bài giảng thống kê kinh tế xã hội học - Pdf 11

1
Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THỐNG KÊ HỌC
I. Sơ lược sự ra đời và phát triển của Thống kê
Thống kê học là môn khoa học xã hội, ra đời và phát triển theo nhu cầu của
hoạt động thực tiễn xã hội. Trước khi trở thành môn khoa học, Thống kê có nguồn
gốc lịch sử phát triển khá lâu dài, với cả một quá trình tích luỹ kinh nghiệm và
được đúc rút dần thành lý luận khoa học.
Trong thời cổ đại, tại các quốc gia có sự phát triển như: Hy lạp, La Mã,
Trung Quốc,… người ta đã biết cách ghi chép số liệu. Tuy nhiên, công việc này
còn khá đơn giản, tiến hành trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa mang tính thống kê rõ
rệt.
Đến thời chiếm hữu nô lệ, các chủ nô thường tìm cách ghi chép, tính toán
để nắm được tài sản của mình như: số nô lệ, số súc vật,… Dưới chế độ phong
kiến, hầu hết các quốc gia Châu Âu, Chấu á đã tổ chức việc đăng ký, kê khai với
phạm vi rộng, nội dung phong phú, có tính chất thống kê rõ rệt. Ví dụ: Đăng ký
nhân khẩu, kê khai ruộng đất,… Thường các cuộc kê khai này phục vụ cho thu
thuế và bắt lính của nhà nước phong kiến; Thời kỳ này, thống kê tuy đã có nhiều
tiến bộ nhưng chưa được đúc rút thành lý luận.
Mãi đến cuối thế kỷ XVII, lực lượng sản xuất phát triển mạnh, phương thức
tư bản chủ nghĩa ra đời, kinh tế hàng hoá, phân công lao động phát triển, tính chất
xã hội hoá của sản xuất ngày càng cao, thị trường được mở rộng không chỉ trong
phạm vi một nước mà còn trên phạm vi thế giới, hoạt động kinh tế xã hội ngày
càng phức tạp, các giai cấp xã hội phân hoá nhanh và đấu tranh giai cấp càng gay
gắt. Để phục vụ cho mục đích kinh tế, chính trị, quân sự; nhà nước tư sản, các chủ
tư sản cần nhiều thông tin thường xuyên về thị trường, giá cả, sản xuất, nguyên
liệu, dân số,… Do đó công tác thống kê phát triển nhanh chóng. Sự cố gắng tìm
hiểu các hiện tượng và quá trình kinh tế, xã hội thông qua các biểu hiện về mặt số
lượng, đòi hỏi những người làm công tác khoa học, quản lý nhà nước đi vào
nghiên cứu lý luận và phương pháp thu thập tính toán số liệu thống kê. Thời kỳ
này, các tài liệu sách báo về thống kê được xuất bản và đưa vào giảng dạy ở các

- Các hiện tượng về sinh hoạt chính trị, xã hội.
Thống kê học nghiên cứu các hiện tượng xã hội, không nghiên cứu các hiện
tượng tự nhiên. Nhưng giữa các hiện tượng xã hội và hiện tượng tự nhiên có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, cho nên khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội thống kê
cũng phải nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên (thời tiết, khí hậu, địa
3
lý) và kỹ thuật (cải tiến công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới,…) đến các hiện tượng
và quá trình xã hội. Khác với các môn khoa học khác, thống kê học không trực
tiếp nghiên cứu bản chất và quy luật của các hiện tượng xã hội. Thống kê học
nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng xã
hội. Mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng xã hội là
những biểu hiện bằng số lượng về bản chất và tính quy luật của hiện tượng trong
thời gian và địa điểm cụ thể. Những biểu hiện số lượng đó được thể hiện bằng quy
mô, kết cấu, quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển,… của các hiện tượng. Mặt lượng đó
không phải là con số trìu tượng mà là những số liệu có ý nghĩa, gắn liền với nội
dung kinh tế - xã hội nhất định, giúp chúng ta nhận thức được cụ thể bản chất của
hiện tượng. Các con số thống kê phản ánh được mặt chất của hiện tượng vì chất
và lượng là hai mặt không thể tách rời nhau của sự vật và hiện tượng.
Khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội thống kê học coi tập hợp gồm nhiều
hiện tượng cá biệt là một tổng thể hoàn chỉnh để nghiên cứu và dùng phương pháp
quan sát số lớn để loại trừ những ảnh hưởng mang tính chất ngẫu nhiên, qua đó
nêu lên đầy đủ và nổi bật những đặc trưng của bản chất và tính quy luật của hiện
tượng nghiên cứu. Nhưng khi nghiên cứu các hiện tượng số lớn thống kê học
cũng không bỏ qua nghiên cứu các hiện tượng cá biệt nhằm
giúp cho nhận thức hiện tượng xã hội được toàn diện, phong phú và sâu sắc hơn.
Hiện tượng kinh tế - xã hội bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện cụ thể về
thời gian và không gian. Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, hiện tượng
kinh tế xã hội có đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng khác nhau. Do vậy, khi
sử dụng tài liệu thống kê vào phân tích tình hình kinh tế - xã hội, phải luôn xét tới
điều kiện về thời gian và không gian cụ thể của hiện tượng mà tài liệu phản ánh.

