TIỂU LUẬN: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT MÁC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CHO SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY potx - Pdf 11


TIỂU LUẬN:
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT
MÁC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CHO SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY

Trong bài viết này, học thuyết Mác về con người đã được tác giả luận giải trên cơ sở
làm rõ quan niệm của ông về “cơ sở hiện thực” cho sự tồn tại của con người với tư
cách thực thể sinh học – xã hội, về lao động với tư cách điều kiện quyết định của sự
hình thành con người, về sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã
hội trong con người, về mối liên hệ giữa cá nhân và xã hội và về sự giải phóng con
người, giải phóng xã hội. Trên cơ sở này, khi luận giải vấn đề xây dựng con người
Việt Nam theo học thuyết Mác, tác giả đã phân tích và làm rõ phương hướng chung
về phát triển con người mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trong công cuộc

thành con người. Trong lao động, con người thường xuyên biến đổi những điều kiện
tồn tại của mình, cải tạo chúng cho phù hợp với những nhu cầu thường xuyên phát
triển của mình, xây dựng nên thế giới văn hoá vật chất và tinh thần của mình. Nền
văn hoá do con người sáng tạo ra như thế nào thì nền văn hoá ấy lại tạo ra con người
như vậy. Hoạt động lao động phát triển làm biến đổi toàn bộ bản chất tự nhiên của tổ
tiên con người. Về mặt xã hội, lao động đưa đến sự hình thành những chất mới - chất
xã hội của con người, như ngôn ngữ, tư duy, giao tiếp, quan niệm, định hướng giá trị,
thế giới quan… Không chỉ thế, lao động còn đưa đến sự cải tạo bản năng con người
trên hai bình diện là bắt bản năng phục tùng sự kiểm soát của lý trí và cải tạo bản
năng thành trạng thái mới về chất của hoạt động nhận thức. Tất cả những điều ấy làm
xuất hiện một loài sinh vật mới - Homo sapiens (người khôn) mà ngay từ đầu, nó đã
thể hiện tính xã hội và lý trí. Nhấn mạnh tính phổ biến của yếu tố xã hội trong con
người, C.Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hoà những quan hệ xã hội” (Chúng tôi nhấn mạnh – H.Đ.C)(4). Bản chất con
người không phải là “cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt” như người ta
nghĩ, mà có tính lịch sử – cụ thể. Nghĩa là, nội dung của bản chất ấy, tuy về căn bản
là có tính xã hội, song tính xã hội ấy lại có sự biến đổi tuỳ theo nội dung cụ thể của
thời đại, của hoàn cảnh xã hội – văn hoá,… Tổng hợp những nét bản chất của con
người, có thể nói, con người là một thực thể có lý tính, là chủ thể của lao động, của
những quan hệ xã hội và giao tiếp.
Trên cơ sở quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác đã đưa ra một quan niệm hoàn chỉnh
về con người với tư cách thực thể sinh học – xã hội. Thông qua cấu trúc này, C.Mác
đã làm sáng tỏ mối quan hệ con người – tự nhiên – xã hội. C.Mác không phủ nhận
mặt sinh học khi xem xét con người với tư cách “những cá nhân sống”. Ông cho
rằng, “điều cụ thể đầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy”
và mọi khoa học “đều phải xuất phát từ những cơ sở tự nhiên ấy”(5). Mặt sinh học của con người thể hiện ra trong các hiện tượng hình thái – sinh lý học, di truyền
học, các quá trình thần kinh – não và một số quá trình khác của cơ thể con người.


