thạch anh Phong Điền làm
nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp sản xuất thủy tinh, gốm, sứ, menfrit”
1
Đây là một nhiệm vụ khó khăn, bởi vì với một khối lượng khảo sát,
thi công, phân tích lớn chỉ thực hiện trong 06 tháng. Được sự giúp đỡ của sở
nghiệp, Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở tài chính và Vật giá của tỉnh, được sự
giúp đỡ và tạo điều kiện của UBND huyện Phong Điền, các xã Phong
Bình , Phong Chương, Phong Hòa, Phong Hiền, Phong Thu, Quảng Lợi,
Quảng Vinh, nơi đoàn đã đóng quân và làm việc.
Nhân dịp này tập thể tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước
sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ và cộng tác của các cơ quan, ban nghành, và
các địa phương để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.
3
Chương II
PHƯƠNG PHÁP, KHỐI LƯỢNG VÀ KỸ THUẬT TIẾN HÀNH
II.1 Công tác chuẩn bị
- Thu thập chỉnh lý các tài liệu đã có, chuẩn bị các bản đồ địa hình
tỷ lệ 1:50.000; 1:10.000;. và các công việc phụ trợ khác.
- Trên cơ sở các tài liệu địa chất như báo cáo đo vẽ bản đồ địa chất
tỷ lệ:1: 200.000; 1:100.000; 1:50.000
- Chuẩn bị các máy địa vật lý như: Máy phóng xạ CPH 68-01 số
1354 là máy có độ nhạy, độ chính xác cao…
II.2. Đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:25000
Mục tiêu là thành lập bản đồ địa chất vùng Phong Điền, chính xác
hóa ranh giới địa chất , ranh giới các khu dân cư, các khu vực xây dựng
công trình công cộng, các trằm bàu …..đặc biệt là khoanh định được các
ranh giới các dải cát, thân cát, đạt chất lượng và chiều dày khai thác để qui
hoạch và thăm dò khai thác.
Công tác đo vẽ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:25000 với diện tích 135
km2 tiến hành theo phương pháp lộ trình địa chất. Các tuyến lộ trình được
bố trí như sau:
- Tuyến trục có phương vị: 300-120
- Các tuyến ngang vuông góc với tuyến trục, với phương vị 210
-30
Khoảng cách tuyến ngang 1000m, khoảng cách điểm quan sát, các
phương trung bình.
b, Tính giá trị liều tương đương bức xạ”
Giá trị liều tương đương bức xạ gamma được tính theo công thức {1}
H
n
(m
Sv/ năm ) = D.Q.N.t (3)
Trong đó: D= K.I - Liều hấp thụ bức xạ gamma trong không khí.
I – Suất liều bức xạ gamma ( µR/h)
K – Hệ số hấp thụ bức xạ gamma trong không khí ( K = 0,896)
Q – Hệ số chất lượng, Đối với nguồn bức xạ gamma chiếu ngoài Q=
1; N = 1.
T – Thời gian chiếu xạ đối với dân thường trong một năm ( 8760 giờ)
5
Thay các tham số trên vào công thức (3) được:
H
n
(m
Sv/ năm ) = 7,68.10-2 ( µR/h).
II.6. Phương pháp thi công công trình khoan khai đào.
Các dạng công trình khai đào được sử dụng bằng máy khoan, khoan
tay và hố.
a, Khoan máy.
Các lỗ khoan thi công với chiều sâu khoan 10 - 20m, để nghiên cứu cấu
trúc địa chất, chiều sâu của các tầng trầm tích đệ tứ, đặc biệt là phân hệ tầng
dưới của hệ tầng Phú Bài.
Các lỗ khoan được bố trí trên tuyến VI với khoảng cách lỗ khoan 1,5
– 2km, bao gồm 4 lỗ khoan: LK1 ( 18,5m); LK2 ( 18,5m); LK3 ( 19,5m);
Trong công trình khoan, lấy mẫu lõi khoan với chiều dài mẫu 1m.