trong lĩnh vực xã hội như: số người mê tín dị đoan, số người ham thích chèo, số
người thích xem bóng đá,…
Ta thấy rằng, các đơn vị tổng thể chỉ giống nhau ở đặc điểm cơ bản là đặc
trưng của tổng thể, các đặc điểm còn lại có thể khác nhau nhiều hay ít. Khi đó, ta
có tổng thể đồng chất và tổng thể không đồng chất.
Tổng thể đồng chất là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau về các đặc
điểm chủ yếu có liên quan tới mục đích nghiên cứu. Ví dụ: Các Doanh nghiệp sản
5
xuất công nghiệp có thể xem là tổng thể đồng chất khi đem so sánh chúng với các
đơn vị sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải,… Còn tổng thể không đồng chất
là tổng thể bao gồm các đơn vị có nhiều đặc điểm chủ yếu khác nhau. Ví dụ: Khi đi
sâu nghiên cứu các loại hình trong tổng thể các Doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp thì chúng lại là những tổng thể không đồng chất (có Doanh nghiệp sản
xuất máy móc, Doanh nghiệp sản xuất sắt thép, ).
Ngoài ra, khi nghiên cứu tổng thể người ta còn có tổng thể chung và tổng
thể bộ phận. Vậy, nếu tổng thể chung bao gồm tất cả các đơn vị của tổng thể thì
tổng thể bộ phận chỉ bao gồm một phần của tổng thể chung. Chẳng hạn ta nói
toàn bộ sinh viên Việt Nam - đây là tổng thể chung. Còn khi nói toàn bộ sinh viên
trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh Thái Nguyên - đây là tổng thể bộ
phận nằm trong tổng thể chung (toàn thể sinh viên Việt Nam).
3.2. Tiêu thức thống kê
Khi nghiên cứu thống kê phải dựa vào đặc điểm của đơn vị tổng thể. Mỗi
đơn vị tổng thể đều có nhiều đặc điểm, trong đó có một đặc điểm cấu thành tổng
thể (tức là các đơn vị tổng thể đều có đặc điểm đó) và các đặc điểm khác. Ví dụ
tổng thể nhân khẩu nước ta đều có đặc điểm chung (cấu thành tổng thể) là người
Việt Nam, ngoài ra còn các đặc điểm khác như giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn
nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cư trú,… Và các
đặc điểm này được gọi là các tiêu thức thống kê.
Tiêu thức thống kê được chia thành hai loại sau:
3.2.1. Tiêu thức thuộc tính (Hay tiêu thức chất lượng)