qua tập thể ban đầu (tập thể gia đình, tập thể lớp học, tập thể lao động) để gia nhập
vào xã hội. Tập thể ban đầu là xã hội ở quy mô nhỏ của xã hội loài người – trình độ
tổ chức cao nhất của các hệ thống sống. Chính ở đây, cá nhân và xã hội trực tiếp tác
động lẫn nhau. Ở tập thể ban đầu này, cá nhân được hình thành về mặt tinh thần, thể
xác và hấp thụ được ở mức độ này hay mức độ khác cái đã được tạo ra bằng lao động
của những thế hệ trước. Những hình thức giao tiếp trong tập thể tạo thành những mối
liên hệ xã hội, làm hình thành diện mạo của mỗi con người. Thông qua tập thể ban
đầu, “sự hoàn trả” cái cá nhân cho xã hội và những thành tựu của xã hội cho cá nhân
đã diễn ra. Mỗi cá nhân mang trong mình dấu ấn của tập thể và mỗi tập thể cũng
mang trong mình dấu ấn của các thành viên. Tập thể không phải là cái gì phi nhân
cách, mà là sự liên hiệp những cá tính khác nhau, không lặp lại. Trong tập thể, cá
nhân không chìm đi, không tan ra, mà nổi lên và tự khẳng định mình. C.Mác đã chỉ
rõ vai trò của xã hội đối với sự hình thành cá nhân và vai trò của cá nhân đối với sự
hình thành xã hội: “Bản thân xã hội sản xuất ra con ngườivới tính cách là con
người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế”(6). Trình độ giải phóng xã
hội luôn được thể hiện ra ở sự tự do của cá nhân con người. Cá nhân được giải phóng
sẽ tạo ra động lực cho giải phóng xã hội và đến lượt mình, giải phóng xã hội lại trở
thành điều kiện thiết yếu cho sự giải phóng cá nhân. Con người tự giải phóng cho
mình và qua đó, giải phóng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Cùng với việc xem xét con người với tư cách một thực thể sinh học – xã hội, con
người với tư cách nhân cách, C.Mác còn làm sáng tỏ vị thế và vai trò của con người
trong lịch sử. Theo C.Mác, khuynh hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử
được quy định bởi lực lượng sản xuất xã hội; trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là thước đo năng lực thực tiễn của con người và xã hội. Sự vận động và phát
triển của lịch sử là sự vận động chuyển giao lực lượng sản xuất giữa các thế hệ con
người. Mỗi thế hệ con người luôn nhận được những lực lượng sản xuất do thế hệ
trước tạo ra và sử dụng chúng làm phương tiện cho hoạt động sản xuất mới. Nhờ sự
chuyển giao ấy mà con người “hình thành nên mối liên hệ trong lịch sử loài người,
hình thành lịch sử loài người”. Lực lượng sản xuất và cả quan hệ sản xuất càng phát

hiệu giải phóng con người, mà từng bước thực hiện việc giải phóng con người trên
thực tế, biến con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc tự do, tạo nên
một thể liên hiệp, “trong đó sự phát triển tự do của mỗi con người là điều kiện cho
sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (Chúng tôi nhấn mạnh – H.Đ.C)(9). Sự tự
do đem lại cho con người quyền được lao động, được phân phối công bằng của cải vật chất và tinh thần, được tham gia vào các công việc xã hội, được phát triển và vận
dụng các năng lực của mình với tư cách sự thực hiện những nhu cầu cơ bản, quyền
được nghỉ ngơi. Tự do cá nhân trong chủ nghĩa xã hội không chỉ biểu hiện trong các
quyền cá nhân được hưởng, mà còn được biểu hiện trong nghĩa vụ, trong trách nhiệm
cá nhân. Rõ ràng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là giải pháp tối ưu cho các vấn đề xã
hội liên quan tới sự phát triển xã hội và con người.
Quan điểm của C.Mác về con người, về giải phóng con người có giá trị to lớn về lý
luận và thực tiễn, trở thành cơ sở lý luận cho nhiều ngành khoa học, cho Đảng ta
trong việc giải quyết các vấn đề văn hoá, xã hội và con người.
Kế thừa tư tưởng về con người của học thuyết Mác, trong suốt chặng đường cách
mạng Việt Nam, Đảng ta luôn lấy việc chăm lo cho hạnh phúc của con người làm
mục tiêu phấn đấu cao nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh “Vì lợi ích mười năm trồng cây,
vì lợi ích trăm năm trồng người” đã trở thành tư tưởng quán xuyến toàn bộ sự nghiệp
hoạt động cách mạng của Đảng. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta
đều quán triệt, đều hướng tới mục tiêu giải phóng con người, phát triển toàn diện con
người Việt Nam.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội của Đảng được thông qua tại Đại hội VII (năm 1991) đã khẳng
định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân
làm chủ đất nước, có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát
triển cá nhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo”(10). Trong hơn 20 năm
đổi mới, vấn đề xây dựng con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được

