BÀI TIỂU LUẬN:
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THANH TRA,
GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
GVHD : ThS NGUYỄN THỊ HAI HẰNG
LỚP : K09.404.A
SVTH : NHÓM 18
NGUYỄN THỊ BÌNH K094040516
NGUYỄN THANH HƯƠNG K094040557
ĐẶNG THỊ ANH THÙY K094040608
1. Quá trình ra đời của Hiệp ước vốn Basel
- Những năm 1980, hệ thống NHTM phát triển mạnh và có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh => củng cố hoạt động
và tạo ra một cơ chế cạnh tranh bình đẳng, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập
+ Tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước. Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan
giám sát nào và những kết luận của Uỷ ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động
ngân hàng.
+ Xây dựng, công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp
dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia.
+ Khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám
sát của các nước thành viên
- Năm 1988, Uỷ ban Basel phê duyệt văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I)
- Khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính.
- Ngày 26/6/2004, Basel II đã chính thức được ban hành. Sự khác biệt lớn nhất của Basel II so với Basel I được thể hiện ở
việc cấu trúc của Basel II tập trung vào định lượng rủi ro cho các mục đích phân bổ vốn.
- Basel II hướng tới 03 mục đích chính sau đây:
+ Đảm bảo vốn phân bổ theo hướng nhạy cảm rủi ro.
+ Phân biệt rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng, đồng thời định lượng 02 loại rủi ro này.
+Thu hẹp khoảng cách giữa vốn theo quy định và vốn kinh tế
2. Sự ra đời của Basel II
Ba trụ cột chính của Basel II
Trụ cột thứ I
Nguyên tắc 3
∗
Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định.
Nguyên tắc 4
∗
Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy
định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.
- Công tác thanh tra, giám sát thực hiện thông qua 2 phương thức: thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa.
+Thanh tra tại chỗ: hoạt động kiểm tra trực tiếp của Thanh tra Ngân hàng tại các NHTM thông qua các đoàn kiểm tra.
Hàng năm Thanh tra ngân hàng xây dựng chương trình kế hoạch thanh tra trình Thống đốc phê duyệt và xây dựng Đề
cương chi tiết chỉ đạo toàn hệ thống thực hiện.
+Hoạt động giám sát từ xa: được thực hiện thông qua việc thu thập và xử lý các số liệu báo cáo của NHTM để đánh giá
việc thực hiện các chỉ tiêu an toàn cơ bản trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời, tổng hợp đánh giá chung hoạt động của
cả hệ thống, phục vụ cho sự chỉ đạo, điều hành toàn ngành của Thống đốc NHNN. Hiện nay, hoạt động giám sát từ xa
được tiến hành hàng tháng và được thực hiện qua mạng máy tính.
3. Đánh giá mức độ đáp ứng trụ cột 2 hiệp ước Basel II của các NHTM
Nhận xét:
∗
Trong thời gian qua, hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đã từng bước được đổi mới trên cơ sở các thông lệ và
chuẩn mực quốc tế về giám sát an toàn hệ thống ngân hàng. NHNN đã có quy định, thông tư về việc yêu cầu các
ngân hàng phải đảm bảo, duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%. Đồng thời, cũng quy định về việc NHNN có thể
yêu cầu các NHTM duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn cao hơn mức quy định dựa vào kết quả thanh tra, kiểm tra của
cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng.
Tuy nhiên công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tài chính vẫn còn nhiều bất cập:
- Bộ máy giám sát tài chính tại ngân hàng Việt Nam chưa được xây dựng đồng bộ và hiệu quả để đảm bảo giảm
thiểu rủi ro. Hiện nay, thanh tra ngân hàng được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động giám sát an toàn hệ
thống ngân hàng trong khi vẫn có chức năng thanh tra chuyên ngành như mọi cơ quan thanh tra trong các Bộ, cơ
quan ngang Bộ khác. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế việc thực thi có hiệu quả chính
sách giám sát ngân hàng.
- Mô hình tổ chức, giám sát của Việt Nam là phân tán nhưng rất chồng chéo, làm giảm hiệu quả công tác giám
ngân hàng cỡ nhỏ khó có thể chịu được chi phí cố định liên quan đến việc nâng cấp ngân hàng. Đây là một thách thức lớn
đối với hệ thống tài chính Việt Nam. Theo ước tính, các NHTM cỡ nhỏ phải tốn xấp xỉ 10 triệu đôla Mỹ, tương đương với
160 tỷ đồng Việt Nam, khoảng 15% vốn điều lệ của các NHTM CP. Trong khi đó, nếu là ngân hàng cỡ lớn thì chi phí vận
hành hệ thống Basel này có thể lên đến 200 triệu đôla Mỹ, tương đương với 3.200 tỷ đồng Việt Nam.