trong phân tích kinh tế cũng như trong phân tích thống kê.
7
Chương II
QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ
I. Điều tra thống kê
1.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của điều tra thống kê
* Khái niệm: Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học và theo một
kế hoạch thống nhất để thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng
nghiên cứu trong điều kiện về thời gian, không gian cụ thể.
* ý nghĩa:
- Điều tra thống kê có nhiệm vụ thu thập các tài liệu ban đầu dùng làm căn cứ
cho việc tổng hợp và phân tích thống kê.
- Điều tra thống kê được tổ chức một cách khoa học, chặt chẽ sẽ cung cấp tài
liệu tin cậy về việc thực hiện các kế hoạch, các nguồn tài nguyên và khả năng
tiềm tàng của nền kinh tế.
- Tài liệu thống kê chính xác và được cung cấp có hệ thống sẽ là những căn cứ
thực tế vững chắc để xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, đồng thời
là cơ sở để đề ra các chính sách phát triển kinh tế – xã hội.
* Nhiệm vụ: là cung cấp tài liệu cần thiết cho các khâu tiếp theo của quá trình
nghiên cứu.
Do vậy, nó phải đảm bảo các yêu cầu sau :
- Tính trung thực nghĩa là người thu thập thông tin phải tuyệt đối trung thực
ghi chép những điều được nghe, được thấy, các câu hỏi đạt ra phải khách quan,
không gợi ý, không áp đặt. Đối với người cung cấp thông tin yêu cầu phải chính
xác, không được che dấu và khai man thông tin.
- Tính chính xác nghĩa là tài liệu điều tra phải phản ánh đúng trạng thái của các
đơn vị tổng thể. Vì vậy, phải ghi chép trung thực, có trình độ chuyên môn và có tinh
thần trách nhiệm.
- Tính kịp thời nghĩa là cung cấp tài liệu phải đúng lúc cần thiết để phát huy
hết tác dụng của tài liệu đó. Yêu cầu kịp thời được khẳng định bởi thời gian kết

Căn cứ vào phạm vi của đối tượng được điều tra thực tế, điều tra thống kê
được phân thành điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ.
a. Điều tra toàn bộ là thu thập tài liệu của toàn bộ tổng thể (hay tổng điều tra).
Ví dụ: tổng điều tra dân số, tổng điều tra đàn gia súc,… Điều tra toàn bộ cung cấp
tài liệu đầy đủ nhất cho nghiên cứu thống kê, giúp cho việc tính toán các chỉ tiêu
9
phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng được chính xác làm cơ sở đề ra
những quyết định trong quản lý. Tuy nhiên, chi phí cho điều tra toàn bộ rất lớn,
đòi hỏi phải tổ chức chỉ đạo khoa học chặt chẽ. Song, trong thực tế có những
trường hợp nhất thiết phải điều tra toàn bộ như tổng điều tra dân số mặc dù kinh
phí điều tra rất lớn.
b. Điều tra không toàn bộ là thu thập tài liệu của một số đơn vị chọn ra từ tổng
thể chung. Ví dụ: điều tra thu nhập và chi tiêu gia đình, điều tra dư luận xã hội,
điều tra giá cả hàng hoá trên thị trường,… Điều tra không toàn bộ được sử dụng
nhiều trong nghiên cứu thống kê vì có những ưu điểm: tiến hành gọn nhẹ, nhanh
chóng, đáp ứng yêu cầu quản lý, tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, do phạm vi điều tra
được thu hẹp nên có thể mở rộng nội dung điều tra để nghiên cứu hiện tượng toàn
diện và chi tiết hơn.
Tuỳ theo yêu cầu nghiên cứu người ta chia điều tra không toàn bộ ra thành 3 loại:
+ Điều tra chọn mẫu là điều tra trên một số đơn vị tổng thể chung theo phương
pháp khoa học. Kết quả điều tra mẫu được suy rộng cho tổng thể chung. Loại điều
tra này có thể thay thế cho điều tra toàn bộ, khi chưa có điều kiện điều tra toàn bộ.
Ví dụ: Điều tra năng suất lúa, điều tra mức sống dân cư,…
+ Điều tra trọng điểm là chỉ điều tra ở một bộ phận chủ yếu của tổng thể
chung. Kết quả điều tra mặc dù không suy rộng cho toàn tổng thể, nhưng vẫn giúp
ta nắm được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng thể. Ví dụ: điều tra các vùng chuyên canh một loại cây trồng cụ thể như trồng
chè ở Thái Nguyên, hay cà phê ở Đắk Lắk,…
+ Điều tra chuyên đề là chỉ điều tra một số rất ít, thậm chí chỉ một đơn vị tổng
thể, nhưng lại đi sâu nghiên cứu chi tiết mọi khía cạnh khác nhau của đơn vị đó.