cách nhân cách), xứng đáng là thế hệ kế tục sự nghiệp của cha anh.
- Để xây dựng con người Việt Nam theo phương hướng mà Đại hội X Đảng Cộng
sản Việt Nam đưa ra, chúng ta cần tập trung giải quyết các vấn đề đang được đặt ra
sau đây:
+ Vấn đề thiết yếu, bức xúc của xã hội ta hiện nay là phải tạo việc làm cho người lao
động, nâng cao mức sống, đảm bảo an ninh an toàn công dântrong một môi trường
ổn định, lành mạnh với các chuẩn mực về kỷ luật, trật tự, kỷ cương, luật pháp. Theo
tư tưởng của C.Mác, đây là tiền đề cho sự tồn tại hiện thực của con người. Trong
suốt chặng đường của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn chăm lo
cho dân có ăn, có mặc, có học hành, được chăm sóc sức khoẻ, được tự do, được
hưởng các quyền của dân một nước tự do, độc lập. Sau hơn 20 năm đổi mới, đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước, song số người thất nghiệp, mù chữ, sự
chênh lệch giàu nghèo, tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em, căn bệnh AIDS, tệ nạn
mại dâm, ma tuý… phát triển đã và đang làm cho xã hội không bình yên. Đảng phải
có biện pháp đồng bộ, đủ mạnh mới tạo được tiền đề để xây dựng con người Việt
Nam.
+ Nhu cầu phổ biến của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ và giới trí thức Việt Nam hiện
nay, là thực hiện công bằng xã hội trong sự phát triển của con người và xã hội, thực
hiện và phát huy dân chủ, đặc biệt là dân chủ cơ sở để tạo môi trường xã hội tích cực
nhằm đào tạo, giáo dục con người. Gắn liền với thực hiện nhu cầu trên là cuộc đấu
tranh nhằm đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng đang gây tổn hại nghiêm trọng về thể
chất, tinh thần cho xã hội, làm suy yếu chế độ ta.
+ Khâu cơ bản nhất để thực hiện quan điểm của Đảng ta về giáo dục - đào tạo với tư
cách “quốc sách hàng đầu” là xúc tiến cải cách giáo dục trong nền giáo dục quốc
dân, từ giáo dục mầm non, phổ thông, đến đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề. Đồng thời với giải pháp này, đạo lý trong gia đình, nhà trường, xã hội mới lập
lại được.
+ Một vấn đề quan trọng, đặt cơ sở bền vững cho việc xây dựng các thế hệ con người

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.3, tr.569.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd., t.3, tr.11.
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd, t.3, tr. 29.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.169.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.27, tr.658.
(8) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.19, tr.333.
(9) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.4, tr.628.
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội.Nxb Sự thật, Hà Nội,1991, tr.8-9.

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam . Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứX. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.106.
LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC TRỞ THÀNH LỰC LƯ
ỢNG SẢN XUẤT TRỰC
TIẾP CỦA C.MÁC VÀ VẤN Đ
Ề PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
PHẠM THỊ NGỌC TRẦM (*)
Về luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của C.Mác, tác giả đã
đưa ra và luận giải những điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
và những biểu hiện của quá trình này. Vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
hiện nay đã được tác giả luận giải trên cơ sở làm rõ nội dung khái niệm, bản chất và
những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức; đồng thời, chỉ ra những điều kiện thiết
yếu cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.

