TIỂU LUẬN:
Phép biện chứng duy vật là khoa
học về mối liên hệ phổ biến
Chương I: Hội nhập kinh tế một xu hướng tất yếu của nước ta trên con
đường tiến lên CNXH
1. Xu hướng hội nhập thế giới xu hướng của thời đại:
Như chúng ta đã biết, cách đây hàng nghìn năm đã có sự trao đổi hàng hoá
trong từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên, suốt thời gian dài
dưới thời kì chiếm hữu nô lệ và thời kì phong kiến quan hệ trao đổi hàng hoá
phát triển không đáng kể. Về mặt cơ bản, nền kinh tế của từng quốc gia vẫn
hội nhập thật tốt.
2. ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài này:
Như các nhà lãnh đạo của chúng ta đã khẳng định, Việt Nam luôn muốn hoà
nhập thật tốt vào hội nhập thế giới. Nhưng làm sao vừa hội nhập cho thật tốt lại
vừa đảm bảo được chủ quyền. Trên thực tế đã có rất nhiều bài học cay đắng của
các nước đi trước, do hội nhập không đúng đã dẫn tới mất chủ quyền phụ thuộc
vào bên ngoài. Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi và các bạn
hiểu rõ thêm về “Toàn Cầu Hoá” đồng thời biết được những bước đi của Việt
Nam trong quá trình hội nhập. Bản tiểu luận này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về
những thành tựu của nước ta đã thực hiện được và những bước đi sắp tới.
Chương II : Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến
1. Triết học Mac- LêNin:
Triết học Mac- LêNin cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mac- LêNin ra đời vào
những năm 40 của thế kỉ XIX do C.Mac và Ph.Ăngghen sáng lập ra. Sau đó,
V.I.LêNin phát triển nó cao hơn.
Triết học Mac- LeNin ra đời không phải chỉ do sự suy tư cá nhân, sự tưởng
tượng của C.Mac và Ph.Ăngghen mà do những nguyên nhân kinh tế, xã hội và sự
phát triển của nhân loại trước đó quy định. Triết học Mac- LêNin ra đời dựa trên
3 cơ sở cơ bản sau:
(a) Cơ sở về kinh tế và xã hội: Vào những năm đầu của thế kỉ XIX các
cuộc cách mạng công nghiệp đã đem lại cho các nước TBCN sự phát triển mạnh
mẽ. Để nhận xét về điều này C.Mac đã nói: “ Giai cấp tư sản trong quá trình
thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều
hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước cộng lại”. Sự phát
triển ấy đã chứng minh tính chất tiến bộ của phương thức sản xuất TBCN hơn
Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những
quá trình khác nhau. Vậy chúng ta đặt ra hai câu hỏi:
+ Giữa chúng liệu có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau
hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau?
+ Nếu chúng tồn tại trong sự liên hệ qua lại, thì nhân tố gì quy định sự
liên hệ đó?
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, các nhà triết học theo quan điểm biên
chứng cho rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất. Các sự vật, hiện tượng và
các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại,
thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau. Khi trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo
quan điểm biện chứng cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và
hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới. Theo quan điểm này các dự
vật, các hiện tượng đa dạng trên thế giới chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của
một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả tư tưởng của con người cũng
là một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, nội dung của chúng cũng chỉ
là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan. Ngoài ra, theo quan
điểm duy vật biên chứng còn thừa nhận tính đa dạng của sự liên hệ: có mối liên
hệ bên ngoài, mối liên hệ bên trong; có mối liên hệ thứ yếu và mối liên hệ chủ
yếu Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động vầ
phát triển của các sự vật hiện tượng. Trong đó, mối liên hệ bên trong giữ vai trò
quyết định đối với sự tồn tại, vân động, phảttiển của sự vật. Mối kiên hệ bên
ngoài, nói chung, không có ý nghĩa quyết định và thường phải thông qua mối liên
hệ bên trong mà phát huy tác dụng.Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự
liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ.
Các mối liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trong tính đa dạng của
hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy con
người, phép biện chứng duy vật tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung
định và mang dấu ấn của thời gian, không gian đó. Việc vận dụng quan điểm đó
đòi hỏi phải chú ý đúng mức tới hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã làm phải tính vấn đề,
tới sự ra đời và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực – cả khách quan và chủ
quan – quy định những giải pháp, những phượng tiện để giải quyết vấn đế nảy
sinh.