Tủy theo chiều sâu khoan có thể lấy 1- 3 m ở mỗi lỗ khoan. mẫu lấy được
rút gọn ngay tại hiện trường.
- Trong các lỗ khoan sâu từ 10 -20m: Lấy mẫu liên tục toàn bộ
chiều sâu khoan, chiều dài mẫu 1m.
Lấy mẫu thể trọng và độ ẩm.
Lấu mẫu trọng sa
Khối lượng mẫu các loại đã lấy: 230 mẫu
b. Công tác phân tích mẫu
Mẫu hóa cát:
- Mẫu hóa cơ bản : Yêu cầu phân tích các chỉ tiêu: SiO2, Fe2O,
TiO2, CaO. Ce2O3, MKN.
- Mẫu hóa toàn phần:Y/c phân tích các chỉ tiêu: SiO2, Fe2O3,
Na2O, K2O, MgO, Al2O3, TiO2, Cr2O3, CaO, MKN
Khối lượng mẫu phân tích là : 50 mẫu.
Mẫu kiểm tra ngoại bộ được gửi phân tích tại:
Tổng số mẫu kiểm tra ngoại bộ với mẫu hóa cơ bản là: 8 mẫu, với
mẫu hóa toàn phần là 5 mẫu.
Mẫu độ hạt:
Yêu cầu xác định % các cấp hạt: < 0,1 mm; 0,1 – 0,315mm; 0,315
-0,8mm; và > 0,8- 2,0 mm.
Khối lượng phân tích mẫu là: 30 mẫu.
7
Mẫu trọng sa:
Yêu cầu phân tích hàm lượng phần trăm các loại khoáng vật nặng.
Khối lượng phân tích mẫu là: 15 mẫu.
c. Đánh giá kết quả phân tích mẫu
Để xác định sai số ngẫu nhiên dùng công thức:
m
CCn
m
CCn
m
i
2
)12(
1
∑
=
−
Trong đó:
-
C
: Hàm lượng trung bình thành phần của tất cả các mẫu.
Tiến hành so sánh
r
ρ
với
chophép
ρ
nếu
r
ρ
<
chophép
ρ
→
tập mẫu không vi
phạm sai số ngẫu nhiên và ngược lại.
=
m
d
icb
m
i
∑
=
1
Trong đó:
-
icb
C
: Hàm lượng thành phần trong mẫu cơ bản thứ i
-
ik
C
: Hàm lượng thành phần trong mẫu kiểm tra thứ i
- m : Số lượng mẫu kiểm tra
+ Tính sai số hệ thống tương đối:
(%)
100.
1
cb
C
d
d
=
+ Xác định giá trị thực nghiệm:
d
III.1.1. Đặc điểm địa tầng
Các thành tạp trầm tích cấu thành nên vùng nghiên cứu bao gồm các
phân vị địa tầng sau:
GIỚI PALEOZOI
HỆ ORDOVIC HẠ - HỆ SIZUR
Hệ tầng Long Đại ( O
1
– S lđ)
Hệ tầng được đặc trưng bởi các trầm tích lục nguyên màu xám dạng
plysh xen các tập cuội kết, sạn kết. Các đá của hệ tầng bị biến chất ở tướng
phiến lục, phụ tướng Sericil – clorit. Ven rìa có các khối magma thành
phần bazo – trung tính phức hệ Quế Sơn. Các đá của hệ tầng bị biến chất
nhiệt, tướng đá sừng không phân chia. Dọc các đứt gãy các mạch thạch anh
xuyên theo mặt lớp, mặt phiến.
Tổng chiều dày hệ tầng Long Đại khoảng 2.600m.
Trong vùng nghiên cứu khối lượng mặt cắt của hệ tầng chi tương
ứng với phụ hệ tầng trên của hệ tầng Long Đại với diện lộ nhỏ, khoảng
15km2 nằm ở phía Tây Bắc vùng nghiên cứu với bề dày ~ 650m gồm 2 tập.
