ĐỀ TÀI HỆ THỐNG TIÊN TỆ QUỐC GIA GIỮA HAI CUỘC ĐẠI CHIẾN VÀ HỆ THỐNG BRETTON WOOD potx - Pdf 11

ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG TIÊN TỆ QUỐC GIA
GIỮA HAI CUỘC ĐẠI CHIẾN VÀ
HỆ THỐNG BRETTON WOOD
1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG
Hiệp ước Bretton Woods năm 1944 đã mở đường cho hệ thống tiền tệ có khả năng chuyển đổi và
tỷ giá cố định đầu tiên, đòi hỏi các nước thành viên phải duy trì giá trị đồng tiền của nước mình
dao động trong 1 biên độ hẹp so với đô la Mỹ và tương đương với 1 tỷ lệ nhất định của vàng là
35 đô la đổi được 1 ounce vàng. Nhưng đồng đô la Mỹ bắt đầu mất giá vào những năm 50 và 60
do dòng vốn của Mỹ được đổ vào các kế hoạch tái thiết thời hậu chiến ở châu Âu cũng như việc
gia tăng nguồn cung đô la trên toàn cầu khiến cho nước Mỹ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi
đồng đô la sang vàng theo nhu cầu tại mức tỷ giá cố định như vậy.
Kết hợp cùng với chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, sự phát triển của thị
trường đô la giao dịch tại châu Âu vào cuối thập niên 60 - nơi mà các ngân hàng quốc tế nắm giữ
đồng đô la bên ngoài phạm vi nước Mỹ - đã khiến cho Quỹ Dự trữ Vàng của Hoa Kỳ nhanh
chóng trở nên trống rống đồng thời khiến cho đồng đô la Mỹ trở nên mất giá so với vàng. Cùng
lúc đó, Hoa Kỳ tiếp tục in thêm tiền giấy mà không có sự bảo đảm của vàng. Hành động này cứ
diễn ra dai dẳng miễn là cả thế giới sẵn sàng chấp nhận những đồng đô la này mà chẳng cần thắc
mắc. Nhưng vào cuối thập niên 60, khi Pháp yêu cầu Mỹ thực hiện cam kết chi trả 1 ounce vàng
cho mỗi 35 đô la gửi vào Ngân khố Mỹ, cùng với sự gia tăng trong nguồn cung đô la, sự thiếu
hụt vàng bắt đầu xảy ra. Vào ngày 15 tháng Tám năm 1971, Tổng thống Nixon hạn chế việc tự
do chuyển đổi vàng, từ chối chi trả 280 triệu ounce vàng. Hình 1.1 cho thấy mối quan hệ nghịch
đảo giữa vàng với đôla kể từ sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods.
So sánh chỉ số giá vàng và chỉ số đô-la Mỹ từ tháng Giêng năm 1971 tới tháng Ba năm 2008HÌNH 1.1 Giá vàng thường dịch chuyển theo hướng nghịch đảo với đồng đô-la Mỹ vì chúng có
khả năng đứng vững trước rủi ro lạm phát, sự bất ổn về địa chính trị cũng như giá trị thời gian
(time value) của đồng tiền.
Việc giảm giá liên tục của đồng đô la vào đầu thập niên 70 rốt cuộc đã chấm dứt sự tồn tại của hệ
thống cố định tỷ giá Bretton Woods, kéo theo sự suy thoái dài hạn của đồng đô la. Điều này