3. Vậy tại sao khi nghiên cứu vấn đề này chúng ta phải dùng mối liên
hệ phổ biến:
Toàn cầu hoá và việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh
là hai việc nhìn bề ngoài là hai việc tách biệt. Thế nhưng, chúng lại là hai vấn đề
liên quan mật thiết với nhau. Chính vì vậy, muốn hiểu được chúng liên quan với
nhau như thế nào thì chúng ta phải đi sâu vào nghiên cứu. Trong khi nghiên cứu
chúng ta không thể chỉ nhìn từ một phía mà cần có cái nhìn toàn diện. Như trong
mối liên hệ phổ biến đã khẳng định, chúng ta phải nhìn vào cái bản chất nhất của
sự vật. Mà giữa Toàn cầu hoá và việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ lại có
mối liên hệ bản chất, cái này thúc đẩy giúp cái kia trở nên vững mạnh hơn. Nếu
chúng ta không dùng mối liên hệ phổ biến để xem xét sẽ dễ dẫn đến chỉ nhìn thấy
sự liên quan bên ngoài một cách sơ xài.
Chương III: Toàn cầu hoá
1. Toàn cầu hoá kinh tế là gì? Những đặc điểm của toàn cầu hoá kinh
tế:
Con người là một loài sinh vật đặc biệt, chúng ta có trí thông minh và có
trình độ tổ chức xã hội cao. Con người sống với nhau dựa trên rất nhiều mối quan
hệ, trong đó quan hệ về kinh tế là chủ yếu. Có một số nhà nghiên cứu cho rằng “
toàn cầu hoá” đã có từ rất lâu và trước đây chính là quá trình quốc tế hoá. Vậy
trong tình hình hiện nay “Toàn cầu hoá” là những mối quan hệ kinh tế vượt qua
biên giới quốc gia, với quy mô toàn thế giới, đạt trình độ và chất lượng cao hơn
các quá trình quốc tế hoá trước kia. Toàn cầu hoá kinh tế có một số đặc điểm sau
khác với các quá trình quốc tế hoá trước kia: Hiện nay, nói đến vấn đề này trên thế giới đang có hai thái cực tranh cãi
nhau rất gay gắt:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng: toàn cầu hoá là một điều tất yếu phải xảy
ra. Mọi quốc gia không thể tránh khỏi, chính sách hợp lý nhất mà các quốc gia
phải theo là tham gia và làm theo các quy tắc của cuộc chơi. Tuy nhiên quan
điểm này lại biến con người thành kẻ bị lệ thuộc vào chính sản phẩm mà họ tạo
ra.
+ Quan điểm thứ hai cho rằng: toàn cầu hoá là một bước trong kế hoạch
làm bá chủ thế giới của Mỹ. Tuy nhiên, quan điểm này thì người ta lại quá đè cao
sức mạnh của Mỹ, mà trên thực tế không phải vậy.
Vậy đúng ra bản chất của toàn cầu hoá kinh tế là gì? Toàn cầu hoá kinh tế
là một xu hướng lớn của thời đại, nhưng dù nó khách quan đến mấy cũng do con
người tạo ra. Nó là kết quả của sự kết hợp giữa nhiều yếu tố, mà các yếu tố ấy
đều do con người tạo ra. Trong đó có 3 yếu tố chính:
- Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật.
- Nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Chính sách rất có tính toán của Mỹ và các nước cường quốc khác mà
không phải chỉ riêng Mỹ.
+ Một bản chất nữa của toàn cầu hoá là tính bất đối xứng của nó. Điều đó
được thể hiện như sau:
-Toàn cầu hoá phân phối thành quả rất bất công. Người giàu, nước
giàu ngày càng được nhiều lợi, nước nghèo, người nghèo bị thiệt. Dần dần một
mảng lớn dân cư trên thế giới bị loại khỏi quá trình toàn cầu hoá.
-Toàn cầu hoá hiện nay, không hài hoà, không đồng bộ, các lĩnh
vực so le, chênh lệch nhiều, cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Đặc biệt là: thứ nhất,
toàn cầu hoá kinh tế không đi đôi với sự quan tâm đúng mức về xã hội và con
người. Điều này khiến cho phần thua thiệt về xã hội và con người rất nặng nề.