Phân hệ tầng trên ( O
1
– S lđ3 )
- Tập 1: Bao gồm các đá phiến sét sericit – clorit xen ít cát kết phân
lớp mỏng đến trung bình màu xám, xám nhạt, phần thấp tập là lớp
bột kết màu đen, dày 300m.
- Taapj2: các đá bột kết, đá phiến sét - sericit – clorit cát bột kết.
Đá phân lớp mỏng đến dày màu xám, xám đen, dày 350m.
- Trên cơ sở phát hiện bút đá Phyllograptusanca Hall:
Expansograptus entnsis Hall: Isograptus sp xác định tuổi ordovic
sớm ( Nguyễn Hồng Hược ). Ngoài ra còn phát hiện được
Prustrograptus sp là hóa thạch phổ biến trong silua hạ ở Việt
px)
Các trầm tích của hệ tầng này chỉ lộ ra các diện lộ nhỏ đến vài Km2.
Ngoài ra còn bắt gặp các trầm tích này trong một số lỗ khoan sâu
21-66,5m, chúng chuyể tiếp liên tục từ các trầm tíc sông biển còn phía trên
bị phủ bởi các trầm tích sông, sông biển hệ tầng Phú Bài.
Thành phàn các trầm tích bao gồm cát bột lẫn sét, ít sạn màu vàng
sẫm, nâu đỏ chặt xít. Thành phàn độ hạt (%): cát 44,5-65%; bột 17-37,7%;
11
sét 15,3=18%; sạn 2,5%. Hệ số độ hạt kích thước trung bình (Md):
0,097-0,12; hệ số chọn lọ (So): 2,07; độ cấu (Sf): 0,796; Sk: 2,99. Thành
phần khoáng vật cấp hạt 0,1-0,25mm (%): thạch anh 97%; mảnh đát 3%.
Kết quả phân tích mẫu hóa Siliccat (%) SiO2: 82,2%; Fe2O3: 4,15%; FeO:
0,09%; Al2O3: 7,32%; CaO: 0,7%; MgO: 0,4%. Bề dày lớp trầm tích 9m.
Holocen hạ, trung
Hệ tầng Phú Bài ( Q
IV
1-2
pb)
Trong diện tích khu nghiên cứu các thành tạo này phát triển rộng
khắp tạo nên bề mặt tương đối bằng phẳng, ngoài ra còn bắt gặp các trầm
tích của hệ tầng này trong các lỗ khoan sâu từ 1,2-49,9m. Các tài liệu khảo
sát và khoan đào đều xác nhận có hai tầng cát ( Cát vàng và cát trắng )
hoàn toàn khác nhau và được chia thành hai phụ hệ tầng sau:
Phụ hệ tầng dưới ( Q
IV
1-2
pb
1
)
Các trầm tích phụ hệ tần bao gồm các trầm tích tướng sông (a), sông
phần khoáng vật cấp hạt 0,1-0,25mm(%): thạch anh 83-100; felspat 1-10:
mảnh đá + mica 1-10
Trầm tích sông biển đầm lầy ( ambQ
IV
1-2
pb
1
):
Trên mặt cắt LK1 các thành tạo sông biển cùng tuổi. Vật liệu trầm
tích là cát bột lẫn mùn thực vật màu xám , xám sẫm , xám đen, lẫn vỏ sò
hến và di tích thực vật đã phân hủy : Bột 41,2-71,4%; sét 23-51,6%; Cát
2,2-15,3%. Md: 0,011-0,059; so: 2,1-4,6%; Sk: 0,45-1,5; Ro: 0,67-0,74%;
Sf: 0,8-0,83. Thành phần khoáng vật sét (%) hydromica: 17-25%; kaolinit
8-20%; clorit 5-10%. Bề dày tầng trầm tích 4.5m.
Phụ hệ tầng trên (Q
IV
1-2
pb
2
):
Các trầm tích phân hệ tầng trên được thành tạo trong kỳ biến tiến
Flandrian, có điện phân bố rộng rãi trong khu mỏ gồm 3 nguồn gốc : biển
sông ( ma ), biển gió (mv).
