TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ
LÊ PHỤNG HOÀNG
(TẬP I )
2. Các nguyên nhân của cải cách tôn giáo 42
I> Cuộc vận động cải cách của Luther (1483-1546) và đạo
Lutherarism ở Đức 48
II> Cuộc vận động cải cách của Zwingli và Calvm ở Thụy Sĩ. Đạo
Calvinism 52
III> Cuộc cải cách của Giáo hội công giáo La Mã 57
C - Tài liệu tham khảo 66
Bài 3
: Quan điểm về đường lối Quốc phòng của Pháp trong
khoảng thời gian giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới 67
A - Mục đích 67
B – Tài liệu tham khảo 78
Bài 4
: Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đức (KPD) và Đảng xã hội
dân chủ Đức (SPD) và thắng lợi của Đảng công nhân quốc gia
XGCN Đức (NSDAP) 79
A - Mục đích
I. Tình trạng chia rẽ trong hàng ngũ Đảng xã hội dân chủ Đức (SPD)
trước cách mạng tháng 11-1918 79
II. Quan hệ giữa KPD và SPD trong cap trào cách mạng 1918 – 1923
81
III. Mầm móng trong thực tế và lý luận đưa đến thắng lợi của Đảng
công nhân quốc gia XHCN Đức (NSDAP) (1924 - 1929) 86
IV. Chế độ Weimar h
ấp hối 94
B – Tài liệu tham khảo 106
Bài 5
: Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ năm 1941
đến năm 1949 107
A - Mục đích 107
ảng dạy ở Khoa Lịch sử - Đại học
Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh. Chuyên đề “Sự ra đời của chế độ đại nghị ở
Anh” được biên soạn nhằm phục vụ yêu cầu vừa kể.
DẪN NHẬP
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ANH
CHO ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XII Khoảng giữa thế kỷ V s.CN, quyền lực của Đế chế Tây La Mã ở
Anh
bị sụp đổ, khi đảo này bị những bộ tộc Angle, Saxon và Jute thuộc tộc
German xâm nhập. Trên những vùng đất vừa mới đến định cư, họ đã
dựng lên nhiều tiểu vương quốc.
Giống như tình hình ở phần lãnh thổ lục địa của Đế chế Tây La Mã,
những tiểu vương quốc German trên đảo Anh (Bristish Isles) đã
thường xuyên gây chiến và thôn tính lãnh thổ của nhau. Kết quả là lúc
tiểu vương quốc này, khi tiểu vương quốc khác nổi lên chiếm ưu thế.
Họ còn phải chiến đấu chống lại những người Viking (Nordman - người
phương Bắc) phát xuất từ bán đảo Scandinavia (chủ yếu từ Đan Mạch)
tràn vào cướp phá. Vào thế kỷ XI, Wessex trở thành vương quốc mạnh
nhất và thống nhất được phần lớn miền nam đảo Anh. Thành quả này
phần lớn thuộc về công lao của vua Alfred vĩ đại (871 - 899). Không
chỉ là một nhà quân sự tài ba, ông còn nổi tiếng là nhà cai trị kiệt xuất.
quá lớn. Những lãnh địa lớn nào còn được phép duy trì đều gồm nhữ
ng
phần đất bị phân cách về địa lý. Kết quả là bản đồ Vương quốc Anh thế
kỷ XII và cả XIII cho thấy lãnh địa của những gia đình đại quý tộc đều
nằm rải rác ở những vùng khác nhau, còn nhà vua trở thành địa chủ
lớn nhất trong nước. Ông làm chủ đến 1420 trang viên và nhiều nông
trại. Cùng với những người thân gần gũi nhất, William kiểm soát
khoảng 1/4 lợi tức quốc gia (kho
ảng 85.000 sterling), tương đương với
thu nhập của Giáo hội ; còn 170 quý tộc lớn nhỏ chia nhau 2/5 lợi tức.
Năm 1086, William còn buộc tất cả các quý tộc - bất kể tước danh
và nguồn gốc - trong vương quốc phải tòng phục và tuyên thệ trung
thành với cá nhân ông. Khi ban cấp lãnh địa cho các kỵ sĩ Normandy
theo ông, William đã giữ lại quyền thu thuế và xét xử. Việc tiếp tục
duy trì chế độ dân quân (mọi người dân đều có nghĩa vụ
binh dịch đối
với vua) đã cho phép William the Conqueror bớt sự lệ thuộc về mặt
quân sự vào các quý tộc lớn.
Trong tư cách là một nhà chinh phục, William đã xem Vương quốc
Anh là vật thuộc quyền sở hữu của mình. Ông muốn áp đặt lên đất
nước này một quyền lực tương tự như quyền lực của một lãnh chúa lớn
trên phần lãnh địa của mình. Ông tìm cách tăng nguồn thu nhập cá
nhân bằng lệnh kiểm kê t
ất cả nguồn lợi có thể thu thuế được trên
toàn lãnh thổ. Kết quả của công việc kiểm kê được đúc kết thành bộ
Domesday Book (được thực hiện trong khoảng thời gian 1080 - 1086),
mà ngày nay trở thành nguồn tư liệu quý để tìm hiểu tình hình đất
nước trong thế kỷ XI.