Thứ hai, toàn cầu hoá không đi đôi với một cơ cấu và cơ chế quản lý toàn cầu
+ Thứ sáu, toàn cầu hoá mở ra khả năng phối hợp nguồn lực của các
quốc gia trên thế giới để giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu như: môi
trường,dân số, chiến tranh và hoà bình
(b) Những thách thức của toàn cầu hoá:
+ Thứ nhất, do tính bất đối xứng của toàn cầu hoá, nó phân chia thành
quả rất bất công. Chính vì thế, toàn cầu hoá không phân chia công bằng các cơ
hội và lợi ích giữa các khu vực, quốc gia và trong môi quốc gia và từng nhóm
dân cư. Trên thực tế, trong toàn cầu hoá thì các nước phát triển và những người
giàu có là được lợi nhiều nhất. Vì vậy, toàn cầu hoá làm tăng thêm tình trạng bất
công và gia tăng khoảng cách giàu nghèo.
+ Thứ hai, việc mở cửa hội nhập một mặt làm cho các nước chậm phát
triển tiếp xúc với các nền kỹ thuật tiên tiến hiện đại làm tăng năng xuất, thế
nhưng các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh gay gắt với dòng sản phẩm
công nghệ cao và các nguồn lực mạnh dễ dàng lấn át. Chính vì vậy, nó dẫn đến
tình trạng phá sản, thất nghiệp, làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội vốn đã rất
nan giải ở các nước chậm phát triển.
+ Thứ ba, toàn cầu hoá mở ra cho các nước cơ hội tranh thủ nguồn vốn
bên ngoài. Song chính điều ấy sẽ làm các nước phụ thuộc vào hệ thống phân
công lao động quốc tế. Nếu như không xác định được một đường lối phát triển
nội lực là chính thì các nước rất dễ bị phụ thuộc và mất quyền tự chủ.
+ Thứ tư, toàn cầu hoá cho phép vận dụng nguồn vốn bên ngoài nhằm
rút ngắn quá trình phát triển. Tuy nhiên trong đó cũng ẩn chứa nhiều nguy hiểm
không vững chắc.
+ Thứ năm, toàn cầu hoá còn đặt ra nhưng hậu quả phi kinh tế. Đó là
vấn đề lan toả các dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS. Ngoài ra, các luồng văn hoá
ngoại lai tác động không nhỏ tới thuần phong mỹ tục làm bại hoại đạo đức con
người. Chính vì vậy, xu hướng toàn cầu hoá đã nổi lên xu hướng dân tộc, bảo vệ
Theo như trên ta đã thấy một nền kinh tế độc lập tự chủ là như thế nào.
Vậy tại sao trong khi hội nhập kinh tế thế giới chúng ta phải xây dựng một nền
kinh tế độc lập như vậy? Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện “Toàn cầu hoá” nền
kinh tế, mở cửa hội nhập mà lại đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là
thiếu nhạy bén, không thức thời, thạm chí là bảo thủ, tư duy kiểu cũ. Thế giới
bây giờ là một thị trường thống nhất, cần thứ gì thì mua, thiếu tiền htì đi vay, sao
lại chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ? Nói như vậy khi nghe có vẻ
có lí, nhưng nếu đi sâu vào thực tế thì thấy hoàn toàn thiếu cơ sở, vì nó quá ư đơn
giản và phiến diện. Thực tiễn cho thấy nếu không có một nền kinh tế độc lập tự
chủ sẽ không những không thể có sự độc lập về chính trị, không thể bảo đảm
được lợi ích cơ bản của dân tộc cũng như chủ quyền quốc gia mà bản thân việc
mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế cũng không đạt được kết quả như mong muốn.
Sự cần thiết phải xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ cùng với việc đẩy
mạnh quá trình chủ động hội nhập kinh tế xuất phát từ một số luận điểm sau đây:
+ Tất cả các nước tham gia hội nhập kinh tế đều xuất phát từ mục tiêu bên
trong, phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ trong nước. Toàn cầu hoá, tự do hoá làm
cho các nền kinh tế phụ thuộc, đan xen vào nhau. Tuy nhiên sự ràng buộc về lợi
ích đó không có sự ràng buộc thuần tuý, vô điều kiện mà chính là vì phải chia sẻ
lợi ích một cách hợp lí, nhằm mục đích cuối cùng là thu được nhiều hơn lợi ích
cho đất nước mình, dân tộc mình, giữ được tính độc lập của nền kinh tế qua mối
quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, một sự ràng buộc đa phương về lợi ích.
