nghiên cứu - trao đổi
10 - Tạp chí luật học
hực hiện đờng lối đổi mới toàn diện đất
nớc do Đại hội lần thứ VI (1986) của
Đảng đề ra, song song với những cải cách sâu
rộng về kinh tế, công cuộc đổi mới bộ máy nhà
nớc nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của
Nhà nớc, đáp ứng các yêu cầu quản lí trong
điều kiện mới đợc triển khai mạnh mẽ.
Quan điểm chung là phải xây dựng bộ máy
nhà nớc vừa bảo đảm tính kế thừa vừa thể
hiện những nhận thức mới phù hợp với yêu cầu
phát triển đất nớc trong giai đoạn mới.
Nguyên tắc chủ đạo của cải cách bộ máy nhà
nớc (đợc đề ra trớc tiên tại Cơng lĩnh xây
dựng đất nớc trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa x hội do Đại hội VII của Đảng (1991)
thông qua và sau này đợc Đại hội VIII (1996)
chuẩn hoá) là: "Nhà nớc Việt Nam thống
nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, t pháp
với sự phân công rành mạch ba quyền đó" hay
Quyền lực nhà nớc là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà
nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, t pháp.
(1)
nhiều vấn đề mới phát sinh đòi hỏi phải xử lí.
Trớc tình hình đó, việc tiếp tục kiện toàn bộ
máy nhà nớc nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu
công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nớc pháp
quyền XHCN Việt Nam là hết sức cần thiết.
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ơng
Đảng khoá VIII (tháng 8/1999) chỉ rõ: Tổ
chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là bộ
T
* Viện nghiên cứu nhà nớc và pháp luật
PGS.TS. Bùi Xuân Đức
*
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 11
máy hành chính nhà nớc còn cồng kềnh,
nhiều đầu mối, tầng nấc trung gian Chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và chế độ trách
nhiệm của nhiều cơ quan và ngời đứng đầu
cha thật rõ, còn chồng chéo, cơ chế vận hành
và nhiều mối quan hệ còn bất hợp lí , cần
thiết phải tổ chức việc nghiên cứu sửa đổi, bổ
sung một số vấn đề về tổ chức bộ máy các cơ
quan nhà nớc liên quan đến Hiến pháp 1992
và các luật tổ chức các cơ quan nhà nớc.
(3)
Nội dung chính của những sửa đổi, bổ
sung gồm:
1. Về Quốc hội, Uỷ ban thờng vụ
Quốc hội
Vị trí, vai trò của Quốc hội trong bộ máy
nhà nớc Việt Nam tiếp tục đợc khẳng định
nh cũ. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nớc cao
nhất của nớc Cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt
Nam. Trong quá trình nghiên cứu cũng nh
thảo luận không phải không có ý kiến khác về
vấn đề này nh muốn coi Quốc hội không phải
là cơ quan tập trung tất cả quyền lực nhà nớc
mà chỉ là cơ quan quyền lực về lập pháp. Giữ
quy định nh trên là để thể hiện đặc thù của
chính thể XHCN. Về cơ bản, tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Uỷ
ban thờng vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
uỷ ban của Quốc hội đợc quy định trong Hiến
pháp là phù hợp.
Sửa đổi, bổ sung về Quốc hội chủ yếu làm
rõ hơn một số chức năng, quyền hạn của Quốc
hội. Đó là:
- Sửa quy định tại điểm 4 Điều 84 "Quốc
hội phân bổ ngân sách nhà nớc " thành
"Quốc hội phân bổ ngân sách trung ơng ".