Tuy chưa thống nhất được toàn bộ đảo Anh, nhưng việc làm kể trên
của William the Conqueror đã bước đầu đẩy Vương quố
Những bồi thẩm đoàn đầu tiên chỉ đơn giản gồ
m những người được
triệu đến quan tòa triều đình để cung cấp những lời cáo giác ai đó,
nhưng họ không được trao quyền phán xử xem người đó có tội hay
không. Ngày nay, bồi thẩm đoàn sơ khai vừa kể trở thành đại bồi thẩm
đoàn (grand jury) có chức năng quyết định xem đã có đủ chứng cứ để
truy tố bị cáo (accused person). Khoảng một thế kỷ sau Henry II, xuất
hiện một loại bồi thẩm đoàn khác: đó là tiểu bồi thẩm đoàn (petty
jury), hay bồi thẩm đoàn xử án (trial jury) với chức năng nghe xử án
và quyết định xem bị cáo có tội hay không.
Henry II phải đương đầu với rất nhiều khó khăn phát sinh từ
sự
chống đối của không chỉ giới quý tộc bởi xu hướng chuyên chế lộ rõ
trong các cải cách của ông, mà cả từ phía Giáo hội, vì Giáo hội cũng có
hệ thống tòa án riêng của mình. Nhưng nhà vua cho rằng tòa án của
Giáo hội quá lỏng lẻo, do vậy muốn đặt nó dưới quyền kiểm soát của
các khâm sai triều đình. Tổng giám mục Thomas Becket, phụ trách địa
phận Canterbury, vốn được xem là người đứng đầu tổ ch
ức Giáo hội ở
Anh, đã kịch liệt chống lại nỗ lực vừa kể của Henry II. Việc Becket bị
một số thuộc hạ trung thành của nhà vua giết chết đã làm bùng lên
một làn sóng chống đối dữ dội đến mức Henry II đã phải lên tiếng xin
lỗi công khai.
2. Đặc điểm của quý tộc Anh.
Tuy phải mất một thời gian dài nữa hệ thống pháp chế củ
a nhà vua
mới thực sự được tuân thủ trong cả nước, nhưng so với tình trạng hỗn
loạn cát cứ còn đang ngự trị trên phần lớn lãnh thổ Tây Âu, “quyền lực
và thái hòa của nhà vua” đã mang lại trật tự an bình cho Vương quốc
Anh nói chung, cho những vùng quê vây quanh London nói riêng. Các
nuôi cừu. Nhiều quý tộc sở hữu những đàn gia súc rất lớn: năm 1259,
trên đất của giám mục địa phận Winchester có một bầy cừu đông đế
n
29.000 con, năm 1303 Bá tước Lincoln sở hữu một bầy gia súc đến
13.000 con bò.
Tách khỏi nông nghiệp, chăn nuôi cần một thị trường tiêu thụ lớn.
May mắn rằng nền công nghiệp dệt len đang phát triển phồn thịnh ở
xứ Flandre rất cần len của Anh. Hoàn cảnh sinh hoạt kinh tế như vậy
đã khiến quý tộc Anh rất quan tâm đến những vấn đề thương mại.
Quan niệm cho rằng th
ương mại là một việc làm “nhơ nhuốc” là hoàn
toàn xa lạ với giới quý tộc Anh.
Vì những lẽ trên, quý tộc Anh không phải là một đẳng cấp khép kín:
nó gần gũi với những giai cấp xã hội khác, và gắn chặt với những sinh
hoạt đời thường trong nước. Đặc điểm này của quý tộc Anh giúp hiểu
được những diễn biến trong sinh hoạt chính trị ở Vương quốc Anh.
Những thay đổi v
ề kinh tế cũng cho thấy nông nghiệp đã thoát khỏi
tình trạng độc canh, và bản thân nông nghiệp cũng không còn là
nguồn lợi tức duy nhất. Nền thương mại phát triển còn tạo ra một tầng
lớp thương nhân quan trọng, tập trung ở những vùng quanh London.
3. Các thiết chế quân chủ bị khủng hoảng - Đại Hiến chương (1215).
Trong thế kỷ XIII, chế độ quân chủ với các thiết chế mà Henry II đã
dầy công xây đắp bị rơi vào tình trạng khủng hoảng. Có ba nguyên
nhân chính:
( Vua Richard - Tim sư tử (The Lion Hearted, 1189 - 1199), con của
Henry II, rất lơ là trong công việc cai trị. Là một chiến binh dũng cảm,
ông đã trải qua phần lớn khoảng thời gian 10 năm cầm quyền trong
các hoạt động chinh chiến bên ngoài lãnh thổ Vương quốc. Ông chỉ
quay về Anh có hai lần ngắn ng
nh, “trừ trường hợp được sự ủy thuận
của hội đồng chung Vương quốc chúng tôi” (1). Điều 39 nêu rõ:
“Không một người tự do nào sẽ bị bắt, bị giam hay bị tước đoạt của
cải, hay bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, hay bị lưu đày hay bị gây thiệt
hại bằng bất kỳ cách gì. Chúng tôi sẽ không đưa ra bản án chống lại
người đó, chúng tôi không phái bất k
ỳ ai đến bắt người đó, trừ trường
hợp đã qua sự phán xử hợp pháp của những người đồng đẳng hay
chiếu theo luật pháp của đất nước”.