Tất cả các nước tham gia vào quá trình tự do hoá thương mại đều trước hết vì lợi
ích của mình, tuyệt nhiên không vì lợi ích của nước khác. Thế nhưng, những lợi
ích ấy có được hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cơ bản nhất
là nội lực của nền kinh tế nước đó. Nước nào mạnh thì thu được nhiều lợi hơn.
Toàn cầu hóa, thương mại hoá, vừa tạo ra sự hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau, đồng
thời cũng tạo nên sự cạnh tranh rất khốc liệt và rất không cân sức giữa các nền
đang trở thành luật chơi trong sân chơi toàn cầu. Muốn tham gia vào sân chơi này
thì mỗi nước phải tự khẳng định mình, tìm cho mình một vị trí đứng. Muốn vậy
điều quan trong bậc nhất là tạo ra thật nhiều sản phẩm mà ai cũng thấy cần và
được chấp nhận. Như vậy, nước nào muốn thu được nhiều lợi nhuận thì phải nắm
công cụ quan trọng là khoa học công nghệ hiện đại. Để thực hiện việc chuyển
giao công nghệ, mỗi nước phải đạt tới một trình độ nhất định mới tiếp thu được
công nghệ hiện đại. Thế nhưng một vấn đề quan trọng hơn, là phải phá vỡ bức
rào cản do các công ty xuyên quốc gia đặt ra về tình trạng độc quyền các công
nghệ hiện đại. Trong nhiều trường hợp, dựa vào ưu thế công nghệ hiện đại, họ tự
cho mình quyền chi phối các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế, quyền đưa lợi ích
kinh tế đi kèm với các điều kiện chính trị, áp đặt tư tưởng. Thậm chí, một số
nước phát triển còn đưa ra quyền trừng phạt các nước dưới nhiều hình thức. Vì
vậy, để khắc phục đến mức thấp nhất tình trạng bị rơi vào thế lệ thuộc, tất cả các
nền kinh tế bằng mọi cách phải nâng cao nguồn nội lực của mình, nâng sức mạnh
kinh tế tring nước, chống sự can thiệp quá sâu từ bên ngoài.
Trong bối cảnh quốc tế phức tạp và đầy mâu thuẫn như đã phân tích, đối
với đất nước ta, việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ càng cần thiết hơn
bởi nó là điều kiện quyết định giữ vững được định hướng phát triển mà chúng ta
đã lựa chọn. Nói một cách khác, có xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự
chủ thì mới tạo được cơ sở kinh tế, cơ sở vật chất – kĩ thuật của chế độ chính trị
độc lập tự chủ. Độc lập tự chủ về kinh tế được đặt trong mối quan hệ biện chứng
với độc lập tự chủ về các mặt khác sẽ tạo ra sự độc lập tự chủ và sức mạnh tổng
hợp của một quốc gia. Tóm lại, chỉ có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ,
chúng ta mới có cơ sở và điều kiện để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
3. Làm như thế nào đẻ đảm bảo được một nền kinh tế độc lập vững
kiện ngày nay, khi sức mạnh kinh tế ngày càng dựa vào thế mạnh và khả năng
về khoa học, công nghệ.
- Phải luôn luôn giữ được sự ổn định kinh tế vĩ mô với hệ thống tài
chính, tiền tệ lành mạnh, bảo đảm giữ được cán cân thương mại và cán cân thanh
toán, có dự trự ngoại tệ cần thiết, có chiến lược vay và trả nợ hợp lý, không để bị
động và lệ thuộc.
- Phải có một số yếu tố vật chất đảm bảo an toàn và điều kiện cơ bản
cho phát triển. Trước hết là các yếu tố: an ninh lương thực, an toàn năng lượng,
an toàn môi trường, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội được xây dựng đồng bộ và
tương đối có chất lượng. Đồng thời có một số ngành và cơ sở công nghiệp nặng,
công nghiệp có tính chất nền tảng để tạo sức mạnh công nghiệp quốc gia, đặc
biệt là nếu phải đương đầu với các tình huống gay cấn, phức tạp(như bị bao vây
cấm vận, chiến tranh xâm lược )
- Muốn có thực lực kinh tế đủ mạnh thì phải nhất thiết phải đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của
toàn Đảng toàn dân ta trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Có công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì mới tạo ra cơ sở vật chất, kĩ thuật cho chủ nghĩa xã
hội, tạo ra thực lực của đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân.