- Yêu cầu của Basel II về vốn khá cao
∗
Hiệp ước Basel II nhằm điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn ngân hàng hoạt động trên phạm vi nhiều quốc gia, vì
vậy yêu cầu an toàn vốn là một trong những mục tiêu đặt ra hàng đầu đối với những ngân hàng này. Vốn này nhằm
giảm thiểu đến mức tối đa khả năng xảy ra vỡ nợ đối với các ngân hàng. Mặc dù tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu trong
Basel II vẫn giữ mức 8% nhưng trên thực tế, các ngân hàng phải duy trì mức vốn cao hơn so với mức quy định ở
Basel I bởi các ngân hàng phải bổ sung thêm vốn để dự phòng các rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Điều này sẽ
cực kỳ bất lợi cho các ngân hàng Việt Nam vì rủi ro hoạt động cũng như rủi ro thị trường thấp hơn các ngân hàng
quốc tế lớn bởi phạm vi hoạt động của các ngân hàng tương đối hẹp.
4.2 Những nguyên nhân trong nội tại của hệ thống NHTM
- Chưa có văn bản hướng dẫn về việc thực hiện Basel II một cách cụ thể và chi tiết
- Nguồn nhân lực
∗
Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là vấn đề chung đối với tất cả các NHTM và kể cả đối với cơ quan
giám sát NHTM như NHNN. Thông qua tìm hiểu những chuẩn mực Basel II trong chương I, có thể thấy rằng để
nắm vững và vận dụng được các chuẩn mực này đòi hỏi các chuyên gia trong lĩnh vực quản trị, giám sát ngân hàng
và nhân viên phụ trách phải có một tầm hiểu biết nhất định, giỏi về ngoại ngữ lẫn kiến thức toán học và kiến thức
quản trị. Ngoài ra các kỹ năng phân tích, dự báo cũng là những kỹ năng không thể thiếu. Đây thực sự là những yêu
cầu cao đối với các chuyên gia ngân hàng Việt Nam tại thời điểm này.
- Hạn chế về năng lực giám sát
+Cuộc khủng hoảng tài chính toàn đã đặt ra vấn đề thực sự, đó là năng lực giám sát của nhiều quốc gia, trong đó có Việt
Nam
+Giám sát tài chính ở Việt Nam chưa hình thành một hệ thống mà đang được tiến hành riêng rẽ cho từng lĩnh vực. Ngay
cả việc giám sát riêng rẽ đó cũng nặng về giám sát tuân thủ hơn là giám sát rủi ro. Trong khi đó, nói đến hệ thống tài
chính là nói đến những rủi ro có tính hệ thống, là những rủi ro trong từng lĩnh vực và rủi ro chéo từ lĩnh vực này sang lĩnh
vực khác. Và nếu hiểu theo nghĩa đó có thể thấy, hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam còn vô cùng sơ khai. Đó là về
tranh của hệ thống, giảm thiểu những điểm yếu và bất lợi. Điều này sẽ giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể
phát triển bền vững và an toàn hơn.
∗
Việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng, đặc biệt tuân thủ các nguyên tắc cơ bản Basel có ý
nghĩa quan trọng trong việc xây dựng hệ thống ngân hàng tài chính vững mạnh, đáp ứng các điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế. Ngoài ra, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế còn giúp chúng ta xây dựng một hệ thống thanh tra giám sát
hiệu quả, hỗ trợ việc phát triển thị trường tài chính, phát triển hoạt động ngân hàng vững mạnh, nâng cao khả năng
cạnh tranh, gia tăng giá trị cho các TCTD, đồng thời mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
6. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra kiểm soát, giám sát ngân hàng
Theo hiệp ước Basel, NHNN là cơ quan giám sát ngân hàng đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định cho hoạt động của
toàn hệ thống ngân hàng. Vì vậy, NHNN được quyền chủ động rất lớn, bao gồm chủ động trong việc đưa ra quy định chi
tiết cho toàn hệ thống, cấp phép hoặc ngừng cấp phép cho mỗi ngân hàng khi muốn lựa chọn một phương pháp đánh giá
rủi ro, đồng thời có quyền ra phán quyết tối cao. Khi phát hiện những sai phạm so với nội dung cấp phép. Để đảm nhiệm
được trách nhiệm nặng nề này, trong thời gian tới cần nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra kiểm soát và giám sát ngân
hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Đầu tiên, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy thanh tra Ngân hàng theo ngành dọc từ trung ương xuống cơ sở và có sự
độc lập tương đối về điều hành và hoạt động nghiệp vụ trong tổ chức bộ máy của ngân hàng Nhà nước. Quy tắc giám sát
của bộ máy thanh tra dựa trên cơ sở ứng dụng những nguyên tắc cơ bản về giám sát hiệu quả họat động Ngân hàng của
ủy ban Basel đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc thận trọng trong công tác thanh tra.
- Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tham gia các hiệp ước, thoả thuận quốc tế về giám sát ngân hàng và an
toàn hệ thống tài chính. Tăng cường trao đổi thông tin với các cơ quan giám sát ngân hàng nước ngoài.
- Thứ ba, phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát đủ về số lượng và có trình độ nghiệp vụ cao, có phẩm chất chính trị
và đạo đức tốt, được trang bị đầy đủ kiến thức về pháp luật, quản lý và các công cụ thực thi nhiệm vụ;
- Thứ tư, xây dựng và triển khai khuôn khổ quy trình và phương pháp thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở tổng hợp và rủi
ro. Xây dựng hệ thống giám sát rủi ro trong hoạt động ngân hàng có khả năng cảnh báo sớm đối với các TCTD có vấn đề
và các rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
Cám ơn cô và các bạn đã lắng nghe!