Đáng chú ý là điều 41: “Tất cả các thương nhân được tự do và an
toàn ra, vào, cư trú và đi ngang qua London, bằng đường bộ lẫn đường
thủy, để mua và bán, mà không bị thu thêm thuế, phù hợp với các lề
thói cũ, ngoại trừ trong thờ
i chiến và trong trường hợp các thương
nhân là người của quốc gia lâm chiến ”. Nội dung này cho thấy vị thế
của thương nhân trong xã hội Anh vào thế kỷ XIII đã rất quan trọng và
giữa họ và quý tộc đã hình thành một mối liên kết vững chắc.
Để đảm bảo việc Đại Hiến chương được tuân thủ, giới quý tộc đã cử
ra một hội đồng gồm 25 người đạ
i diện cho họ quan sát mọi hoạt động
của nhà vua.
Xét theo nội dung của nó, Đại Hiến chương ngay tại thời điểm ra đời
không thể được xem là một văn kiện mang tính cách mạng, vì thực ra
nó chỉ nhắc lại những quyền mà quý tộc Anh đã được hưởng từ lâu.
Nhưng một số từ được dùng trong văn kiện như “sự phán xử hợp
pháp”, “đại đa số ng
ười dân”, “tự do” có ý nghĩa thật vô cùng to lớn.
“Tầm quan trọng của Đại Hiến chương không phát xuất từ những gì
mà các con người của năm 1215 muốn đặt vào đó, mà từ ảnh hưởng
nó tạo ra trong đầu óc của các thế hệ sau”, nhà sử học nổi tiếng người
cơ quan đại nghị (representative body) vì các thành viên của nó được
bầu chọn qua con đường bỏ phiếu. Do vậy, họ không chỉ đại diện cho
chính mình, mà còn cho cả giới họ và tất nhiên khi bỏ phiếu cho những
vấn đề được mang ra thảo luận ở Nghị viện, họ phải tuân thủ quyền lợi
của giới họ().
Lúc đầu, Edward I tri
ệu tập Nghị viện nhằm kiếm thêm tiền cho
những cuộc chinh chiến rất tốn kém ở Wales và Scotland(), nhưng
Nghị viện có chủ ý riêng của mình. Các thành viên của nó đề ra ý
tưởng hãm quyết định chuẩn chi cho đến khi nhà vua chịu sửa chữa
các sai lầm mà họ đã lưu ý. Sáng kiến này được gọi là “sửa chữa
những bất bình”. Nghị viện sẽ chuyển những đòi hỏi của thầ
n dân()
lên nhà vua dưới dạng các văn bản được gọi là “bills”. Chúng sẽ trở
thành đạo luật, quy chế, sau khi được nhà vua đồng ý. Với chức năng
mới này, Nghị viện đã trở thành cơ quan lập pháp (legislative) hay làm
luật (law making).
Như vậy, đã dần dà hình thành một phong cách trị nước mới: cai trị
phù hợp với nhu cầu của các địa phương bằng cách dựa vào nguyện
vọng của số đông; m
ột sức mạnh mới ra đời: dư luận quần chúng.
Nghị viện còn là phương tiện tốt để kiểm tra hoạt động của các quan
chức địa phương và truyền đạt mệnh lệnh của nhà vua đến những
vùng đất xa xôi nhất. Còn nhà vua gắn bó với nhân dân qua Nghị viện.
Tuy nhiên, để Nghị viện trở thành một thực thể có quyền lực thực
sự, còn phải đợi thêm một biến cố trọng đại khác: Cách mạng vinh
quang (1688 - 1689).
II. SỰ RA ĐỜI CỦA MẦM MỐNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG CÁC THẾ
KỶ XIV VÀ XV.
1. Chế độ trang viên (manorial system) bị sụp đổ.
trên, một sự thay đổi các hình thức bóc
lột phong kiến đã gần kề. Giữa lúc đó, ở Anh đã xảy ra một biến cố
lớn: dịch Hắc tử (Black Death) ; đó là tên gọi bệnh dịch hạch truyền từ
lục địa châu Âu sang vào tháng 8-1348. Đợt dịch thứ hai diễn ra từ
năm 1361 đến 1362 và đợt thứ ba vào năm 1369. Những trận dịch này
đã cướp đi ít nhất 1/3 dân số và
đã đặt nền kinh tế trang viên trước
một vấn đề nghiêm trọng: nhân công thiếu hụt trầm trọng và tiền
công lao động đắt hơn năm 1347 rất nhiều. Giới chủ đất đã phản ứng
bằng cách ép buộc các nông nô sống ngoài khu vực trang viên phải
vào làm cho trang viên và cấm họ không được làm thêm các ngành
nghề thủ công hay những ngành nghề phụ khác. Nông nô đã đối phó
lại bằng cách từ chối đi lao dịch cho đị
a chủ, không vào sống trong
trang viên
Nhưng phản ứng đáng được đề cập nhất là họ đòi nhà vua ra luật ấn
định giá thuê lao động mà người chủ phải trả. Đáp ứng yêu cầu của
họ, trong các năm 1349, 1351 và 1361, nhà vua đã lần lượt ra các chỉ
dụ, được gọi chung là quy chế về người lao động (Statues of
Labourers), nêu rõ những người dưới 60 tuổi không có phương tiện
sinh sống (không có đất, không buôn bán, không có nghề), dù là nông
nô hay người tự do, phải làm thuê cho bấ
t kỳ ai thuê mướn theo mức
tiền công của một năm trước khi xảy ra bệnh dịch, tức năm 1347.
