La Mã cổ đại Đế chế La Mã cổ đại thời Trajan (98-117)
La Mã cổ đại hay Roma cổ đại là nền văn minh đã từng tồn tại ở châu Âu, Bắc
Phi, và Trung Đông từ năm 753 TCN do người La Mã kiểm soát và sụp đổ vào
năm 476. Trong nhiều thế kỉ, nó bao gồm toàn bộ Tây Âu và tất cả vùng lãnh thổ
bao quanh biển Địa Trung Hải và một số vùng đất bao quanh Biển Đen.
Mục lục
1 Lịch sử
o 1.1 Thời kì Quân chủ
o 1.2 Thời kì Cộng hoà
o 1.3 Thời kì Đế quốc
o 1.4 Sụp đổ
2 Xã hội
o 2.1 Chính phủ
o 2.2 Luật pháp
o 2.3 Kinh tế
o 2.4 Gia đình
o 2.5 Các tầng lớp
o 2.6 Cưới xin
o 2.7 Giáo dục
o 2.8 Sức khỏe
3 Kinh tế
o 3.1 Tài chính
o 3.2 Buôn bán
4 Văn hóa
5 Kĩ thuật
6 Nhân khẩu học
quan đến những bộ tộc Ý khác (thuộc dòng Ấn-Âu) như người Samnite và Sabine,
nhưng cũng có cả người Etrusca. Mối đe doạ cuối cùng cho đế chế La Mã đến khi
Tarentum, một thuộc địa lớn của Hy Lạp, nhận được sự giúp đỡ của vua xứ Ipiros
là Pyrros vào năm 282 TCN.
Trong nửa sau của thế kỉ thứ 3 TCN, Roma xung đột với Carthage trong 2 cuộc
Chiến tranh Punic, xâm chiếm Sicilia và Iberia. Sau khi đánh bại Vương quốc
Macedonia và Đế chế Seleucid vào thế kỉ thứ 2 TCN, người La Mã trở thành
những người chủ không thể chối cãi của vùng Địa Trung Hải.
Xung đột nội bộ giờ đây trở thành mối đe doạ lớn nhất đối với nền Cộng hoà. Hội
đồng Nguyên lão, khư khư giữ lấy quyền lực cho mình, liên tục phản đối những
cải cách đất đai quan trọng. Một hậu quả không lường trước được từ cải cách quân
sự của Gaius Marius là quân lính thường có lòng trung thành với người chỉ huy
của họ nhiều hơn đối với thành phố, và một vị tướng hùng mạnh như Marius, hay
đối thủ của ông Lucius Cornelius Sulla, có đủ khả năng uy hiếp buộc thành phố và
Hội đồng Nguyên lão phải nhượng bộ.
Vào giữa thế kỉ 1 TCN ba người, Julius Caesar, Gnaeus Pompeius Magnus
(Pompey) và Marcus Licinius Crassus, đã nắm quyền kiểm soát không chính thức
của chính phủ cộng hoà thông qua một hiệp ước bí mật được biết đến như là Chế
độ Tam hùng đầu tiên. Caesar có thể hoà hợp với những đối thủ Pompey và
Crassus, cả hai đều là những người cực giàu với quân đội riêng và sự nghiệp
thượng nghị sĩ, và hành động vì lợi ích của cả hai người khi bầu chọn quan chấp
chính tối cao, trước khi dùng cương vị thống đốc của mình như người cầm quyền
của Gaule để tự mình có được danh tiếng quân sự.
Sau cái chết của Crassus và sự sụp đổ của chế độ Tam hùng, một sự tách biệt giữa
Caesar và Hội đồng Nguyên lão đã dẫn tới nội chiến, với Pompey dẫn đầu lực
lượng của Hội đồng. Caesar chiến thắng và được phong làm nhà độc tài suốt đời
sau khi từ chối tước hiệu quốc vương. Tuy nhiên, ông ta chiếm lấy quá nhiều
quyền lực quá nhanh đối với một vài thượng nghị sĩ, và bị ám sát trong một âm
mưu được tổ chức bởi Brutus và Cassius vào ngày 15 tháng 3 năm 44 TCN.