Theo quy định cũ, Quốc hội phân bổ ngân
sách nhà nớc bao gồm cả ngân sách trung
ơng và ngân sách địa phơng. Điều này
không phù hợp với việc phân cấp quản lí tài
phê chuẩn". Bổ sung này nhằm làm rõ hơn cơ
chế chịu trách nhiệm của các chức danh trên
trớc Quốc hội. Theo quy định của Hiến pháp
thì các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê
chuẩn nh Chủ tịch nớc, Chủ tịch Quốc hội,
Thủ tớng, phó Thủ tớng, chánh án Toà án
nhân dân tối cao, viện trởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, bộ trởng, thủ trởng cơ
quan ngang bộ đều chịu trách nhiệm trớc
Quốc hội. Hình thức trách nhiệm là miễn
nhiệm, bi nhiệm. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ
thực hiện thẩm quyền này khi có đề nghị của
những chức danh đợc quy định (nh Chủ tịch
nớc, Thủ tớng ) mà cha có cơ chế trực
tiếp. Đều này làm hạn chế vai trò giám sát của
Quốc hội. Trong khi đó ở hầu hết các nớc
trên thế giới và cả ở Việt Nam theo Hiến pháp
năm 1946, nghị viện đều thực hiện quyền bỏ
phiếu tín nhiệm (hay bất tín nhiệm) đối với
Chính phủ, Thủ tớng và các bộ trởng. ở
nhiều nớc, nghị viện còn xét xử đàn hạch phế
truất cả tổng thống. Quy định bổ sung này tạo
cơ sở cho Quốc hội có thể trực tiếp tiến hành
sát hạch, tỏ thái độ đối với những chức danh
thuộc đối tợng giám sát của mình. Luật tổ
chức Quốc hội mới ban hành sau đó (Điều 12
và 88) quy định chi tiết thêm: Uỷ ban thờng
vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm
đối với những ngời giữ các chức do Quốc hội
bầu hoặc phê chuẩn; xem xét trình Quốc hội
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 13
chủ quyền quốc gia, do đó phải đợc thực hiện
theo quy trình chặt chẽ. Chủ tịch nớc kí kết
điều ớc quốc tế nhân danh Nhà nớc với
ngời đứng đầu Nhà nớc khác thì cần phải
đợc Quốc hội phê chuẩn hoặc bi bỏ.
- Bi bỏ điểm 8 Điều 91 quy định cho Uỷ
ban thờng vụ Quốc hội, trong thời gian Quốc
hội không họp "phê chuẩn đề nghị của Thủ
tớng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức phó Thủ tớng, bộ trởng và
các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo
với Quốc hội tại kì họp gần nhất". Lí do là
trong bộ máy nhà nớc ở nớc ta, Uỷ ban
thờng vụ Quốc hội là cơ quan thờng trực của
Quốc hội, ngoài những chức năng riêng là bảo
đảm tổ chức các hoạt động của Quốc hội còn
đợc Quốc hội giao (thay Quốc hội) thực hiện
một số thẩm quyền của Quốc hội giữa hai kì
họp, trong đó có thẩm quyền nêu trên. Đây là
thẩm quyền đợc coi là truyền thống của cơ
quan thờng trực của Quốc hội đ đợc ghi
nhận và thực hiện thờng xuyên từ Hiến pháp
năm 1959. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy đây
là thẩm quyền quan trọng không nên giao cho
cơ quan nào khác mà phải do Quốc hội thực
hiện. Mặt khác, thời gian giữa hai kì họp
không dài, do vậy việc bổ nhiệm, miễn nhiệm,
2. Về Chủ tịch nớc
Trong bộ máy nhà nớc Việt Nam Chủ
tịch nớc là ngời đứng đầu Nhà nớc, thay
mặt nớc Cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt Nam
về đối nội và đối ngoại. Về cơ bản, những quy
định của Hiến pháp năm 1992 về Chủ tịch
nớc là phù hợp, chỉ có một số sửa đổi, bổ
sung liên quan đến những thay đổi trong thẩm
quyền của Quốc hội và Uỷ ban thờng vụ
Quốc hội nêu trên.
- Bỏ quy định Chủ tịch nớc bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức phó Thủ tớng, bộ
trởng và các thành viên khác của Chính phủ
căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thờng vụ
Quốc hội vì Uỷ ban thờng vụ Quốc hội không
còn quyền phê chuẩn đề nghị của Thủ tớng
Chính phủ về vấn đề đó nữa (điểm 4 Điều
103).