Người chủ nào trả tiền công cao hơn sẽ bị phạt. Người làm công nào
không tuân thủ quy định sẽ bị cùm chân, bắt giam và nếu bỏ không
làm cho chủ trước khi hết thời hạn làm thuê sẽ bị đặt ngoài vòng pháp
luật. Bên cạnh đó, lương thực phải được bán “với giá hợp lý”.
Chế
độ khủng bố nhằm vào người lao động kể trên đã gây ra nỗi
giới quý tộc và tư sản công khai dòm ngó số của cải to lớn của nhà
thờ, vốn do một số ít giáo sĩ ki
ểm soát.
John Wycliffe (1320 - 1384), giáo sư thần học Đại học Oxford, là
người đề xướng và cổ vũ phong trào cải cách tôn giáo, và trong 10
năm cuối đời đã trở nên nổi tiếng như là người báo hiệu và thúc đẩy
phong trào cải cách tôn giáo ở lục địa châu Âu.
Wycliff tiến công vào tham vọng của Giáo hội muốn kiểm soát
quyền lực thế tục, sự giàu có vật chất quá mức của Giáo hội, những
thói xấu của giáo sĩ, vào tệ nhũng lạm thần quyền đang lan tràn trong
khắp hàng ngũ giáo sĩ. Ông cho rằng quyền lực của nhà vua phải cao
hơn quyền lực của giáo hoàng, giáo sĩ phải trả lại của cải vật chất cho
người thườ
ng. Wycliff còn bạo dạn chống các học thuyết về sức mạnh
siêu nhiên của Giáo hội, về ân sủng cho phép giáo sĩ được “cứu rỗi”
linh hồn của tín đồ khỏi những khổ ải nơi địa ngục và dành cho tín đồ
một chốn nơi thiên đường. Ông cho rằng Giáo hội không thể mang lại
sự cứu rỗi được vì bản thân giáo sĩ chưa hẳn đã biết mình có được cứu
rỗ
i hay không, rằng ngay cả giáo hoàng cũng không biết mình là một
thành viên của Giáo hội, hay chỉ là hiện thân của ma quỷ. Jesus Christ,
bằng sự hy sinh của mình, cũng chỉ cứu vớt được một phần nhân loại,
trong khi phần kia phải chịu sự chi phối của quỷ Satan. Do đó, người
ta không nên đặt quá nhiều kỳ vọng vào vai trò cứu rỗi linh hồn của
Giáo hội ; những lễ cầu hồn là không cần thiết, việc mua chuộ
c tội lỗi
là vô ích. Wycliff đòi quay về với tín ngưỡng thuần khiết của giáo hội
nguyên thủy. Ông đòi đặt trọn niềm tin vào Kinh thánh, coi những lời
diễn dịch đều là tà đạo. Ông tuyên bố nội dung Kinh Thánh đã rõ ràng
đến mức có thể phổ biến thẳng cho tín đồ, không cần qua trung gian
đã vây kín một quan tòa từ London đến và chỉ thả sau khi ông này
cam kết không truy tố bất kỳ ai tham gia nổi dậy. Ngày 7-6, họ giải
cứu John Ball, người mau chóng trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong
trào. Ông nguyên là một tu sĩ đấu tranh trong suốt 20 năm liền cho
những ý tưởng dân chủ trong đạo Công giáo, chống lại cả nhà vua lẫn
Giáo hội. Ông chỉ im tiếng khi nhà vua quyết định
đã đến lúc nhốt ông
vào ngục.
Còn ở Kent, phong trào được lãnh đạo bởi Wat Tyler. Ông đã cầm
đầu những người nổi dậy kéo đến Canterbury, giáo khu chính ở Anh
quốc. Họ đã thải hồi vị tổng giám mục Sudbury, vì ông này bị coi là kẻ
phản bội, cướp phá dinh thự của ông. Rất nhiều giấy tờ đã bị thiêu
hủy. Trên đường vòng về Maidstone, những người khởi nghĩa đã đốt
phá các trang viên. Mộ
t số lớn quý tộc đã hoảng sợ bỏ trốn vào rừng.
Mục tiêu của đoàn người nổi dậy giờ đây là London. Ngày 13-6, một
ngày trước khi những người nổi dậy đến London, John Ball đã lên tiếng
thuyết giảng trước họ. Bài giảng của ông phát xuất từ nhận xét rất nổi
tiếng: “Khi Adam cày ruộng và Eva dệt vải, lúc ấy ai là người quý
tộc?”. Theo ông, mọi người sinh ra đều bình
đẳng. Chế độ nông nô và
nô lệ là sản phẩm của những kẻ xấu, không xứng đáng với Chúa và
cần phải bị phá bỏ.
Những người khởi nghĩa đến kinh đô từ hai hướng khác nhau: từ
Essex phía Bắc và từ Kent phía nam. Các quan cai trị nhận thấy tốt
nhất là không nên cản họ. Cầu rút vừa hạ xuống, từng đoàn người như
thác lũ tràn vào trong thành. Họ phá tan hoang dinh thự của chú vua,
John de Gaunt, vì cho rằng ông là tác giả của thuế thân. Tuy nhiên, họ
không hề động đến số của cải kếch sù được tích lũy ở đây. Kế đó, họ
đốt phá các nhà tù Newgate và Fleet, nơi giam giữ các nông dân và
“Cương lĩnh Smithfield” với nội dung như sau: 1) Trưng thu ruộng đất
của nhà thờ và chia cho những giáo dân nghèo nhất; 2) Giảm số giám
mục xuống còn một; 3) Xóa bỏ giai cấp tiện dân và mọi sự khác biệt
về
đẳng cấp giữa các thân dân của vua; không ai, ngoại trừ Vua, được
là lãnh chúa của người khác; 4) Huỷ bỏ mọi quy chế thù nghịch giữa
Giáo hội và người lao động.