Một chế độ Tam hùng thứ hai, bao gồm người thừa kế đã được chỉ định của
Roma. Thiên chúa giáo, ông nói, đã tạo ra niềm tin vào một thế giới khác và gợi ý
rằng có một cuộc sống tốt đẹp hơn sau cái chết. Điều này cổ vũ sự thờ ơ giữa
những công dân La Mã tin rằng họ sẽ có một cuộc sống tốt hơn sau khi họ chết, do
đó huỷ hoại ý muốn của họ về việc duy trì và hi sinh cho đế chế. Thêm nữa, sự nổi
lên của Thiên chúa giáo cũng tạo ra một sự xác định tư hữu quan trọng hơn nhà
nước, làm thu nhỏ hơn mong muốn đưa những nhu cầu của nhà nước lên trên của
bản thân. Giải thích này được nhìn nhận với thái độ hoài nghi bởi đế chế chỉ bị tan
rã ở phía Tây, trong khi ở phía Đông, Đế chế vẫn tiếp tục như là Đế chế Byzantine
ở Phương Đông. Tuy nhiên, mọi người điều đồng ý rằng sự suy tàn và sụp đổ của
Đế chế La Mã rất phức tạp không chỉ có một nguyên nhân.
Các nhà sử học ngày nay đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau cho sự sụp đổ của
đế chế phía tây: việc nhiễm độc chì các thùng rượu, bệnh dịch, sự mục nát chính
trị, văn hóa đô thị không còn sức sáng tạo, và việc dịch chuyển dịch vụ quân sự
cho người nước ngoài và người ở ven đế quốc.
Trong Đế quốc La Mã, từ "người dã man" chỉ bất cứ ai không phải là một công
dân La Mã, và được áp dụng chủ yếu cho những bộ tộc Bắc Âu ngoài tầm ảnh
hưởng của nền văn hoá Roma.
[ ] Xã hội Hệ thống dẫn nước đế chế La Mã
Cuộc sống của các cư dân La Mã cổ đại được xác định quanh các thành phố như
thành phố Roma. Thành phố có một số lượng khổng lồ các công trình xây dựng
như là Colosseum, quảng trường của hoàng đế Trajan và đền thờ các vị thần
(Pantheon). Trên thành phố Roma cổ có các vòi nước uống tươi mát được cung
cấp thường xuyên bởi những hệ thống dẫn nước dài hàng trăm dặm, các rạp hát,
khu thể thao lớn, tổ hợp các phòng tắm phức hợp với thư viện và khu mua sắm,
khu chợ lớn, cùng với các khu vực sản xuất hàng hóa. Trên lãnh thổ của La Mã,
các kiến trúc về nhà ở rất đa dạng, từ những căn nhà đơn giản cho đến các biệt thự
quý tộc. Bên trong thủ đô Roma của La Mã cổ đại, là nơi ở của hoàng đế nằm ở
[ ] Luật pháp
Bài chi tiết: Luật pháp La Mã
Nguồn gốc của điều cơ bản luật pháp và thực tiễn của La Mã có thể chỉ ra luật của
12 chương mục (từ 449 TCN) cho đến những luật lệ của Hoàng dế Justinian I
(khoảng 530). Luật pháp của La Mã như là các luật lệ của Justinian, bởi vì nó là cơ
sở lý luận và thực tiễn trong thời kỳ Đế chế Byzantine và trong lục địa Tây Âu, và
được tiếp tục ở các thời kỳ về sau, cho đến tận thời kỳ thế kỷ 18 của rất nhiều
quốc gia.