Trầm tích biển ( maQ
IV
1-2
pb
2
):
Đây là đối tượng nghiên cứu chính, các thành tạo này được hình
Holocen trung - thượng
Hệ tầng Phú Vang (Q
IV
2-3
pv)
Trong diện tích khu tìm kiếm thấy lộ ra các trầm tích tướng sông, sông
- biển, sông - biển - đầm lầy, biển – sông thuộc phụ hệ tầng dưới và các
tướng sông biển đầm lầy – phân hệ tầng dưới hệ tầng Phú vang.
- Trầm tích sông (aQ
IV
2-3
pv)
Các thành tạo trầm tích sông phân bố phía tây nam khu tìm kiếm, đây
là các bãi bồi ven sông Ô Lâu có độ cao 2-3m. Mặt cắt các bãi bồi gồm 2
lớp:
+ Lớp 1: thành phần chủ yếu là cát bột lẫn sạn màu vàng, vàng nâu, có
thấu kính sạn sỏi thạch anh, silic (ở độ sâu 2,1-2m). Thành phần độ hạt: cát:
60,4%, bột: 30,95%, sạn sỏi: 6,7%; sét: 2,5%. Hệ số độ hạt Md: 0,085%,
S
0
: 1,87%, Sf: 0,789, R
0
: 0,69%. Thành phần cấp hạt 0,1 – 0,25: thạch anh:
98%, vụn, đá: 2%.
- Trầm tích sóng - biển (amQ
IV
2-3
pv
1
):
ngập nước, mặt cắt đặc trưng là cát hạt mịn lẫn ít bột xám đen, bở rời phần
trên lẫn di tích thực vật cát 80,05%, bột 18,35%, sạn 1,6%. Md0,17%,
So:1,68%, Sk 1,13; R
0
0,706; SF: 0,798… chứa bào tử phấn hoa: Pteris,
Cyathea sp, Morus dày 2,8m.
III.1.2 Kiến tạo
Vùng nghiên cứu là một dải đồng bằng hẹp kéo dài theo bờ biển và
nằm ở rìa của đới cấu trúc Long Đại. Trên cơ sỏ phân tích thành phần
tướng đá của các phân vị địa tầng, tính chất các hoạt động kiến taojm
magma, các thời kỳ gián đoạn trầm tích ở vùng nghiên cứu và các diện tích
kế cận, chia cấu trúc vỏ trái đất vùng nghiên cứu thành tầng cấu trúc
Paleozoi và lớp phủ Đệ tứ.
III.1.2.1 Tầng cấu trúc Paleozoi.
Tầng cấu trúc này bao gồm các thành tạo trầm tích của hệ tầng Long
Đại ( O-S1ld), phân bố ở rìa phía Tây Nam và Nam diện tích khảo sát.
15
III.1.2.2 Lớp phủ Đệ Tứ.
Cấu thành nên lớp phủ đệ Tứ là các thành tạo gắn kết yếu hoặc bờ
rời tuổi Đệ Tứ. Chúng gồm các trầm tích đa nguồn gốc với bề dày 10
-500m.
III.1.3 Địa mạo.
Các kết quả khảo sát thực tế cho thấy trên phạm vi diện tích tìm kiếm
chỉ có mặt kiểu địa hình tích tụ, bao gồm các phụ kiểu địa hình sau:
Bãi bồi ( Aluvi)
Các bãi bồi ( giữa lòng và ven sông) là những thành tạo aluvi mới,
phân bố dọc theo sông Ô Lâu. Vật liệu thành tạo bãi bồi là cuội, sạn, cát,
bột sét màu xám nâu, xám vàng có tuổi Holocen sớm-giữa (Q
IV
2-3
vật, các cồn cát đang có xu hướng lấn vào đất liền. Các cồn cát cổ thường
là những cồn cát nhỏ nằm trên bề mặt thềm biển bậc 1 độ cao 8- 12m,
thành phần là cát thạch anh hạt nhỏ, màu trắng.