Trong lúc hai bên đang thương lượng, Wat Tyler đã bị Thị trưởng
London đâm chết. Tuy nhiên, nhà vua theo lời khuyên của các cận
thần, đã chấp thuận toàn bộ yêu cầu của những người khởi nghĩa.
Nhưng khi họ giải tán và quay về quê hương, giới quý t
ộc bắt đầu
phản công. Các quan tòa đi cùng với từng toán lính đến các địa phương
săn lùng và giết hại tất cả những ai tham gia cuộc nổi dậy. Mãi đến
tháng 11-1381, lệnh ân xá mới được ban hành, nhưng sau đó không
lâu Quy chế về người Lao động cũng được nới lỏng đáng kể.
Tuy thất bại, cuộc khởi nghĩa năm 1381 của nhân dân đã mang lại
nhiều kết quả tích cự
c. Nó thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển từ tô lao
dịch hiện vật sang tô tiền và thủ tiêu nền kinh tế trang viên. Đến đầu
thế kỷ XV, phần lớn tá điền Anh đã trở thành người tự do.
4. Sự ra đời của gentry.
Một trong những sự kiện quan trọng nhất trong thế kỷ XV là sự xuất
hiện của tầng lớp quý tộc mới - gentry. Gốc tích của tầng lớp này là
giới quý t
ộc vừa và nhỏ. các thị dân giàu có hoặc khá giả (thương
nhân, chủ công xưởng, quan chức thừa tiền mua thêm ruộng đất để
kinh doanh). Như vậy, gentry vừa là địa chủ, vừa là nhà kinh doanh
hoặc quan chức phong kiến Sự ra đời của gentry gắn liền với sự tăng
trưởng nhanh về kinh tế của Anh trong thế kỷ XV. Trong nông nghiệp,
i để chống lại ưu thế của vương quyền, mà là để
giành giật các chế độ ưu đãi phát sinh từ đó. Kết quả là năm 1399,
Richard II bị hạ bệ. Triều đại Plantagenet đến đây là kết thúc. Bá tước
xứ Lanscaster lên kế vị với vương hiệu là Henry IV (1399 - 1413), mở
ra triều đại mới trong lịch sử Anh - triều Lanscaster.
Chính dưới triều Henry IV và Henry V (1413 - 1422), Anh đã đẩy
mạnh cu
ộc chiến tranh chống Pháp và đã giành được một thắng lợi
quân sự lớn ở Azincourt (1415). Năm 1420, ưu thế của Anh trên lãnh
thổ Pháp được khẳng định bằng Hiệp ước Troyes. Henry V đã lấy con
gái của vua Pháp Charles VI nửa điên nửa tỉnh với ý đồ kiểm soát phần
lớn Vương quốc Pháp và hi vọng con trai của ông và công chúa Pháp
sẽ là người kế thừa cả hai vương quốc.
Năm 1422, cả Henry V và Charles VI đề
u nối tiếp nhau qua đời. Kế
vị họ ở ngôi vua của cả hai vương quốc là Henry VI (1422 - 1461) lúc
này chỉ mới 9 tháng tuổi. Quyền lực do vậy tập trung trong tay John
xứ Lanscaster, tức Công tước Bedford, đảm trách công việc cai trị ở
Pháp, và Humphrey xứ Gloucester coi sóc công việc cai trị ở Anh.
Nhưng từ năm 1429, vị thế của Anh ở Pháp bị suy yếu dần trước
phong trào kháng chiến sôi nổi của nhân dân Pháp được khích lệ bởi
t
ấm gương yêu nước đầy quả cảm của nữ anh hùng Jeanne d’Arc. Năm
1450, Anh bị đẩy lui khỏi miền Normandie. Ba năm sau, sự hiện diện
của Anh trên lãnh thổ Pháp bị thu gọn trong phạm vi Calais. Chiến
tranh Trăm năm coi như được kết thúc ở đây().
Nhưng đối với nước Anh, sự biến này lại trở thành màn giáo đầu cho
một cuộc nội chiến dai dẳng và khốc hại.
5. Nội chiến “Hai bông hồng”
Việc Henry VI lên cầm quyền khi còn quá nhỏ đã trở thành cơ hội để
IV (1461 - 1483).
Chính sách cai trị của tân vương mang những dấu hiệu đầu tiên của
chủ nghĩa trọng thương (mercantilism). Ông cố đạt được một cán cân
ngoại thương thặng dư. Nhiều biện pháp đã được mang ra thực hiện để
khuyến khích công nghiệp dệt dạ và hoạt động hàng hải.
Khi Edward IV qua đời, ngai vàng đã lọt vào tay em ông - Richard
III (1483 - 1485), thay vì con trai ông - Edward V - lúc
đó mới 12 tuổi.