Luật pháp của La Mã gồm 3 phần chính:
Ius Civile, hay "công luật", áp dụng cho tất cả công dân La Mã và chức vị
Praetor Urbanus có trách nhiệm áp dụng luật này,
Ius Gentium, hay "luật quốc tế", áp dụng cho tất cả các người ngoại quốc
trong các trường hợp họ tiếp xúc với các công dân La Mã và chức vị
Praetor Peregrinus có trách nhiệm áp dụng luật này, và
Ius Naturale, hay "luật tự nhiên", bao gồm tất cả các luật trong tự nhiên và
được xem như áp dụng cho tất cả mọi người.
[ ] Kinh tế Đồng tiền bằng bạc của Roma
Đế chế La Mã cai trị một vùng lãnh thổ to lớn, cùng với một lượng khổng lồ về tài
nguyên thiên và con người. Vốn dĩ, nền kinh tế của La Mã chủ yếu dự trên nền
tảng là nông nghiệp và thương mại. Nông nghiệp phát triển kéo theo thương mại
phát triển đã làm thay đổi bán đảo Ý, vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công
Nguyên, những người tiểu điền chủ có thể sở hữu những điền trang nho và ôliu
rộng lớn. Những tiểu điền chủ không đủ khả năng gây bất ổn về giá cả bởi, Đế chế
La Mã đã sát nhập thêm Ai Cập, Sicilia và Tunisia trở thành các chư hầu cung cấp
sản vật. Hàng hóa xuất trở lại từ Roma là dầu ôliu và rượu vang.
Kỹ nghệ và chế tạo đồ dùng với mức hoạt động khá nhỏ, nhưng khá nhộn nhịp là
các công việc khai mỏ và khai thác đá xây dựng, tùy theo mức độ xây dựng vào
chính trị của đế chế.
Dưới thời La Mã việc sử dụng các đám cưới được xem trọng như một hình thức
củng cố hoặc tìm kiếm mối liên kết về đồng minh hơn là sự lãng mạn của tình yêu,
đặc biệt đối với gia cấp quyền thế. Người cha luôn có ý tìm chồng cho con gái của
mình khi cô con gái bước vào tuổi từ 12 đến 14 tuổi. Người chồng luôn được gặp
gỡ thường xuyên với cô dâu trước ngày cưới. Trong khi, những người con gái của
gia đình quyền thế có xu hướng lấy chồng sớm, thì con gái của tầng lớp dưới
thường kết hôn muộn hơn
[4]
.
[ ] Các tầng lớp
Những cư dân La Mã tự do được chia thành 2 tầng lớp: quí tộc và người bình dân.
Quí tộc là tầng lớp thống trị. Ban đầu, chỉ có họ mới có thể được bầu vào các chức
vị. Việc lấy nhau giữa các tầng lớp bị cấm và danh hiệu quí tộc chỉ có thể được
thừa kế chứ không được nhận. Dưới nền Cộng hoà La Mã, một loạt những đấu
tranh dẫn tới việc người bình dân được hưởng những quyền bình đẳng hoặc gần
như bình đẳng.
Cuối thời kì Cộng hoà, sự phân biệt giữa quí tộc và người bình dân bắt đầu mất đi
ý nghĩa của nó. Một tầng lớp cai trị mới, gọi là quý nhân, là những gia đình, quý
tộc hay người bình dân, đã sản ra một quan chấp chính tối cao. Trong thời kì Đế
quốc, sự phân chia giai cấp bị bỏ và bị hầu hết mọi người quên lãng.
Đầu thời kì Cộng hoà, những công dân còn bị chia thành các tầng lớp dựa vào vũ
khí mà họ có thể mua được cho nghĩa vụ quân sự. Tầng lớp giàu nhất là những
người cưỡi ngựa hoặc kị sĩ, những người có thể mua được một con ngựa chiến. Có
cả người cưỡi ngựa là quí tộc và người bình dân. Sau này nước Cộng hoà đã cố
định lượng tài sản được thay bằng quân trang như cơ sở của sự phân chia giai cấp.
Những tầng lớp trên có nhiều quyền lực và uy tín chính trị hơn những tầng lớp
dưới. Hệ thống này cũng mất đi ý nghĩa của nó sau sự bãi bỏ của nền Cộng hoà.