Địa hình tích tụ biển- sông
Địa hình tích tụ biển sông phân bố thành những khoảng nhỏ ven rìa
phía Tây Bắc. diện tích, độ cao của bề mặt địa hình này từ 3-4m. Vật liệu
tạo nên chúng là cát, sét pha cát màu xám vàng của hệ tầng Phú Bài. Bề
mặt địa hình khá bằng phẳng, chúng được sử dụng làm đất canh tác.
Thềm biển bậc 1:
Thềm biển bậc 1 chiếm diện tích chủ yếu trong vùng khảo sát. Cấu
thành nên chúng là trầm tích biển của phân hệ tầng trên hệ Phú Bài ( Q
1-2
IV
pb
2
) đượ hình thành trong chu kỳ biển tiến Flandrian. Thành phần chủ yếu
là cát thạch anh màu trắng, chiều dày 1-7m. Bề mặt của địa hình chủ yếu là
bỏ hoang, một số nơi trồng cây chắn gió và cây công nghiệp ( lạc, đỗ)
Thềm biển bậc 2.
Thềm biển bậc 2 thành tạo những gò thoải nhỏ phân bố rải rác ở phía
Nam diệc tích nghiên cứu. Chúng được tạo nên từ các trầm tích biển hệ
tầng Phú Xuân. Thành phần chủ yếu là cát, cát bột lẫn ít sạn thạch anh màu
vàng nghệ. Trên địa hình này cây cối rất kém phát triển, nhiều nơi nhân
dân dùng để xây dựng bãi nghĩa địa hoặc khai thác cát để lấy mặt bằng xây
dựng.
III.1.4 Khoáng sản.
III.1.4.1 Cát thạch anh
Cát thạch anh phân bố trong trầm tích phụ hệ tầng trên hệ tầng Phú
Bài ( Q
1-2
), chỗ
hẹp nhất là đoạn từ tuyến XI dến tuyên XIII ( 300km). Ở phần diện tích
Tây Bắc (từ tuyến II đến tuyến VIII) dải khoảng bị chia cắt thành nhiều
thân khoáng bởi các trầm bị ngập nước: Trằm Bàu Bàng, Trằm Bàng,
Trằm Lương Mai I, Trằm Lương Mai II, phía Tây Nam bị chia cắt bởi
Trằm Bàu Đen. Chiều rộng trung bình của dải khoảng 1000m.
Chiều dày tầng cát thạch anh màu trắng trong dải không đồng đều,
có xu hướng chung là giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và có quan
hệ tỷ lệ thuận với độ cao bề mặt địa hình: Từ tuyến VII về phía Đông Bắc,
chiều dày trung bình tầng cát trắng là 3,2m; từ tuyến VII về phía Đông
Nam, bề dày này là 1,2m. Theo hướng vông góc với phương kéo dài của
dải, bề dầy tầng cát trắng giảm dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc, ở những
cồn cát cao, chiều dầy tầng cát trắng lớn.
Trong phạm vi dải này có một diện tích khoảng 2km
2
nằm sát phía
Bắc Trằm Thiên, kéo dài từ giữa tuyến VII và tuyến VIII đến giữa tuyến X
18
và tuyến XI, bề dầy tầng sản phẩm <0,5m, không đạt yêu cầu công nghiệp;
ngoài ra còn có 1 diện tích 1km
2
nằm bẹp giữa Trằm Bàu Bàng và Trằm
Bàng, giới hạn từ tuyến IV vè phía Tây Bắc là khu nghĩa địa cũng không
được tham gia tính trữ lượng.
Mặt cắt của địa tầng chứa cát thạch anh màu trắn trong dải này gồm
các lớp ( từ trên xuống).
- Lớp 1: Cát màu trắng xám lẫn mùn thực vật - dày 0,2-0,3m.
- Lớp 2: Cát màu trắng, hạt rất đồng ddeuf, bề dày 1-3,5m ( tầng
sản phẩm)
- Lớp 3: Cát hạt nhỏ lẫn mùn, sét màu đen, xám đen.
tuyến VI đến tuyến IV ( 2m) những phần còn lại có chiều dày > 0,5 -1,5m.