Woods.
Hệ thống tiền tệ quốc tế mới được xây dựng chủ yếu trên cơ sở kế hoạch do đoàn đại biểu Mỹ
đưa ra (một kế hoạch khác do Anh đưa ra đã không được chấp thuận) theo đó hệ thống phải
đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản sau đây:
- Các tổ chức quốc tế - hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính tiền tệ đòi hỏi phải thành lập
một tổ chức quốc tế với những chức năng và quyền hạn nhất định.
- Chế độ tỷ giá hối đoái - tỷ giá hối đoái phải được xác định cố định về mặt ngắn hạn, nhưng có
thể được điều chỉnh khi xuất hiện tình trạng “mất cân đối cơ bản”.
- Dự trữ quốc tế - để giúp chế độ tỷ giá cố định điều chỉnh hoạt động một cách có hiệu quả, các
quốc gia cần tới một lượng dự trữ quốc tế lớn, vì vậy phải có sự gia tăng vàng và các nguồn dự
trữ bằng tiền.
- Khả năng chuyển đổi của đồng tiền – vì lợi ích kinh tế chung mà tất cả các quốc gia phải
tham gia vào mọi hệ thống thương mại đa phương tự do, trong đó các đồng tiền chuyển đổi tự
do được sử dụng.
1. Đặc điểm của hệ thống Bretton Woods
Thứ nhất là chế độ tỷ giá. Tỷ giá hối đoái cố định trong ngắn hạn, có thể điều chỉnh trong
những trường hợp cụ thể. Theo quy định của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), mỗi đồng tiền quốc gia
được ấn định một tỷ giá cố định với USD và được phép dao động trong biên độ ±1%. Giá USD
được cố định với vàng là 35USD/ounce. Việc cố định tỷ giá đôla với vàng đã tạo lòng tin cho
cả thế giới vì Mỹ vào thời điểm đó chiếm 70% dự trữ vàng của thế giới. Chính phủ Mỹ cam kết
đổi đôla ra vàng không hạn chế. Một cách gián tiếp, các quốc gia có thể hoàn toàn tin tưởng
khi neo giá đồng tiền nước mình với đồng đôla. Trong những trường hợp mất cân bằng nghiêm
trọng trong cán cân thanh toán, các quốc gia có thể tiến hành phá giá hay nâng giá đồng tiền
với biên độ nhỏ hơn 10% trước khi IMF phải can thiệp.
Thứ hai, là dự trự quốc tế. Muốn duy trì tỷ giá hối đoái cố định, các quốc gia phải có một
lượng dự trữ quốc tế đủ lớn bằng vàng và ngoại tệ. Theo quy định của IMF, tổ chức này sẽ
giám sát và hỗ trợ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực tiền tệ và thương mại. Để cho các quan hệ
thương mại ổn định, cần phải duy trì một hệ thống tỷ giá ổn định, hiệu quả. Nhằm trành cho
các quốc gia thành viên thực hiện phá giá hoặc nâng giá đồng tiền, IMF cung cấp cho các thành
viên một hạn mức tín dụng thường xuyên để tài trợ cho thâm hụt cán cân thanh toán. Hạn mức

trước những áp lực hay biến động trên thị trường ngoại hối.
Tỉ giá thả nổi đã thu hút sự tham gia của giới đầu cơ nhằm tranh thủ lợi thế về thay đổi tỉ giá,
theo đó dòng vốn thường dồn về những đồng tiền có lãi suất hấp dẫn. Mặt khác, sự phát triển
nhanh chóng của tín dụng, tiền lương và cung ứng tiền đã dẫn đến kỳ vọng về khả năng bùng nổ
lạm phát, trong khi khả năng của các NHTW trong việc thích ứng với cơ chế tỉ giá mới còn rất
hạn chế. Riêng USD đã nổi lên là đồng tiền mạnh, làm tăng tài sản dưới dạng USD ở nước ngoài,
lên xuống của giá USD tác động đến hầu hết những đồng tiền khác. Đây là những yếu tố cơ
bản dẫn đến khủng hoảng dầu mỏ vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, phần lớn nguồn thu
từ xuất khẩu dầu mỏ đã được chuyển sang vàng, giá vàng vì thế đã lên cao và đạt đỉnh điểm
khoảng 850 USD/ounce vào tháng 10/1980.
Sau sự kiện 11/9/2001, cung cầu hàng hóa trên thị trường thế giới vốn đã bất ổn lại càng trở
nên trầm trọng hơn, khiến cho nhiều người kỳ vọng vào sự tái hiện của khủng hoảng, giá vàng
thế giới biến động thất thường theo chiều hướng tăng, đạt kỷ lục 1.920,30 USD/ounce vào tháng
9/2011. Đáng chú ý, vàng đã và đang trở thành thước đo giá trị trong nhiều giao dịch thương
mại, được nhiều quốc gia coi là nguồn tài chính dự trữ quan trọng, trong khi nguồn tài nguyên
vàng thế giới ngày càng cạn kiệt, việc khai thác cũng ngày càng khó khăn hơn. Các nhà kinh
doanh thận trọng hơn, tập trung vào những nước có sự ổn định về chính trị, pháp luật và kinh
nghiệm quản lý, hạn chế đầu tư vào các nước đang phát triển do mức độ rủi ro khá cao mặc dù
khả năng sinh lời có thể cao hơn.