điều tra. Muốn nâng cao chất lượng các thông tin thu được cần chú ý đến một số
điều kiện cơ bản:
- Người được hỏi phải có trình độ văn hoá cao, có ý thức trách nhiệm và tự giác.
- Phiếu điều tra phải ngắn gọn.
- Các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời.
- Phải thiết lập được một mạng lưới phân phát và thu hồi phiếu điều tra hợp lý,
hoạt động có kết quả, không để bị thất lạc phiếu.
Ưu điểm cơ bản của phương pháp là dễ tổ chức, tiết kiệm chi phí và điều tra viên.
Tuy nhiên, lại khó có thể kiểm tra, đánh giá được độ chính xác của các câu hỏi, tỷ lệ
thu hồi phiếu trong nhiều trường hợp là không cao, nội dung điều tra bị hạn chế.
Phương pháp này có thể sử dụng hiệu quả trong điều kiện trình độ dân trí cao.
1.4. Tổ chức phương án điều tra
11
Để tổ chức tốt một cuộc điều tra chuyên môn, đòi hỏi phải xây dựng được
phương án điều tra thật chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể và toàn diện. Đây chính là văn kiện
hướng dẫn thực hiện cuộc điều tra, trong đó xác định rõ những bước tiến hành,
những vấn đề cần phải giải quyết, cần được hiểu thống nhất trong suốt quá trình
thực hiện. Đối với các cuộc điều tra lớn, có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành,
như Tổng điều tra dân số, việc xây dựng phương án điều tra cần có sự phối hợp,
bàn bạc thống nhất giữa cơ quan thống kê và các ngành có liên quan và phải được
cấp trên có thẩm quyền phê duyệt. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phương
án điều tra thường được xây dựng dưới dạng "đề xuất kỹ thuật" và "đề xuất tài
chính" cho cuộc nghiên cứu. Đây chính là căn cứ đến cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt hoặc là căn cứ để cơ quan chủ quan tiến hành xét chọn thầu theo quy định
chung của nhà nước.
Phương án của mỗi cuộc điều tra có thể khác nhau, tuỳ thuộc điều kiện cụ thể
của nó. Nhưng nhìn chung, mỗi phương án điều tra thường gồm những nội dung
chủ yếu sau:
- Xác định mục đích điều tra.
- Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra.

1.4.2. Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra
Xác định đối tượng điều tra là xác định xem những đơn vị tổng thể nào thuộc
phạm vi điều tra, cần được thu thập thông tin. Như vậy, khi các đối tượng điều tra
được chỉ rõ, cũng có nghĩa là phạm vi nghiên cứu đã được xác định, gianh giới
giữa hiện tượng nghiên cứu với các tổng thể khác, hiện tượng khác cũng được
phân biệt rõ ràng, tránh được tình trạng trùng lặp hay bỏ sót khi tiến hành điều tra.
Muốn xác định chính xác đối tượng điều tra, một mặt phải dựa vào sự phân tích
lý luận, nêu lên những tiêu chuẩn cơ bản phân biệt hiện tượng nghiên cứu với các
hiện tượng liên quan, phân biệt đơn vị tổng thể này với các đơn vị tổng thể khác,
đồng thời cũng còn phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu. Trong cuộc tổng điều tra
dân số ngày 1/4/1999 ở nước ta, đối tượng điều tra được xác định là "nhân khẩu
thường trú". Điều này, vừa giúp thực hiện tốt các mục đích điều đã được nêu rõ
trong mục trên, vừa giúp cho quá trình điều tra không bị trùng hay bỏ sót bất kỳ
một nhân khẩu nào của nước ta. Tuy nhiên, trong phương án điều tra cũng cần phải
những quy định cụ thể về tiêu chuẩn xác định "nhân khẩu thường trú" để tránh
nhầm lẫn.
Đơn vị điều tra là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được điều tra thực tế. Đơn
vị điều tra chính là nơi phát sinh các tài liệu ban đầu, điều tra viên cần đến đó thể
thu thập trong mỗi cuộc điều tra. Như vậy, nếu việc xác định đối tượng điều tra là
trả lời câu hỏi "điều tra ở đâu?. Trong một số trường hợp, đơn vị điều tra và đối
tượng điều tra có thể trùng nhau. Ví dụ, trong cuộc điều tra nghiên cứu tình hình
13
phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước thành phố Thái Nguyên,
thì cả đối tượng và đơn vị điều tra đều là các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước
của thành phố. Nhưng cũng có nhiều trường hợp, chúng lại khác nhau. Ví dụ,
trong tổng điều tra dân số ở nước ta ngày 1/4/1999, đối tượng điều tra là "nhân
khẩu thường trú", còn đơn vị điều tra lại được xác định là các "hộ gia đình" và các
"hộ tập thể". Trong các cuộc điều tra chọn mẫu, đơn vị điều tra chỉ bao gồm
những đối tượng được chọn vào mẫu.
Cần phân biệt đơn vị điều tra và đơn vị tổng thể. Đơn vị tổng thể là các phần