Bề dày này cũng giảm dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam.
Mặt cắt địa tầng chứa sản phẩm cũng giống như ở các dải cát đã mô
tả trên những bè dày tầng sản phẩm nhỏ hơn.
Cát thạch anh ở cả 3 dải nêu trên đều đảm bảo các chỉ tiêu chất
lượng để sản xuất thủy tinh, gốm sứ, và gạch dinat. ( xem thêm ở phần chất
lượng cát).
III.2.2. Đặc điểm phân bố của cát thạch anh vùng Phong Điền.
1. Các thân cát thạch anh vùng Phong Điền nằm trên thềm biển bậc I
được hình thành trong chu kỳ biển tiến Flandrian. Đây là chu kỳ biển tiến
mang tính toàn cầu. Chu kỳ biển tiến này tạo nên tầng trầm tích hệ tầng
Phú Bài ( Q
1-2
IV
pb
2
) với thành phần đặc trưng là cát thạch anh, với diện tích
bao phủ đều khắp khu vực nghiên cứu. Kết thúc quá trình biển tiến, là chu
kỳ biển lùi vào Holocen giữa. Kết quả để lại trong vùng một hệ thống hố,
đầm lầy ( bàu, trằm) kéo dài, sắp xếp song song với đường bờ biển, chúng
phân chia bề mặt thềm biến thành các dải cát nằm song song với nhau theo
phương Tây Bắc- Đông Nam. Trong phạm vi các bàu trằm, hoạt động của
dòng chảy đã khoét sâu hết chiều dày tầng sản phẩm ( cát trắng) ở nhiều
nơi, thay vào đó là các tích tụ than bùn.
2. Chiều dày phần cát thạch anh phụ thuộc vào độ cao địa hình và
chênh cao giữa mặt địa hình với mặt nước các trằm, bàu.
+ Ở những nơi địa hình bãi cát nồi cao, chiều dày tầng cát trắng lớn
hơn ở những nơi địa hình trũng.
3. Chiều dày tầng cát trắng phụ thuộc vào chiều sâu của mực nước ngầm.
20
; giá trị
trung bình
I
γ
~
R / hµ
. Đây là giá trị hiệu suất liều gamma của các loại cát
sạch ven biển không chứa các khoáng vật nặng cộng sinh đồng hành với
các chất phóng xạ.
21
Phân tích tổng hợp các yếu tố của trường gamma và cấu trúc địa chất
có thể khẳng định lớp bề mặt các hệ tầng cát biển của vùng nghiên cứu có
thành phần tương đối sạch không có chứa các khoáng vật năng như Zincon,
Rutin, Inmenit cộng sinh đồng hành với các chất phóng xạ. Một vài diện
tích tại các trầm và đường giao thông có 1 tương đối cao hơn các khu vực
khác (I
γ
>3µR/h). Đó là do có sự tích tụ sét với hàm lượng rất nhỏ tại địa
hình trũng của trầm và thành phần sét của đất đắp đường có hoạt do phóng
xạ cao hơn so với cát tinh khiết.
Chính vì các biển tương đối tinh khiết không chứa các khoáng vật
nặng liên quan với các chất phóng xạ mà liều tương đương bức xạ gamma
của toàn bộ diện tích vùng nghiên cứu có giá trị rất thấp. Tuyệt đại bộ phận
khu vực khảo sát (chiếm > 90% diện tích) có liều tương đương bức xạ
gamma H <0,05mSv/nam. Chỉ khoảng ~1% diện tích có H >0,1 mSv/năm
(tại vị trí các tràm và đường giao thông kể trên). Toàn bộ diện tích khu vực
Phong Điền - Thừa Thiên Huế đã khảo sát đều có giá trị liều tương đuowng
bức xạ thấp hơn 10 lần so với tiêu chuẩn an toàn phóng xạ cho phép đối với
dân thường (liều tương đuơng bức xạ giới hạn H > 1mSv/năm – xem Nghị
Thân cát Ib:
Thân khoáng này là dải cát nằm kẹp giữa hai nhánh của trằm Lương
Mai, có chiều dài 2700m, rộng trung bình 150m. Bề dày trung bình 1,2m
Thân cát Ic:
Là dải cát chạy dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam trùng hướng
phát triển của trằm Thiêm. Thân khoáng số II có chiều dài ≈ 14km (từ
tuyến II đến tuyến XVI). Thân khoáng có hình dạng phức tạp.