chậm chạp. Trong điều kiện như vậy, khoa học chỉ có thể biểu thị như một lực lượng sản
xuất tiềm năng, chứ chưa thể trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ngày nay, khi sản xuất xã hội đã đạt đến trình độ phát triển cao, nhất là ở các nước
công nghiệp phát triển, chính sản xuất lại đặt ra những vấn đề mới, phức tạp, đòi hỏi
khoa học phải có phương thức giải quyết phù hợp, kịp thời nhằm thúc đẩy sản xuất
tiếp tục phát triển và qua đó, khoa học cũng phát triển theo. Như vậy, trong điều kiện
xã hội ngày nay, sản xuất đã tạo ra những cơ sở vật chất - kỹ thuật quan trọng, những
nhu cầu cấp thiết cho sự xuất hiện những tri thức khoa học mới, những ngành khoa
học mới. Đến lượt mình, những tri thức khoa học mới lại được nhanh chóng vật hóa
để trở thành công cụ sản xuất mới và trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất. Ở
đây, khoa học không phục vụ sản xuất một cách thụ động, mà tham gia một cách tích
cực, chủ động và trở thành một yếu tố không thể thiếu được của lực lượng sản xuất
nói riêng, của quá trình sản xuất xã hội nói chung. Do vậy, chỉ có đến lúc này, khoa
học mới có đầy đủ điều kiện để trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Điều kiện thứ hai thuộc về sự phát triển của bản thân khoa học: khoa học phải đạt
đến một trình độ phát triển cao đến mức đủ sức giải quyết những vấn đề cấp thiết do
thực tiễn xã hội, đặc biệt là những vấn đề do thực tiễn sản xuất trực tiếp đặt ra.
Trong nền khoa học hiện đại, không một vấn đề nào do sản xuất đặt ra mà tri thức
của một ngành khoa học, thậm chí là của vài ngành khoa học cụ thể, có thể tự thân
giải quyết được hoàn toàn. Bởi vậy, ngày nay, sự thống hợp khoa học, tổng hợp tri
thức khoa học là xu hướng phát triển tất yếu của khoa học và điều này cũng hoàn
toàn phù hợp với nhu cầu của thực tiễn sản xuất hiện đại. Trong thời đại ngày nay,
trong khoa học đang diễn ra quá trình tương tác mạnh mẽ giữa các khoa học, quá
trình liên kết khoa học theo hướng tổng hợp tri thức của các khoa học hiện đại nhằm
giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội đặt ra, như
vấn đề khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống, vấn đề phát triển bền vững, vấn đề hội nhập toàn cầu mà trước hết, là
hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là những vấn đề về con người (tăng cường sức


xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Điều kiện thứ tư để khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp đó chính là sự
thấm nhuần sâu sắc, dù dưới hình thức tự giác hay tự phát,nguyên lý triết học mácxít
về sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, mà nếu ứng dụng vào quá
trình sản xuất vật chất thì đó là sự thống nhất giữa hoạt động sản xuất vật chất và
hoạt động khoa học. Theo nguyên lý về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, thực
tiễn sản xuất xã hội vừa là nguồn gốc, động lực, mục tiêu của nhận thức khoa học,
vừa là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn sản xuất xã hội kiểm nghiệm tính đúng đắn
của tri thức khoa học. Do vậy, việc khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là
con đường ngắn nhất, đáng tin cậy nhất để xác định độ chính xác, tính khoa học, tính
chân lý của tri thức khoa học. Sự thống nhất giữa thực tiễn (hoạt động sản xuất xã
hội) và lý luận (tri thức khoa học) là đặc trưng cơ bản của xã hội hiện đại, được xây
dựng trên cơ sở của nền sản xuất hiện đại và nền khoa học tiên tiến.
Như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của khoa học ngày càng được tăng
cường, nhất là trong thời đại ngày nay, khi khoa học đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp. Tri thức khoa học vừa là sự biến đổi, là quyền lực, là sự giàu có, thịnh
vượng, vừa là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển, sự
thịnh suy của một công ty, một dân tộc, một đất nước, một khu vực trong cuộc cạnh
tranh khốc liệt về kinh tế của thế giới hiện đại.
2 - Các hình thức biểu hiện của quá trình khoa học trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp
Quá trình khoa học trở thành lực lượng sản xuất có nhiều biểu hiện khác nhau, song,
ở đây, chúng tôi chỉ có thể nêu lên một số biểu hiện chủ yếu.
Trước hết, tri thức khoa học được vật hóa thành các công cụ sản xuất ngày càng tinh
xảo hơn, càng hoàn thiện hơn và nhanh hơn. Đó là các loại máy móc, trang thiết bị
dùng trong công nghệ thông tin, như máy vi tính, máy siêu tính, mạng Internet; trong
công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ
nguyên tử, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano, v.v Các thế hệ người máy
(robot) ngày càng hoàn thiện, có thể đảm nhiệm không chỉ các chức năng về trí tuệ,