chặt chẽ với nhau, để có thể kiểm tra tính chính xác của những thông tin thu được.
Để có thể thu được những thông tin một cách chính xác và đầy đủ, nội dung
của mỗi cuộc điều tra phải được diễn đạt thành những câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng,
dễ hiểu và mọi người đều hiểu theo một nghĩa thống nhất. Về mặt hình thức, các
câu hỏi này có thể được diễn đạt theo hai cách: Câu hỏi đóng là các câu hỏi đã có
sẵn các phương án trả lời (thang điểm) có thể người trả lời chỉ cần chọn 1 trong
những cách trả lời đã được đưa ra. Câu hỏi mở không có trước những phương án
trả lời, người được hỏi tự diễn đạt câu trả lời. Các cuộc điều tra thống kê ít sử
dụng loại câu hỏi thứ hai này. Trong cuộc Tổng điều tra dân số được tiến hành
vào 21/4/1999 ở nước ta, nội dung điều tra được thể hiện trong 18 câu hỏi. Những
nội dung chủ yếu của cuộc tổng điều tra này là: Họ tên, quan hệ với chủ hộ, giới
tính, dân tộc, tôn giáo, nơi thực tế thường trú, tình trạng đi học và trình độ học vấn
cao nhất đã đạt được, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng việc làm, lĩnh vực
làm việc,
Phiếu điều tra là tập hợp các câu hỏi của nội dung điều tra, được sắp xếp theo
một trật tự logic nhất định. Tuỳ theo yêu cầu, nội dung và đối tượng, mỗi cuộc
điều tra có thể phải xây dựng nhiều loại phiếu khác nhau. Trong tổng điều tra dân
số, người ta xây dựng hai loại phiếu: Phiếu hộ và phiếu cá nhân. Trong hai cuộc
điều tra mức sống dân cư Việt Nam (1997-1998 và 2002-2003) do Tổng cục
Thống kê thực hiện, ngoài việc thu thập những thông tin chủ yếu từ các hộ gia
đình, còn cần những thông tin về cộng đồng, về giá cả thị trường có ảnh hưởng
trực tiếp đến mức sống của người dân, nên người ta phải sử dụng đến 5 loại phiếu
khác nhau: Bảng câu hỏi hộ gia đình, bảng câu hỏi xã/thôn, bảng câu hỏi trường
học, bảng câu hỏi trạm y tế và bảng câu hỏi về giá.
Thông thường, trong các văn kiện của cuộc điều tra, người ta còn ban hành bản
giải thích cách ghi phiếu điều tra. Bản giải thích này thường đi kèm theo phiếu điều
tra và người trả lời nhận thức thống nhất các câu hỏi được đặt ra, cách thu thập và ghi
chép số liệu. Đối với những câu hỏi phức tạp, khó trả lời người ta còn đặt ra những ví
dụ cụ thể và những quy định về các trường hợp ngoại lệ
15

- Lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp.
- Định các bước tiến hành điều tra.
- Phân chia khu vực và địa bàn điều tra.
16
- Tổ chức các cuộc hội nghị chuẩn bị.
- Tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho
cán bộ điều tra và hoàn thiện phương án điều tra, phiếu điều tra.
- Xây dựng phương án tài chính và chuẩn bị các phương tiện vật chất khác.
- Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra.