Năm 1967, ngân hàng tại Chicago đã từ chối cho một giáo sư đại học tên là Milton Friedman vay tiền
bằng đồng bảng anh vì ông này đã định xử dụng tiền vay làm giảm gía trị đồng bảng anh.
Friedman, người chận thức được là gía trị đồng bảng anh có gía rất cao so với đồng đô la, đã muốn bán
đồng tiền ra, sau đó khi đồng tiền giảm gía sẽ mua chúng vào trả laị cho ngân hàng.Bằng cách đó ông có
một khoản lợi nhuận rất nhanh. Sự từ chối cho vay của ngân hàng đã diền ra đúng theo hiệp ước Bretton
Woods có từ hai mươi năm trước đó nhằm điều chỉnh tiền tệ so với đồng đô la và đặt đồng đô la ở tỷ lệ
$35 tương đương một lượng vàng.
Hiệp ước Bretton Woods được đưa ra vào năm 1944 nhằm vào sự ổn định tiền tệ thế giới thông qua việc
ngăn cản đồng tiền được tự do trôi nổi giữa các quốc gia, và hạng chế việc đầu cơ trong thị trường tiền tệ
thế giới. Trước khi có hiệp ước này, chuẩn mực trao đổi vàng - được thịnh hành giữa năm 1876 và chiến

như đồng Euro. Thị trường châu Âu là nơi tài sản có thể được gửi bằng đồng ngoại tệ thay cho đồng nội
tệ. Thị trường đồng Euro/USD bắt đầu thành lập từ năm 1950 khi tổng thu nhập dầu mỏ của nước Nga tất
cả tính bằng dollar và được gửi ở các ngân hàng ngoài nước Mỹ vì sợ bị đóng băng bởi các nhà làm luật
nước Mỹ. Lúc đó một khối lượng dollar nằm ngoài tầm kiểm soát của các quan chức Mỹ. Chính quyền
nước Mỹ lúc này áp dụng các điều luật cấm gửi tiền dollar ra nước ngòai. Thị trường châu Âu lúc này có
sức thu hút một cách đặc biệt bởi họ có ít các quy định và lượng hàng hóa sản xuất ra nhiều hơn. Từ năm
1980 trở đi các công ty Mỹ bắt đầu vay tiền từ nước ngoài nhiều hơn, tìm kiếm các trung tâm tài chính ở
châu Âu có khả năng thanh toán tiền mặt cung cấp các khoản vay ngắn hạn và tài chính cho việc xuật
nhập khẩu.
London lúc này là một trong những trung tâm tài chính mạnh nhất. Vào năm 1980, nó trở thành một trung
tâm chính của đồng thị trường đồng Euro/USD. Khi các ngân hàng của nước Anh bắt đầu vay tiền bằng
đồng dollars thay cho đồng bảng Anh (Pound). Để duy trì vị trí hàng đầu trong thị trường tài chính toàn
cầu. Vị trí địa lý của London cũng rất thuận tiện (hoạt động xuyên suốt từ thị trường châu Á tới châu Mỹ)
chiếm ưu thế vượt trội trong thị trường Châu Âu.
Bối cảnh ra đời của chế độ tiền tệ Bretton-woods: Sự sụp đổ của chế độ tiền tệ Giê-nơ làm cho các quan
hệ tiền tệ-tài chính quốc tế trở nên rối ren đã dẫn đến sự hình thành các liên minh tiền tệ do một số nước
tư bản đầu sỏ cầm đầu. Đó là các khu vực tiền tệ như khu vực đồng Phơ-răng Pháp, khu vực đồng đô la
Mỹ, khu vực đồng Bảng Anh.
Khu vực đồng đô la do Mỹ cầm đầu tồn tại bên cạnh các “đối thủ không hơn kém” là khu vực đồng Bảng
Anh và khu vực đồng Phơ-răng Pháp. Nhưng sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Mỹ trở thành một cường
quốc mạnh nhất thế giới về ngoại thương, về tín dụng quốc tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới
(chiếm khoảng ¾ tổng dự trữ vàng của toàn bộ thế giới tư bản). Đây chính là những yếu tố tạo nên thế
mạnh cho đồng đô la Mỹ trên trường quốc tế, đưa đồng tiền này “lên ngôi” đồng tiền chủ chốt của thế
giới.
Tháng 7 năm 1944, lợi dụng địa vị kinh tế và tài chính của mình trên trường quốc tế, Hoa Kỳ đã đứng ra
triệu tập Hội nghị tiền tệ - tài chính quốc tế tại thành phố Bretton-woods với sự tham gia của 44 nước.
Hội nghị đã ký kết một Hiệp định quốc tế bao gồm những thoả thuận của các nước về việc thiết lập các
quan hệ tiền tệ - tài chính quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần II. Được gọi là chế độ tiền
tệ Bretton-woods.
- Nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ Bretton-woods:

những nước thành viên của chế độ tiền tệ này.
Lạm phát ở trong nước và quốc tế làm cho uy tín của USD trên trường quốc tế giảm dần. Nhưng vấn đề
quan trọng là ở chỗ, các nước “đồng minh” của Hoa Kỳ đã không chấp hành chế độ tỷ giá cố định, không
can thiệp vào thị trường tiền tệ để giữ giá USD như đã cam kết, mà thả nổi tỷ giá trên thị trường. Đô la
Mỹ càng bị mất giá, thì các nước càng tìm mọi cách chuyển nó ra vàng với số lượng ngày càng tăng. Để
đối phó với tình trạng này, ngày 15-8-1971 Mỹ đã phải tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng theo tỷ
giá chính thức. Sau đó, ngày 18-12-1973, USD lại một lần nữa bị phá giá với mức 10%.
Qua hai lần phá giá USD (17,89%) đã chứng tỏ rằng, những nội dung cơ bản của chế độ tiền tệ Bretton-
woods gần như bị phá vỡ hoàn toàn. USD lại trở về vị trí đồng tiền quốc gia. Nhưng do tiềm lực kinh tế
của Mỹ rất lớn, cho nên USD vẫn còn là một đồng tiền mạnh, đồng thời nó vẫn chiếm 1 tỷ trọng đáng kể
trong quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia của các nước.
nguyên nhân hệ thống bretton voods sụp đổ có ghi khá rõ ràng trong sách tài chính quốc tế của
thầy tiến,bạn có thể tham khảo nó. tuy nhiên mình có thể tóm lược lại có mấy 3 ý như sau:
1-vấn đề thanh khoản
khi khối lượng USD (được phát hành) cao hơn khối lượng vàng dự trữ của MỸ thì Mỹ đã không
còn đủ khả năng thanh toán tất cả USD bằng vàng theo tỷ lệ 35USD =1 ounce vàng. dẫn đến việc
Mỹ phải chọn 1 trong 2 chính sách đó là: phá giá đồng $ với vàng hoặc không đổi $ ra vàng nữa.
Tuy nhiên cả hai chính sách này đều dẫn đến việc hệ thống bretton woods sụp đổ do tỷ giá cố
định bị phá vỡ
2-giải thích theo quy luật "đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt"
theo chính phủ Mỹ quy định 35 $=1ounce vàng (lưu thông tiền tệ )
theo cung cầu thị trường thì 35$< 1 ounce vàng (thị trường hàng hóa)
nếu theo tỷ giá do Mỹ quy định thì vàng bị định giá thấp, còn $ thì đc định giá cao trong lưu
thông tiền tệ. tạo điều kiện để mọi người kinh doanh chênh lệch tỷ giá: mua vàng với giá 35$ ở
lưu thông tiền tệ và bán với giá cao hơn ở thị trường hàng hóa, lúc này ai cũng lời trừ mỗi chính
phủ Mỹ. điều này là cho lượng vàng dữ trữ của chính phủ Mỹ ngày càng cạn kiệt=> không thể
duy trì được tỷ giá cố định mà bretton woods theo đuổi=> bretton woods sup đổ
3- ngoài ra còn có 1 nguyên nhân nữa đó là:không có sự điều chỉnh
các nước thành viên trong hệ thống bretton woods đều không muốn hy sinh lợi ích của mình để
cùng phối hợp nhịp nhàng duy trì tỷ giá cố định của bws, các nước thặng dư thì không muốn

Việc giảm giá liên tục của đồng đô la vào đầu thập niên 70 rốt cuộc đã chấm dứt sự tồn tại của hệ
thống cố định tỷ giá Bretton Woods, kéo theo sự suy thoái dài hạn của đồng đô la. Điều này
khiến cho hai loại hàng hóa quan trọng nhất trên thế giới là kim loại và dầu mỏ trở nên có giá trị
nếu tính theo đồng đô la. Các nhà cung cấp dầu mỏ hưởng lợi từ sự giảm giá của đồng đô la
không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc mua vàng trên thị trường, đẩy giá nhiên liệu và kim
loại quý tăng cao hơn và xa hơn là kéo theo giá trị của đồng đô la xuống. Một chuổi các đợt giảm
giá vào năm 1972 đã đặt dấu chấm hết cho hệ thống Bretton Woods vào tháng Hai năm 1973.
Đồng đô la bắt đầu được tự do trao đổi và buôn bán.
Từ tháng Hai năm 1971 tới tháng Hai năm 1973, đồng đô la giảm 26% so với đồng yên, giảm
4% so với đồng bảng Anh, và giảm 17% so với đồng mác Đức. Từ năm 1971 cho tới năm 1980,
đồng đô la mất 30% giá trị xét về tỷ trọng thương mại so với các đồng tiền khác trong hệ thống
tiền tệ thế giới (gồm đồng mác Đức, đồng yên Nhật, đồng bảng Anh, đồng đô la Canada, đồng
franc Thụy Sỹ và đồng krone Thụy Điển).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status