[ ] Cưới xin
Đối với tầng lớp thượng lưu La Mã, người cha thường bắt đầu tìm người chồng
nô lệ có huấn luyện y khoa tương đương với 50 nô lệ làm nông nghiệp. Vào các
thời kỳ sau, việc thuê sức lao động trở nên kinh tế hơn là sở hữu nô lệ.
[ ] Tài chính
Mặc dù việc đổi hàng lấy hàng là thông dụng (và thường được sử dụng trong việc
thu thuế) hệ thống tiền tệ đã phát triển ở mức độ cao, với tiền xu bằng đồng thau,
đồng thiếc và kim loại quý được lưu thông xuyên suốt đế chế và ra ngoài biên giới
(một vài đồng đã được phát hiện ở Ấn Độ).
[ ] Buôn bán
Ngựa thì quá đắt, và những súc vật thồ khác thì quá chậm cho buôn bán lớn trên
những con đường của người La Mã dùng để nối giữa những bốt quân sự hơn là
chợ và hiếm khi được thiết kế để dùng bánh xe. Do đó có rất ít vận chuyển hàng
hoá giữa các vùng của La Mã, cho đến sự nổi lên của nền buôn bán bằng đường
thuỷ của người La Mã vào thế kỉ thứ 2 TCN. Nền buôn bán nông nghiệp tự do đã
thay đổi cảnh quan của của Ý, và đến thế kỉ 1 TCN những điền trang nho và oliu
rộng lớn đã thế chỗ những nông dân tiểu canh, những người đã không thể địch
được với giá ngũ cốc nhập khẩu. Khối lượng buôn bán lớn đến nỗi chỉ một đụn
những đồ chứa bằng gốm chưa hoàn tất đã cao tới hơn 40 mét và có chu vi tới 1
kilômét.
[ ] Văn hóa
Bài chi tiết: Văn minh La Mã cổ đại
Roma đã sản sinh ra nhiều nhà văn và nhà viết kịch. Rất nhiều tác phẩm văn học
viết bởi các tác giả Roma trong thời kì đầu của nền Cộng hoà có tính chất chính trị
hoặc trào phúng. Đặc biệt những kết cấu tu từ của Cicero rất được ưa chuộng. Một
vài trong số những vở kịch được ưa thích nhất ở thời kì đầu của nền Cộng hoà là
những vở hài kịch, đặc biệt là những vở của Terence, một nô lệ La Mã đã được trả
tự do bị bắt trong cuộc chiến Punic thứ nhất.
[ ] Kĩ thuật
Thời kì này La Mã cũng đã có những đóng góp quan trọng về kĩ thuật cho sự phát
triển của nền văn minh thế giới:
1.CHế tạo thủy tinh(khoảng thế kỉ đầu trước công nguyên)
465 TCN
104.714
459 TCN
117.319
456 TCN
454 TCN 454 TCN
440-439 TCN
433 TCN 433 TCN
428 TCN 428 TCN
412 TCN 412 TCN
400 TCN
396 TCN
392 TCN
152.573 392 TCN 392 TCN
390 TCN 390 TCN
386 TCN
383 TCN 383 TCN
343-341 TCN340 TCN
165.000 340-338 TCN 326-304 TCN
252 TCN
297.797
250 TCN 250 TCN
247 TCN
241.712
241 TCN
260.000
234 TCN
270.713
216 TCN 216 TCN
211-210 TCN 211-210 TCN209 TCN
137.108
204 TCN
214.000 204 TCN
203 TCN
201 TCN
200 TCN 200-195 TCN194 TCN
328.316
154 TCN
324.000
153 TCN
147 TCN
322.000
142 TCN
322.442 142 TCN
138 TCN
136 TCN
317.933
131 TCN
318.823
125 TCN
394.736
123 TCN
115 TCN
394.336
104 TCN
87 TCN
86 TCN 463.000
75 TCN