1.5. Xây dựng bản câu hỏi và kỹ thuật đặt câu hỏi
1.6. Sai số trong điều tra và biện pháp khắc phục
- Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa trị số của đặc điểm điều tra
thu thập được so với trị số thực của hiện tượng nghiên cứu.
Có hai nguyên nhân tạo ra sai số:
+ Sai số do ghi chép: Do người điều tra quan sát sai, sử dụng công cụ đo lường
sai, do vô tình ghi chép sai, đối tượng trả lời sai do không hiểu nội dung câu hỏi
hoặc do người điều tra và đối tượng điều tra cố tình làm sai.
+ Sai số do tính chất đại biểu: Chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu do việc lựa
chọn số đơn vị mẫu để điều tra không đầy đủ tính chất đại biểu.
- Biện pháp khắc phục:
+ Để hạn chế sai số, cần tập huấn kỹ nội dung điều tra, tuyển chọn điều tra viên
theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ đo lường nếu cuộc điều tra
cần và thường xuyên kiểm tra khi cuộc điều tra được tiến hành.
+ Tài liệu thu thập cũng cần được kiểm tra về tính logíc, xem xét độ hợp lý của
tài liệu, phát hiện các bất thường để thẩm tra lại và kiểm tra về mặt tính toán
(cộng hàng và cột, đơn vị tính, biểu này và biểu trước). Làm tốt khâu này sẽ hạn
chế được nhiều sai sót và không mất nhiều thời gian điều tra.
II. Tổng hợp thống kê
2.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của tổng hợp thống kê

2.2.3. Phương pháp tổng hợp
Yêu cầu quan trọng nhất của tổng hợp là phải nêu lên được cơ cấu theo các mặt của
tổng thể nghiên cứu. Để đáp ứng yêu cầu này, người ta sử dụng phương pháp phân tổ
thống kê.
Phân tổ thống kê là phương pháp phân chia các đơn vị của tổng thể vào các tổ (và
tiểu tổ) khác nhau theo từng tiêu thức nghiên cứu. Trị số được tính toán ở mỗi tổ cho
ta một cơ cấu về lượng cụ thể của tổng thể. Việc phân chia các đơn vị tổng thể vào
các tổ không đơn giản mà phải tuân theo những căn cứ lý luận nhất định.
2.2.4. Tổ chức và kỹ thuật tổng hợp
a. Chuẩn bị tài liệu để tổng hợp
- Tập trung đầy đủ số lượng phiếu điều tra hoặc tài liệu khác để có thể đáp ứng
việc thực hiện nhiệm vụ tổng hợp.
- Phải đóng các câu hỏi mở, đối với những nội dung điều tra mở.
- Lượng hoá các biểu hiện của các tiêu thức thuộc tính.
b. Hình thức tổ chức tổng hợp
- Tổng hợp từng cấp là tổ chức tổng hợp tài liệu điều tra theo từng bước, từ cấp
dưới lên cấp trên theo kế hoạch đã vạch sẵn.
- Tổng hợp tập trung là toàn bộ tài liệu điều tra được tập trung về một nơi để
tiến hành tổng hợp từ đầu đến cuối.
19
Trong tổng hợp tập trung, thường người ta phải sử dụng những phương tiện
hiện đại để tính toán nhanh chóng và chính xác những chỉ tiêu phức tạp. Do đó,
tổng hợp tập trung giảm bớt được nhiều công việc thủ công vất vả.
2.3. Phân tổ thống kê
2.3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiện vụ của phân tổ thống kê
* Khái niệm: Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó
để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và tiểu
tổ) có tính chất khác nhau.
Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình số công nhân của một công ty, căn cứ vào
tiêu thức “giới tính” để chia tổng số nhân khẩu thành hai tổ: nam và nữ; còn căn