động, với thói quen và kinh nghiệm nghề nghiệp, với tri thức khoa học - kỹ thuật đã
được trang bị chính là lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất, to lớn nhất, là nguồn lực
của mọi nguồn lực, là động lực to lớn và quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của
xã hội.
Ngoài việc đào tạo ra nguồn nhân lực mới với đầy đủ những phẩm chất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất hiện đại, khoa học còn trực tiếp tham gia vào quá
trình tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm. Với chức năng
này, khoa học không chỉ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, mà còn là yếu tố
không thể thiếu trong quan hệ sản xuất. Ngày nay, việc tổ chức, quản lý, điều hành
sản xuất ở bất kỳ cấp độ nào: trong một dây chuyền sản xuất, trong một phân xưởng,
một xí nghiệp, một liên hợp các xí nghiệp, v.v. đều rất cần đến tri thức khoa học,
nhất là tri thức của khoa học quản lý. Cùng một thế hệ máy móc như nhau, cùng sản
xuất ra một loại sản phẩm như nhau, nếu biết tổ chức, quản lý, điều hành công việc
một cách hợp lý, sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Không chỉ thế, việc quản lý, điều hành trong sản xuất cũng như trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội đã có những biến đổi về chất so với trước đây, như
nhanh nhạy, chính xác, kịp thời nhờ có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Xã hội
ngày nay là xã hội đang được tin học hóa. Trong xã hội thông tin, kẻ giàu, kẻ mạnh,
kẻ chiến thắng không phải là kẻ trường vốn, kẻ giàu về vật chất cụ thể, mà chính là
kẻ biết nắm bắt một cách nhanh nhạy các thông tin, đặc biệt là các thông tin khoa
học - công nghệ và thông tin về thị trường. Bởi vì, nhờ nắm bắt được thông tin mà
thay đổi công nghệ để có thể kịp thời sản xuất ra những sản phẩm mới phù hợp với
nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, giúp cho việc lưu thông hàng hóa nhanh
hơn. Việc nắm bắt thông tin kịp thời, nhanh chóng, chính xác còn giúp cho người sản
xuất, kinh doanh mở rộng thị trường, dự báo và đón đầu nhu cầu, thị hiếu của người
tiêu dùng và xã hội, nhờ đó, có thể giành được chiến thắng trong cuộc cạnh tranh gay
gắt trên thương trường.
Việc khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong thời đại phát triển rực rỡ