- Bỏ thẩm quyền của Chủ tịch nớc quy nghiên cứu - trao đổi
14 - Tạp chí luật học
định tại điểm 7 Điều 103 về đề nghị Uỷ ban
thờng vụ Quốc hội xem xét lại nghị quyết của
Uỷ ban thờng vụ Quốc hội tuyên bố tình
trạng chiến tranh khi nớc nhà bị xâm lợc. Lí
do là vì tại lần sửa đổi, bổ sung này, Hiến pháp
đ quy định lại điểm 9 Điều 91 theo hớng
thởng giải thởng Nhà nớc (điểm 9); trình
Quốc hội phê chuẩn điều ớc quốc tế đ trực
tiếp kí.
3. Về Chính phủ
Chính phủ là thiết chế đ đợc đổi mới căn
bản tại thời điểm thông qua Hiến pháp năm
1992. Về cơ bản, những quy định về tổ chức,
nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là phù
hợp. Lần này có một vài sửa đổi, bổ sung nhỏ
nh về thẩm quyền của Chính phủ trong việc
đàm phán, kí kết điều ớc quốc tế nhân danh
Nhà nớc (trừ trờng hợp quy định cho Chủ
tịch nớc) bên cạnh việc đàm phán, kí kết, phê
duyệt, gia nhập điều ớc quốc tế nhân danh
Chính phủ vẫn tiến hành nh trớc. Sửa đổi
quan trọng hơn cả là việc quy định lại vị trí,
vai trò của các cơ quan thuộc Chính phủ theo
hớng: Trong số các cơ quan thuộc Chính phủ
cần rà soát để lĩnh vực nào phải do bộ quản lí
thì thành lập bộ, còn những lĩnh vực khác thì
giao về các bộ quản lí đa ngành, đa lĩnh vực
đảm nhiệm. Cơ quan nào nếu xét thấy thật cần
thiết thì mới giữ lại chỉ để giúp Chính phủ, Thủ
tớng Chính phủ trong việc thực hiện quản lí
nhà nớc. Các cơ quan này không ban hành
văn bản quy phạm pháp luật nữa. Vì vậy, tại
Điều 116 bỏ quy định về thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Thủ trởng cơ
quan thuộc Chính phủ. Việc kí ban hành các văn
bản loại này từ nay (theo Quyết định số
hoạt động t pháp. Hoạt động kiểm soát việc
tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nớc, tổ
chức kinh tế - x hội và công dân trên thực tế
đ và đang đợc thực hiện bởi các cơ quan nhà
nớc khác nh Quốc hội, hội đồng nhân dân,
Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ.
Việc quy định lại chức năng của viện kiểm
sát nhân dân nh vậy nhằm phân công rõ ràng
hơn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà
nớc, tạo điều kiện cho viện kiểm sát nhân dân
tập trung thực hiện tốt hơn chức năng công tố,
kiểm sát các hoạt động t pháp là những lĩnh
vực quan trọng hiện còn nhiều hạn chế. Trong
tơng lai, nếu ở nớc ta cũng nghiên cứu giao
cho toà án quyền giám sát hoạt động bắt, giam
và điều tra của các cơ quan điều tra thì chức
năng của viện kiểm sát sẽ còn thu hẹp nữa.
Do có sự thay đổi về chức năng này của
viện kiểm sát nhân dân nên bỏ quy định viện
trởng viện kiểm sát nhân dân địa phơng chịu
trách nhiệm báo cáo trớc hội đồng nhân dân
về tình hình thi hành pháp luật ở địa phơng và
chỉ còn chịu trách nhiệm báo cáo công tác
trớc hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của
các đại biểu .
Để tập trung vào thực hiện chức năng công
tố và kiểm sát hoạt động t pháp, Luật tổ chức
viện kiểm sát nhân dân sửa đổi đ bỏ chức
danh "điều tra viên" ở viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh.
Chính trị quốc gia, H.1999.