Là một tay phiêu lưu, Richard III sẵn sàng làm mọi chuyện để bảo vệ
quyền lực. Lo ngại cho sinh mạng và của cải của mình, các quý tộc đã
liên kết với nhau dưới quyền Henry Tudor, em rể của Edward IV và là
người thuộc dòng Lanscaster về phía mẹ. Một trận chiến quyết định
giữa hai phe đã diễn ra ngày 22-8-1485 ở Bosworth. Richard III bị
đánh bại và bị giết chết. Ngai vàng lọt vào tay Henry VII Tudor. Ông
đã tìm cách hòa giải hai dòng h
ọ thù địch bằng cách cưới cô con gái
thừa kế dòng York (tức con gái của Edward IV) và đặt ra gia huy mới
gồm cả bông hồng đỏ và bông hồng trắng.
Thế kỷ XV là một thời kỳ đầy những biến động và đổi thay. Đất
nước bị tàn phá bởi nội chiến và bệnh dịch, dân số không tăng cho đến
cuối thế kỷ. Quyền lực của nhà vua bị suy yếu đã khiến luật pháp
không được tôn trọng, đất nước rơi vào cảnh rối ren. Các thế lực phong
kiến cát cứ nổi dậy. Hoạt động xuất kh
ẩu len một thời phồn thịnh nay
bị sút giảm nhiều, nhưng dần dần được thay bằng vải len, sản phẩm
của nền kinh tế trang trại mới. Các chủ đất đã đáp ứng nhu cầu tăng
lên về len bằng cách rào đất và nuôi nhiều cừu hơn, và do đó đã làm
đảo lộn sinh hoạt kinh tế cổ truyền ở nông thôn, tạo nền tảng cho sự
tăng trưở
ng. Tất cả những gì nước Anh cần giờ đây là một vị vua có uy
bản, tại sao Anh lại tiến khá nhanh chóng để
trở thành nước dẫn đầu ở Tây Âu và cả thế giới? Để trả lời những câu
hỏi này cần phân tích các đặc điểm của tình hình phát triển xã hội và
kinh tế, đặc biệt là sự tiến triển xã hội - kinh tế ở nông thôn. Thực vậy,
nông thôn Anh, khác với lệ thường, đã phản ứng không kém nhạy bén
so với thành thị trước những chấ
n động mà nó nhận được, và thậm chí
trong nhiều khía cạnh còn tiến trước cả thành thị. Chính nông thôn đã
thúc đẩy tiến bộ kinh tế.
1. Những thay đổi lớn lao trong lĩnh vực kinh tế.
So về mức độ đồng bộ, đà phát triển xã hội - kinh tế ở thành thị và
nông thôn diễn ra ở Anh cao hơn so với các nước Tây Âu khác. Anh
cũng là nơi có sự luân chuyển lao động và thay đổi sở hữu ruộng đất
diễn ra với nhịp độ nhanh h
ơn rất nhiều, chế độ tư hữu ở Anh thích
ứng với các nhu cầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sớm
hơn, có hệ thống hơn và quy mô hơn. Thêm vào đó là vị trí địa lý hết
sức thuận lợi của Anh, vốn khi xưa nằm ở một góc riêng biệt, tách rời
các đường thương mại chính ở châu Âu, giờ đây, sau khi châu Mỹ được
phát hiện, đã nằm ngay trên một trong những con đường mậu dịch
chính trên Đại Tây dương. Có thể nói đây là các nguyên nhân giải thích
sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Anh trong thế kỷ XVI, đặc
biệt là nửa sau thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII dưới triều Elizabeth I.
Sự phát triển của công nghiệp diễn ra chủ yếu trong các công xưởng
tư bản chủ nghĩa sản xuất các mặt hàng dành cho xuất khẩ
u (chẳng
hạn như dạ), hoặc đòi hỏi nhiều vốn đầu tư (khai khoáng). Công
nghiệp dệt dạ phát triển thịnh vượng ngay từ thế kỷ XIV và XV. Sự
tăng trưởng có được là nhờ phần lớn ngành công nghiệp này đã
chuyển về vùng quê, nơi sẵn có nguồn cung cấp nguyên liệu (lông
ấn
Sự gia tăng hàng hóa cả về sản lượng và chủng loại không thể
không tác động đến thị trường trong nước và ngoài nước. Vai trò chính
yếu trong lưu chuyển hàng hóa trong nước giờ đây n
ằm trong tay
những người thu mua và các thương nhân lớn. Các nhà sản xuất nhỏ,
nhất là thợ thủ công giờ đây không còn đủ sức đảm nhận việc tiêu thụ
sản phẩm.
Ngoại thương với một thị trường được mở rộng không ngừng nhờ
những cuộc phát kiến địa lý hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của các
thương nhân tư bản chủ nghĩa. Ở Anh từ nử
a sau thế kỷ XVI, đặc biệt
là dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I đã lần lượt xuất hiện nhiều công ty
chuyên buôn bán với vùng này hoặc vùng khác. Tên gọi của các công
ty cho thấy vùng hoạt động của chúng: Công ty Moskva (1554) hoạt
động ở vùng biển Baltique, Công ty Levant (1579) buôn bán với vùng
biển Địa Trung Hải, Công ty Guinea (1588) buôn bán với Tây Phi và
Công ty Đông Ấn lừng danh (1600) được độc quyền buôn bán với
những xứ nằm từ mũi Hảo Vọng đến eo biển Magellan.
Có thể nói ngoại thương là một trong hai nguồn chính tích lũy tư
bản nguyên thủy của tư sản Anh. Để có một ý niệm về tỉ suất lợi
nhuận mà ngoại thương mang lại cho giai cấp tư sản Anh, xin dẫn ra
đây vài số liệu về giá mua và bán một số mặt hàng trên thị trường Anh
cuối thế kỷ XVI.