Chương V: Việt Nam sau 10 năm đổi mới
1.Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập:
+) Năm 1993, chúng ta khai thông quan hệ với các tổ chức tài
chính, tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB. IMF, WB đã hỗ trợ chúng ta thông
qua chương trình tín dụng trung hạn: Chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAC) cuẩ
WB và chương trình điều chỉnh cơ cấu mở rộng (ESAF) của IMF. Nội dung đàm
phán với các tổ chức này gắn bó mật thiết với các điều kiện của tổ chức Thương
Mại Quốc Tế (WTO). Trong quan hệ với các tổ chức này, chúng ta chỉ chấp nhận
(a) Những thành tựu:
+ Chúng ta đã làm thất bại âm mưu bao vây, cấm vận, cô lập về
kinh tế của các nước đối địch. Chúng ta đã tạo được môi trường quốc tế và khu
vực thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ Tổ Quốc, nâng cao vị thế của nước ta
trên chính trường quốc tế.
+ Không những chúng ta khắc phục được tình trạng khủng hoảng
kinh tế do Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, mà còn mở rộng thêm
thị trường xuất nhập khẩu. Trong quá trình hội nhập, chúng ta không ngừng mở
rộng thị trường xuất nhập khẩu mà còn thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát
triển. Chúng ta đã thu được một số thành quả: nếu năm 1990 kim ngạch xuất
khẩu là 2,404 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 2,752 tỷ USD, thì tới năm 2001
kim ngạch xuất khẩu là 15,1 tỷ USD ( nếu tính cả dịch vụ thì là 17,6 tỷ USD ).
Như vậy, trung bình mỗi năm tăng 20%, có năm tăng 30%.
+ Nền kinh tế trong nước đạt mức tăng trưởng khá:
+) Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân hàng năm là
7,4%. Trong đó nông nghiệp tăng trương khá, giá trị sản phảm toàn nghành tăng
5,6%, thuỷ sản tăng 9,1%, nông nghiệp tăng 5,4%, lâm nghiệp tăng 2,1%. Việt
Nam từ một nước phải nhập khẩu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo
đứng thứ hai thế giới. Nghành dầu khí là một nghành tăng trưởng mạnh nhất,
sản lượng dầu thô của năm 2002 tăng gấp 6 lần năm 1990. Sản lượng điện tăng
gấp 3 lần. Giá trị công nghiệp xuất khẩu tăng hàng năm là 20%. Các nghành du
lịch tăng trưởng không ngưng, khách nước ngoài đến với nước ta tăng hàng năm
26%. Đặc biệt, trong năm 2002, số lượng khách đến với nước ta tăng đột biến.
Các nghành dịch vụ khác cũng có mức tăng trưởng khá.
+ Chúng ta đã ban hành luật “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” vào năm
1987. Từ đó, chúng ta đã thu hút được 42 tỷ USD tiền vốn với hơn 3000 dự án.
Trong số đó, chúng ta đã thực hiện được 21 tỷ USD. Vốn đầu tư nước ngoài
kém, chưa được đào tạo đến nơi đến chốn.
+ Đội ngũ làm kinh tế đối ngoại còn thiếu và yếu. Các cơ quan
chức năng còn chưa chuẩn bị cho các doanh nghiệp hội nhập kinh tế.
3. Những giải pháp cho Việt Nam:
(a) Hội nhập kinh tế là một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ
trên thế giới. Việt Nam là một thành viên trong một mái nhà không thể đứng
ngoài cuộc. Chính vì vậy, trong rất nhiều kỳ họp Đảng ta đã đưa ra mục tiêu và
một số quan điểm chỉ đạo sau:
+ Về mục đích của hội nhập kinh tế: Chủ động hội nhập kinh tế nhằm
mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ khoa học kỹ thuật, khoa học
quản lý nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh.
+ Một số ý kiến chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước:
(1) Quán triệt chủ chương đã được xác định ở đại hội Đảng lân
thứ IX: “Chủ động hội nhập kinh tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng
cao khả năng hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa; bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia; giữ vững bản sắc văn hoá dân
tộc, bảo vệ môi trường”.
(2) Hội nhập kinh tế là sự nghiệp của toàn dân; trong khi hội
nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của
toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
(3) Hội nhập kinh tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa có nhiều thách thức, vì vậy cần tỉnh táo, linh
hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, trường hợp
thời điểm cụ thể; vừa phải tránh tư tưởng thụ động trì trệ, vừa phải tránh tư tưởng
nôn nóng giản đơn.
+ Kết hợp hoạt động đối ngoại về chính trị và kinh tế chính trị.
+ Chủ chương hội nhập kinh tế với đảm bảo an ninh quốc phòng.