bản thân nó. Do đó trong quá trình phân tích phải nêu rõ hiện tượng nghiên cứu
bao gồm những loại hình nào. Muốn vậy, phải dựa vào việc phân tích lý luận để
phân biệt các bộ phận khác nhau về tính chất tồn tại ngay trong hiện tượng đó.
- Biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu. Vì nghiên cứu kết cấu là nghiên
cứu trình độ phổ biến của hiện tượng trong cả một tổng thể mà sự vận động của các
hiện tượng không bao giờ đạt được một sự đồng đều. Do vậy, ta phải nghiên cứu
tính chất của từng bộ phận để chỉ ra ưu điểm, nhược điểm trên cơ sở đó đề ra các
biện pháp khắc phục nó trong tương lai.
- Biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức. Vì hiện tượng kinh tế - xã hội phát
sinh và biến động không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời mà chúng có mối liên
hệ phụ thuộc lẫn nhau theo những quy luật nhất định. Do đó ta có thể nói, sự thay
đổi của tiêu thức này dẫn đến sự thay đổi của tiêu thức khác. Vì vậy, tìm hiểu tính
chất và mức độ liên hệ giữa các hiện tượng nói chung và giữa các tiêu thức nói
riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của phân tổ thống kê.
2.3.2. Các loại phân tổ thống kê
* Phân tổ phân loại:
Phân tổ phân loại giúp ta nghiên cứu một cách có phân biệt các loại hình kinh tế -
xã hội, nêu lên đặc trưng và mối quan hệ giữa chúng với nhau. Từ việc nghiên cứu
riêng biệt mỗi loại hình đó, tiến thêm một bước nghiên cứu các đặc trưng của toàn bộ
hiện tượng phức tạp, giải thích một cách sâu sắc bản chất và xu hướng phát triển của
hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có thể phân loại các đơn vị theo nhiều tiêu thức
khác nhau. Chẳng hạn, các Doanh nghiệp nước ta có thể phân loại theo thành
phần kinh tế, theo cấp quản lý, theo nhóm, theo ngành, theo quy mô…
* Phân tổ kết cấu:
21
Các bảng phân tổ kết cấu được sử dụng rất phổ biến, mục đích nêu lên bản
chất của hiện tượng trong điều kiện nhất định và để nghiên cứu xu hướng phát
triển của hiện tượng qua thời gian. Kết cấu của tổng thể phản ánh một trong các
đặc trưng cơ bản của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.

phụ thuộc mà ta gọi là tiêu thức kết quả một cách có hệ thống. Như vậy, các đơn vị
tổng thể trước hết được phân tổ theo một tiêu thức (thường là tiêu thức nguyên
nhân), sau đó trong mỗi tổ tiếp tục tính các trị số bình quân của tiêu thức còn lại
(thường là tiêu thức kết quả). Quan sát sự biến thiên của hai tiêu thức này có thể
giúp ta kết luận về tính chất của mối liên hệ giữa hai tiêu thức. Như trong nhiều
doanh nghiệp ta thường nhận thấy có mối liên hệ giữa năng suất lao động và giá
thành đơn vị sản phẩm càng có điều kiện giảm. Nếu ta phân tổ các doanh nghiệp
trong cùng một ngành theo năng suất lao động, sau đó từ mỗi tổ tính ra giá thành
bình quân đơn vị sản phẩm, thì các kết quả tính toán sẽ cho thấy rõ mối liên hệ giữa
năng suất lao động (là tiêu thức nguyên nhân) và giá thành đơn vị sản phẩm (là tiêu
thức kết quả).
Phân tổ liên hệ còn có thể được vận dụng để nghiên cứu mối liên hệ giữa nhiều
tiêu thức. Có thể nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lúa với lượng phân bón,
lượng nước tưới, mật độ cấy ; hoặc nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lao
động của công nhân với tuổi nghề, bậc thợ, trình độ trang bị kỹ thuật
Khi phân tổ liên hệ giữa nhiều tiêu thức (ví dụ 3 tiêu thức) trước hết tổng thể
được phân tổ theo một tiêu thức nguyên nhân, sau đó mỗi tổ lại được chia thành
các tiểu tổ theo tiêu thức nguyên nhân thứ hai, cuối cùng tính trị số tổng hoặc bình
quân của tiêu thức kết quả cho từng tổ và tiểu tổ đó. Sau đây là ví dụ về mối liên
hệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi nghề của công nhân trong
một doanh nghiệp, được trình bày dưới bảng phân tổ kết hợp như sau:
Bảng 2.3: Mối liên hệ giữa năng suất lao động với trình độ kỹ thuật và tuổi
nghề
Phân tổ công nhân
Số công
nhân
Sảng lượng
cả năm
NS lao động bình
quân năm (tấn)