Đơn vị đo lường : 1 livre()
MẶT HÀNG GIÁ MUA
(pence)
GIÁ BÁN
(pence)
Tiêu
(enclosure) do giá nông phẩm và nguyên liệu tăng lên, việc khai thác
ruộng đất trên qui mô lớn để có nhiều hàng hóa (đặc biệt là nuôi cừu)
trở thành công việc sinh lợi cao. Để khai thác sự thuận lợi mà
điều kiện
kinh tế mang lại, chủ đất (landlord) có hai cách : tự trở thành người
chăn nuôi bằng cách biến đất canh tác thành đồng cỏ, hoặc giao đất
cho những người khá giả, các trại chủ sẵn sàng trả tiền thuê cao, thay
đổi theo giá lúa mì. Như vậy, nếu trong những thế kỷ trước lợi tức của
chủ đất là do tô mang lại, thì trong thế kỷ XVI chính bản thân đất mới
là nguồn lợi tức có giá tr
ị do chỗ nó cho phép người ta phát triển nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong sự đổi thay này, tá điền trở thành
vật cản. Phải gạt họ ra khỏi các mảnh đất mà họ đang canh tác hoặc
sử dụng, nhưng không có quyền sở hữu riêng.
Để làm được chuyện này, chủ đất có nhiều cách. Cách tốt nhất là
“rào đất” bắt đầu được sử dụng nhiều từ
nửa sau thế kỷ XV. Chủ đất
chiếm đoạt làm của riêng các đất chung mà nông dân quanh vùng
trước đây thường sử dụng tập thể (đất rừng, đồng cỏ ). Chủ đất còn
tiến công cả vào những cánh đồng mở (open fields) : họ rào kín mọi
đất canh tác mà họ có thể vơ vét được. Như vậy, nông dân, nhất là
nông dân nghèo bị tước mất mọi phần đất sử dụng chung mà họ có
thể
dựa vào đó để bổ sung thêm nguồn thu nhập vốn đã rất thấp của
họ. Một cách làm khác là nâng cao quá mức số tô mà tá điền phải
đóng, để rồi cuối cùng họ đành phải từ bỏ mảnh đất mà họ đang lĩnh
canh.
Dưới tác động của “rào đất”, quang cảnh đồng quê Anh thay đổi
mau chóng : các cánh đồng giờ đây mọc đầy những lùm cây làm hàng
rào. Hàng trăm làng mạc b
ận lợi trong việc kinh doanh, các thương nhân đã
không ngần ngại yểm trợ tài chính bằng cách cho mượn, tặng hoặc
mua quyền miễn thuế. Nhờ vậy, Vua duy trì được một quyền tự trị
nhất định về tài chính đối với Nghị viện. Trong suốt 24 năm cầm
quyền, Henry VII chỉ triệu tập Nghị viện có bảy lần, trong đó có hai lần
trong 13 năm tại vị cuối cùng. Là một v
ị vua cần kiệm, ông đã để lại
cho người kế vị một khoản tiền đáng kể trong ngân sách là 2 triệu
livres.
Henry VIII (1509-1547) là mẫu người ngược lại với tiên đế. Sống xa
hoa và lãng phí, ông đã mau chóng tiêu sạch số tiền trong ngân quỹ.
Bị lôi vào những cuộc chiến tranh vì thích can dự vào châu Âu, Henry
VIII đã khiến tài chính trở thành mối bận tâm chính trong chính sách
đối nội của ông. Và đây là một trong những nguyên nhân đẩy nước
Anh tham gia vào một biến c
ố đang diễn ra trên phần lớn lục địa châu
Âu : Phong trào Cải cách tôn giáo.
Mọi sự bắt đầu từ một vụ việc cá nhân. Năm 1526, Henry VIII, viện
cớ Hoàng hậu không có con trai, yêu cầu Giáo hoàng cho phép hủy bỏ
cuộc hôn lễ giữa ông và Catherine xứ Aragon. Nhưng đang chờ kết quả
của cuộc tranh giành ảnh hưởng ở Ý giữa Vua Pháp François I và
Hoàng đế Carlos Quinto của Tây Ban Nha, Giáo hoàng Clément VII đã
lần lữa không trả lời, vì Catherine là cô của Hoàng đế
. Năm 1527, Giáo
hoàng coi như bị Carlos Quinto cầm tù sau khi Roma bị quân của
Hoàng đế đánh phá. Tất nhiên trong hoàn cảnh như vậy, Giáo hoàng
đã chống lại cuộc li hôn. Henry VIII quyết định đoạn giao với Roma.
Thực ra, bản thân sự việc này không đủ để giải thích việc Henry VIII
sẽ phát động cuộc cải cách tôn giáo, nhất là khi Henry VIII từng được
đào tạo trong một trường đạo và khi phong trào cải cách phát sinh ở
năm 1536, có 376 tu viện nhỏ bị đóng cửa. Năm 1539, toàn bộ tu viện
đều bị cấm hoạt động. Ruộng đất của Giáo hội mang lại số hoa lợi
hàng năm tới 136.000 livres. Còn tài sản bị thu hồi được ước tính vào
khoảng 1 triệu - 1,5 triệu livres.