+ Tích cực đàm phán để tham gia vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới
WTO.
+ Kiện toàn Uỷ ban kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm quyền.
(b) Khai thông thị trường, chủ động hội nhập quốc tế: Sau gần 15
năm thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa theo tinh thần Đại Hội VI của Đảng,
nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, tạo thế và lực
lượng khá vững chắc cho đất nước bước vào thế kỉ XXI. Đến nay quy mô nền
kinh tế đã tăng gấp hai lần so với năm 1990. Chúng ta đã thiết lập quan hệ với
hơn 170 nước, tranh thủ được đầu tư trực tiếp của gần 100 nước với 2290 dự án,
vốn đăng kí trên 35,5 tỉ USD và vốn thực hiện đạt trên 15,1 tỉ USD. Đáng chú ý
là chúng ta đã khai thông được quan hệ với các tổ chức tài chính – tiền tệ lớn trên
thế giới như WB,IMF ; mở rộng thị trường xuất nhập khẩu sang EU, Bắc
Mỹ.Tuy nhiên, chúng ta cũng có không ít hạn chế như:
+ Sự ách tắc trong lưu thông hàng hoá, tổng cung lớn hơn tổng cầu,
nhiều hàng hoá bị ứ đọng dẫn đến sản xuất bị thu hẹp, người lao động thất
nghiệp. Nhiều doanh nghiệp còn trong tình trạng kinh doanh theo tứng thương
vụ, tìm kiếm lợi nhuận tức thời, chưa chú trọng cho kế hoạch lâu dài.
+ Tiềm năng của thị trường nước ta còn lớn nhưng chưa được khai
phá hết: thị trường chứng khoán đã được mở nhưng còn non trẻ, thị trường bất
động sản chưa được khai thông còn nhiều cản trở, thị trường lao động đang hình
thành, thị trường dịch vụ đang có dấu hiệu chững lại ; trên từng địa bàn, địa
phương còn bị chính quyền địa phương gây khó khăn; thị trường nông thôn, vùng
sâu vùng xa còn kém phát triển.
Chính vì vậy, một nhiệm vụ đặt ra trước mắt là phải khai thông được
thị trường trong nước để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ. Để giải quyết
này cần tiếp tục cơ chế điều hành tỉ giá linh hoạt, từng bước đưa đồng Việt Nam
tới giá trị thực nhằm khuyến khích xuất khẩu. Tăng cường các giao dịch kì hạn
trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, kiểm soát giao dịch trên thị trường tự do,
tiến tới chỉ dùng đồng Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam (trừ những khu vực cửa
khẩu, khu thương mại tự do )
6. Đối với thị trường chứng khoán: Vì mới được thành lập chưa lâu
tuy có một số điểm khả quan, nhưng do nhận thức về thị trường mới mẻ này còn
ít của người dân vì vậy sẽ cần sự can thiệp rất nhiều của nhà nước. Nhà nước nên
có một bộ luật hoàn chỉnh về thị trường chứng khoán, theo dõi sát xao và có
chính sách thúc đẩy thị trường này phát triển.
(c) Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước:
Như đã nói ở trên, hội nhập kinh tế không những đem lại cho
chúng ta những cơ hội mà còn đem đến cho chúng ta những thách thức hết sức to
lớn. Trong đó, việc phải cạnh tranh với các nước tiên tiến là rất khó khăn. Hơn
lúc nào hết, chúng ta phải tự nâng cao sức cạnh tranh của mình. Muốn nâng cao
sức cạnh tranh của nước ta thì không còn cách nào khác là nâng cao sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước. Trước hết, chúng ta phải khẩn trương
nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm, từng doanh nghiệp và của cả nền
kinh tế. Đây là yếu tố quyết định để chủ động hội nhập thắng lợi.Sức cạnh tranh
của sản phẩm phải được thể hiện ở chất lượng sản phẩm, giá cả, khẳ năng tiếp
thị. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp phải được thể hiện ở sản phẩm và dịch
vụ tiêu thụ trên thị trường trong nước và ngoài nước. Sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp còn được thể hiện ở sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả, có lợi
nhuận cần thiết để ngày càng phát triển sản xuất. Sức cạnh tranh của quốc gia
dựa vào sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp là cơ bản;
đồng thời còn phải tạo điều kiện, môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường xã hội,
chính trị ổn định, thuận lợi cho đầu tư và sản xuất kinh doanh của các chủ thể