15-20
20 trở lên
10
30
20
10
10
510
2.140
1.580
860
910
51
71
79
86
91
cả tổ - 80 6.000 75
Chung cho cả DN - 200 18.000 90
2.3.3. Tiêu thức phân tổ và chỉ tiêu giải thích
a. Tiêu thức phân tổ
Tiêu thức phân tổ là tiêu thức được chọn làm căn cứ để tiến hành phân tổ
thống kê. Lựa chọn tiêu thức phân tổ là vấn đề quan trọng đầu tiên phải đề ra và
giải quyết chính xác. Tuy các đơn vị tổng thể có rất nhiều tiêu thức khác nhau,
nhưng chúng ta không thể tuỳ tiện chọn bất kỳ tiêu thức nào làm căn cứ phân tổ.
Những yêu cầu sau đây về lựa chọn tiêu thức phân tổ.
- Phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc để chọn ra tiêu thức
bản chất nhất, phù hợp với mục đích nghiên cứu.
- Phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu để chọn
ra tiêu thức phân tổ thích hợp.

5.175.09
2
1.456.77
1
281
Công ty TNHH tư nhân 30.164 1.143.055 270.993 237
Công ty Hợp danh 18 655 10.409 15.892
C.ty cổ phần không có vốn nhà nước 3.872 206.266 43.656 212
C.ty cổ phần có vốn nhà nước 669 160.879 43.298 269
Khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài
2.641 860.259 292.932 341
Khu vực DN ngoài Nhà nước
64.526 2.049.891 485.104 237
Khu vực DN Nhà nước
4.845 2.264.942 678.735 300
(Nguồn: Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2002, 2003, 2004- Nhà xuất
bản Thống kê)
Mỗi chỉ tiêu giải thích có ý nghĩa quan trọng riêng giúp ta thấy rõ các đặc
trưng số lượng của từng tổ cũng như của toàn bộ tổng thể, làm căn cứ để so sánh
các tổ với nhau và để tính ra hàng loạt chỉ tiêu phân tích khác. Muốn xác định các
chỉ tiêu giải thích, chủ yếu phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của
phân tổ để chọn ra các chỉ tiêu có liên hệ tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau
nên chỉ tiêu giải thích chọn ra phải hợp lý mới thoả mãn được mục đích nghiên
cứu.Cũng cần chú ý tới mối quan hệ nhất định giữa tiêu thức phân tổ với các chỉ
tiêu giải thích. Chẳng hạn, khi phân tổ các xí nghiệp theo quy mô, thì các chỉ tiêu
giải thích như: Số lượng lao động, giá trị tài sản cố định, giá trị sản xuất là những
chỉ tiêu giúp ta hiểu rõ thêm về quy mô của xí nghiệp. Trái lại, nếu chọn các chỉ
tiêu giải thích như: mức độ hoàn thành kế hoạch, tiền lương bình quân…. thì các
chỉ tiêu này thường không trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi quy mô của xí nghiệp.
Mỗi chỉ tiêu giải thích có ý nghĩa quan trọng riêng giúp ta thấy rõ các đặc

lượng biến hình thành một tổ thì số tổ sẽ quá nhiều mà không nói rõ sự khác nhau
về chất giữa các tổ. Khi đó ta cần chú ý tới mối liên hệ giữa lượng và chất trong
phân tổ. Tức là phải xem xét sự thay đổi về lượng đến mức độ nào thì bản chất của
hiện tượng thay đổi và làm nảy sinh ra tổ khác. Như vậy, mỗi tổ sẽ bao gồm một
phạm vi lượng biến, có hai giới hạn rõ rệt: Giới hạn dưới là lượng biến nhỏ nhất để
làm cho tổ được hình thành còn giới hạn trên là lượng biến lớn nhất của tổ, nếu
vượt quá giới hạn này thì chất lượng thay đổi và chuyển sang tổ khác. Trị số chênh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status