Thực ra, Nhà vua không được hưởng gì nhiều từ nhữ
ng của cải thu
được của Giáo hội. Bằng những thủ thuật không minh bạch, giới quý
tộc trong triều và giai cấp tư sản đã chiếm đoạt phần lớn và trở nên
giàu có hơn. Cái được của Nhà vua là quyền lực được tăng cường, cơ
sở xã hội của chế độ phong kiến chuyên chế được mở rộng: cả quý tộc
lẫn tư sản đều
ủng hộ cuộc cải cách tôn giáo mà Nhà vua đang tiến
hành, vì họ sợ sự phản công của Giáo hội.
Sự lo lắng trên không phải là không có cơ sở, vì tuy đưa Giáo hội
Anh tách khỏi ảnh hưởng của Giáo hoàng, Henry VIII vẫn trung thành
với giáo lý Công giáo La Mã qua Sắc lệnh sáu điều, mà ông công bố
năm 1539 buộc mọi người phải tuân thủ toàn bộ nội dung giáo lý cũ,
ngoại trừ, tất nhiên, quyền lực tối thượng củ
a Giáo hoàng. Nói tóm lại,
Henry VIII đã lập nên một tôn giáo mới, tức Anh giáo. Tôn giáo mới bị
cả người Tin Lành lẫn cả người Công giáo tấn công. Henry VIII phản
ứng rất mạnh đưa lên giàn hỏa cả người Tin Lành và cả người Công
giáo còn trung thành với Tòa thánh.
Sự đoạn tuyệt lưng chừng trên đã khiến các triều vua sau không có
chính sách tôn giáo nhất quán. Năm 1549, Vua Edward VI (1547-
1553) ban hành Sách cầu nguyện (Prayer Book) được soạn bằng tiếng
Anh theo các ý tưởng của Calvin, năm 1553 công bố Đạ
o luật 42 điều
bãi bỏ lễ Misa, cho phép giáo sĩ được lập gia đình.
Người kế vị Edward qua đời khi chưa đến tuổi trưởng thành là Maria
lãnh đạo. Tính khí bà đầy những mâu thuẫn : vừa cần kiệm lại vừa
hoang phí, kín đáo, đa nghi nhưng lại thích được vây quanh bởi những
sủng thần, chuyên chế nhưng dễ phạm những bất cẩn. Đặc biệt là bà
rất kiêu ngạo, không bao giờ muốn từ bỏ dù là rất ít, quyền lực của
mình. Bà khước từ cả việc lập gia đình để giữ nguyên quyền lực của
mình. Tính khí của Elizabeth đã đẩy bà đến chỗ cai trị như một nữ
hoàng chuyên chế với sự giúp sức của “Hội đồng riêng”. Về nguyên
tắc, các quyền lực của bà vẫn bị giới hạn bởi sự tồn tại của Nghị viện,
mà giờ đây đã được phân biệt rõ thành hai vi
ện: Viện Nguyên lão và
Viện Thứ dân. Với hoạt động ngày càng có quy củ hơn, Nghị viện
không phải lúc nào cũng tỏ ra dễ lèo lái. Tuy nhiên, do giành được uy
tín cao trong lĩnh vực đối ngoại và có một chính sách phát triển kinh tế
có hiệu quả cộng với một chính sách tài chính chặt chẽ và tiết kiệm,
dự phần trực tiếp vào các hoạt động thương mại (nghĩa là bỏ tiền vào
các chuyến đi của Công ty Đông Ấ
n hay Công ty Levant), tăng thuế,
chính phủ của Elizabeth I nắm được trong tay những nguồn tài chính
dồi dào. Nhờ vậy, Nữ hoàng đã hạn chế được đến mức tối đa việc triệu
tập Nghị viện (13 lần trong 45 năm cầm quyền). Hơn nữa, bà còn biết
cách tạo cho mình những người ủng hộ kiên định bằng cách ban cho
họ chế độ độc quyền, tức chế độ ưu đãi dành cho các công ty hay
những cá nhân quyền được khai thác hay buôn bán một sản phẩm ở
một vùng nào đó. Tuy nhiên, bà vẫn cần đến sự ủng hộ của Nghị viện
trong chế độ tôn giáo.
Thực vậy, tôn giáo tiếp tục là một vấn đề gay cấn trong số các vấn
đề
đối nội. Nguyên nhân nằm ở chỗ cuộc hôn nhân giữa Henry VIII và
người vợ sau (tức mẹ của Elizabeth I) không được Giáo hoàng công
nhận. Những người Công giáo đã dựa vào đó để phủ nhận quyền kế vị
sự độc quyền thương mại và thuộc địa của Tây Ban Nha. Chừng nào
mà việc mở cửa hoạt động mậu dịch còn là điều kiện hàng đầu để Anh
c
ủng cố nền kinh tế và chính trị của mình, thì chừng đó đối với giai cấp
tư sản nước này, Tây Ban Nha còn là kẻ thù tôn giáo và dân tộc. Trong
nỗ lực cạnh tranh với Tây Ban Nha, giai cấp tư sản Anh đã quy tụ
quanh Nữ hoàng Elizabeth, bất chấp xu hướng chuyên chế trong chế
độ cai trị của bà. Bản thân Elizabeth phải thường xuyên phải đối phó
với mưu đồ và mánh khóe mà Giáo hoàng, Félipe II và các tín đồ Cơ
đốc Anh đã tạo dựng lên
để chống lại bà. Họ ủng hộ những kẻ tranh
giành ngôi vua với bà, chẳng hạn như Hoàng hậu Scotland Maria