Đoạn mở rộng (từ tuyến số II đến tuyến VII), chiều rộng lớn nhất đạt
hơn 1000m). chiều dày ở lỗ khoan KT3 đạt 4,7m
Đoạn hẹp hơn (giữa tuyến X đến tuyến XVI) chỗ hẹp nhất là 200m,
chiều rộng thân khoáng lớn nhất ở tuyến XIII đạt 700m, chiều sâu tầng sản
phẩm >1,4m.
Nói chung chiều dày thân cát biến đổi có quy luật, giảm dần theo
hướng từ Đông Bắc xuống Tây Nam và từ trung tâm thân khoáng ra phía
bờ trằm, chiều dày trung bình 2,36m. Trong phạm vi thân khoáng cát thạch
anh phân bố đồng đều.
Thân cát Id:
Nằm về phía Đông Bắc xã Quảng Phước, kẹp giữa các nhánh của Bàu
Niêm, ranh giới thân khoáng lồi lóm không đều do Bàu Niêm lấn vào thân
cát. Thân cát có chiều dài khoảng 4km, chỗ rộng nhất đạt trên 1000m, chỗ
23
hẹp chỉ khoảng 200m, chiều dài tăng sản phẩm trung bình 1,3m. Bề mặt
thân khoáng bỏ hoang. Trong thân cát thạch anh phân bố đồng đều.
Dải trung tâm
Thấn cát Ia:
Là dải cát chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, từ tuyến II đến giữa
tuyến XI và tuyến XII, dài 9,5km. Chiều rộng thân khoáng có xu hướng
tăng dần từ Tây bắc về phía Đông Nam, chỗ hẹp nhất là 300m, chỗ rộng
nhất 1700m. Chiều dày thân cát biến đổi có xu hướng ngược lại nghĩa là
tăng dần từ Đông Nam lên Tây Bắc. Phần từ tuyến VII đến tuyến XI thân
cát trắng là 2,9m.
Dải phía nam
Thân cát III a:
Kéo dài từ tuyến II (Phong Hòa) đến giữa tuyến XIV và XV (bắc
Triều Vịnh) dài khoảng 12 km.
Chiều rộng thân khoáng cũng thay đổi phức tạp, không có quy luật,
đoạn hẹp nhất khoảng 100m, còn đoạn rộng nhất 2000m.
Chiều dày cũng biến đổi phức tạp, dày nhất tại lỗ khoan KT
1
(tuyến
XII) đạt 5m còn lại các lỗ khoan mỏng đạt 1-3m, trung bình 2,41m.
Thân cát IIIb.
Thân khoáng nằm phía Đông Nam là thân khoáng có diện tích nhỏ, là
một cồn cát được thành tạo do gió nên chiều sâu tầng sản phẩm khá lớn,
chiều dài thân khoáng >2km, rộng thay đổi từ 300 – 800m, chiều dày là
1,2m. Hiện tại bề mặt thân khoáng bỏ hoang. Trong thân khoáng cát thạch
anh phân bố đồng đều.
III.3.2. Chất lượng các thân cát:
III.3.2.1. Thành phần độ hạt
Các mẫu phân tích độ hạt được lấy hệ thống trên các than. Để xác định
chất lượng cát theo thành phần độ hạt, đã tiến hành phân tích các cờ hạt
theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng theo các lĩnh vực khác nhau. Kết quả
độ hạt theo các thân xem ở bảng III.3.
25