Hai là, trong kinh tế tri thức, tri thức và những phát minh khoa học, công nghệ là yếu
tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, của các doanh nghiệp và các quốc
gia trên thương trường, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Bởi
vậy, trong kinh tế tri thức, ai chiếm hữu được nhiều tài sản trí tuệ hơn, người ấy sẽ chiến
thắng không chỉ trong cạnh tranh kinh tế, mà thậm chí cả chính trị. Các cường quốc trên
thế giới hiện nay đều là những cường quốc về khoa học và công nghệ.
Ba là, trong kinh tế tri thức, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và được ứng
dụng rộng rãi vào sản xuất và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội với hiệu quả cao. Một
trong những biểu hiện rõ nhất của sự phát triển trí tuệ con người (tri thức khoa học) là
ở sự phát triển của công nghệ thông tin. Thêm vào đó, công nghệ thông tin cũng là
phương tiện quan trọng nhất cho sự phát triển của trí tuệ con người. Công nghệ thông
tin đã, đang và sẽ mang lại những biến đổi kỳ diệu trong cả đời sống kinh tế lẫn đời sống xã hội. Thực tế cho thấy rằng, công nghệ thông tin đã trực tiếp và nhanh chóng
làm thay đổi cơ cấu sản xuất, tạo ra ngành nghề mới, sản phẩm hàng hóa mới, thúc
đẩy tiến bộ khoa học - công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cũng không nên
tuyệt đối hóa vai trò tích cực của công nghệ thông tin đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội, mà cần phải nhận thức được cả mặt trái của nó, nhất là đối với những vấn đề về
an ninh quốc phòng, an ninh kinh tế, đạo đức, lối sống, v.v Cần hiểu vai trò của công
nghệ thông tin chủ yếu với tư cách công cụ hữu hiệu làm giảm chi phí tài chính và
thời gian trong việc tìm kiếm thông tin mới; là công cụ kích thích và tạo điều kiện cho
các phát minh khoa học - công nghệ mới, từ đấy thúc đẩy việc tăng năng suất lao
động, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Bốn là, kinh tế tri thức vừa đòi hỏi và thúc đẩy, vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi
cho mọi thành viên trong xã hội đối với việc học tập, nâng cao trình độ hiểu biết và
tay nghề chuyên môn. Ngày nay, tất cả các nước, các quốc gia dân tộc đều nhận thức
được rằng, con người là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển, do vậy, “đầu tư
cho giáo dục và đào tạo chính là đầu tư cho phát triển”. Trong điều kiện của kinh tế tri
thức, muốn thực hiện mục tiêu đó, đòi hỏi phải có những con người có tri thức khoa

năng động, luôn có tinh thần trách nhiệm cao, tự tin, dũng cảm, vừa giàu lòng yêu
nước, nhân ái, bao dung, có đầy đủ trình độ và bản lĩnh để hội nhập vào nền kinh tế
toàn cầu.
Thứ hai, xây dựng một nền khoa học và công nghệ tiên tiến trên cơ sở đẩy mạnh phát
triển nghiên cứu khoa học và công nghệ, tạo động lực để phát triển khoa học và công
nghệ. “Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ”, “phấn
đấu đến 2010, năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên
tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng”(6).
Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định và cũng là điều kiện tiên quyết trong
phát triển nền kinh tế tri thức. Vậy, những điều kiện quan trọng đầu tiên để từng bước
phát triển kinh tế tri thức là gì?
Một là, phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhưng phảitập trung
chủ yếu vào những ngành khoa học và công nghệ có liên quan trực tiếp đến phát triển
kinh tế tri thức, như công nghệ thông tin, công nghệ chế tạo vật liệu mới, công nghệ
năng lượng mới và công nghệ sinh học – những ngành công nghệ trụ cột của công
nghệ cao, giữ vai trò chủ đạo trong kinh tế tri thức. Hai là, do năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ của ta hiện nay đang còn thấp,
vì vậy, để có thể phát triển kinh tế tri thức cần có sự kết hợp hợp lý giữa việc tiếp nhận
chuyển giao khoa học và công nghệ từ bên ngoài, cải biến cho phù hợp với thực tiễn
nước ta với nghiên cứu sáng tạo ở trong nước với trình độ có thể có nhằm góp phần
nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa trên thị trường trong nước
và thế giới, điều này càng quan trọng hơn khi chúng ta đã gia nhập WTO.
Ba là, đặc biệt chú ý đến các nghiên cứu triển khai và nghiên cứu ứng dụng khoa học
và công nghệ ở trong nước để có thể tự tạo ra những yếu tố khoa học và công nghệ ở
trình độ trung bình của thế giới, chỉ nên nhập những trang thiết bị, máy móc hiện đại,
tiên tiến, hết sức tránh nhập những công nghệ đã quá lạc hậu mà những nước khác đã
loại bỏ từ lâu.
Thứ ba, cần phải định hướng đầu tư và huy động nguồn lực tài chính vào phát triển

phải chuẩn bị những điều kiện cần thiết về con người, về khoa học và công nghệ, về
định hướng đầu tư và huy động nguồn lực tài chính vào phát triển khoa học và công
nghệ, về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.r

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.46, phần II. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội ,
2000, tr.372-373.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.179.
(3) Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác-Lênin. Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.290.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.87.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.95.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.98. GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA HỌC THUYẾT MÁC VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ -

XÃ HỘI NGUYỄN DUY QUÝ(*) Luận chứng cho giá trị bền vững của học thuyết Mác về hình thái kinh tế –xã hội,
trong bài viết này tác giả đã đưa ra và phân tích cơ sở khoa học đúng đắn trong
quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác, nội dung khái niệm hình thái kinh tế – xã
hội, ý nghĩa khoa học và cách mạng của học thuyết này, quan niệm của C.Mác về
sự phát triển của các hình thái kinh tế– xã hội với tư cách một quá trình lịch sử – tự
nhiên và khả năng có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

con người. Trong hiện thực, ba quá trình này của sản xuất không tách biệt nhau,
trong đó sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng, là cơ sở cho sự tồn tại, phát triển xã
hội và xét đến cùng, nó là cái quy định và quyết định toàn bộ đời sống xã hội.
Thứ hai, khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất.
C.Mác viết: "Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản
xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức
sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình,
loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay
đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư
bản công nghiệp"(1).
Như vậy, theo C.Mác, lực lượng sản xuất, xét đến cùng, là cái đóng vai trò quyết
định trong việc thay đổi phương thức sản xuất, dẫn đến thay đổi toàn bộ các
quan hệ xã hội.
Thứ ba, khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng
Trong quan niệm của C.Mác, quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng thể hiện ở chỗ, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, mặc
dù kiến trúc thượng tầng có khả năng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. C.Mác
viết: "Không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái
nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải
thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và
hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất Nếu ta không thể
nhận định về con người căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì
ta cũng không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của
thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống
vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những
quan hệ sản xuất xã hội"(2).
– xã hội, V.I.Lênin đã khẳng định: " Có thể đem những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy nhất là:hình thái xã hội. Chỉ có
sự khái quát đó mới cho phép chuyển từ việc mô tả (và từ việc đánh giá theo quan
điểm lý tưởng) những hiện tượng xã hội sang việc phân tích hiện tượng đó một cách
hết sức khoa học"(6).
Tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội còn là
ở chỗ, khi phân tích quy luật vận động của một hình thái nhất định, học thuyết này
chỉ ra những mâu thuẫn bên trong và khẳng định chính sự vận động của mâu
thuẫn này, cuối cùng, sẽ dẫn đến sự chuyển hóa từ một hình thái kinh tế - xã hội này
sang một hình thái kinh tế - xã hội khác. Do đó,một mặt, khẳng định tính tất yếu của
trật tự hiện thời (trật tự của chế độ tư bản chủ nghĩa), mặt khác, C.Mác cũng chứng
minh luôn cả tính tất yếu của một trật tự cao hơn mà hình thái kinh tế - xã hội tư
bản chủ nghĩa nhất thiết phải chuyển sang.
Trong những năm gần đây, những người muốn phủ định học thuyết Mác về hình
thái kinh tế - xã hội đã đưa ra một nhận định là cách tiếp cận hình thái đã lạc hậu so
với thời cuộc và họ muốn thay vào đó cách tiếp cận bằng các nền văn minh. Họ cho
rằng, dường như cách tiếp cận hình thái chỉ nhấn mạnh yếu tố quan hệ sản xuất và
vấn đề giai cấp, mà không thấy biểu hiện phổ biến hơn, khái quát hơn, là nền văn
minh.
Sự phê phán ấy có đúng không?
Có thể nói một cách khách quan rằng, phương pháp tiếp cận bằng các nền văn minh
(văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp) cũng
có những giá trị nhất định, nhưng cách tiếp cận này đã phạm sai lầm căn bản là chỉ
coi trình độ phát triển khoa học - công nghệ, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định
duy nhất, bỏ qua vai trò của quan hệ sản xuất, các mối quan hệ giai cấp và đấu tranh
giai cấp và do đó, không thấy được một cách đầy đủ, nhất quán các mặt phức tạp
của mỗi xã hội, từ các vấn đề của hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc, từ vấn đề
kinh tế đến vấn đề tinh thần, chính trị, tôn giáo, v.v Vì vậy, xét theo góc độ khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status