Phân tích đoạn thơ Kiều báo ân,báo oán
I/VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH
Lần thứ hai rơi vào cảnh lầu xanh Kiều đã may mắn gặp Từ Hải. Từ Hải không
những đã giải thoát Kiều khỏi chốn lầu xanh mà còn đưa nàng từ vị trí thấp hèn, tủi
nhục lên hàng “mênh phụ phu nhân”. Từ đây, nàng bước lên địa vị như một “quan
toà” thi hành công lý cho chính mình “ơn đền oán trả” phân minh.
Đoạn thơ trích miêu tả cảnh Kiều đền ơn đáp nghĩa cho những người đã từng
cưu mang giúp đỡ nàng, đồng thời cũng muốn trừng trị thích đáng những kẻ đã từng
nhẫn tâm hại nàng. ( Từ câu 2325 đến 2378 )
Đoạn trích gồm 2 phần :
-12 câu đầu : Báo ân (đền ơn Thúc Sinh)
- các câu tiếp theo : Báo oán (Cuộc đối đáp giữa Kiều và Hoạn Thư)
II/Đọc và hiểu văn bản :
1/Kiều báo ân :
Được mời tới nơi Kiều xử án, trước những “gươm lớn giáo dài” Thúc Sinh vô
cùng kinh hãi :
“Cho gươm mời đến Thúc Lang
Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run”
Thần sắc chàng họ Thúc như chẳng còn chi : Mặt xanh “như chàm đổ”, người
thì cứ run lên bước đi không muốn nổi : “mìng dường dẽ run” là như thế. Hình ảnh ấy
đã mô tả đúng tính cách của chàng ta-một thư sinh nhu nhược- Trông thật tội nghiệp.
Nhìn thấy hình ảnh này Kiều đã không khỏi động lòng trắc ẩn. Lời lẽ của nàng
dành cho họ Thúc là những lời xuất phát từ một tấm lòng tri ân sâu sắc. Chính chàng
là người đã đưa nàng ra khỏi cảnh bùn nhơ. Cùng với chàng, Kiếu cũng đã có những
tháng ngày hạnh phúc trong một cuộc sống gia đình. Quả là “nghĩa nặng nghìn non”.
Nàng đã dùng nhiều từ Hán Việt : “nghĩa, chữ tòng, cố nhân, tạ lòng…" lại dùng cả
điển tích “Sâm Thương” thật trang trọng để diễn tả lòng biết ơn của mình.
hiểm giết người không dao”.
Điều này cho thấy Kiều quyết tâm trả thù, trừng trị Hoạn Thư một cách xứng
đáng như nàng đã báo trước với Thúc Sinh :
“Kiến trong miệng chén bò lâu
Mưu sâu thì hoạ cũng sâu mới vừa”
3/Xử trí của Hoạn Thư:
Trước thái độ “vồn vã và lễ phép” của Kiều, Hoạn Thư quả thật đã vô cùng
kinh sợ. Nhưng vốn là kẻ khôn ngoan, giảo hoạt, Hoạn Thư đã kịp thời trấn tỉnh để
liệu kế thoát tội:
“Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Cúi đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ khi ra các viết kinh,
Với khi dứt cửa niệm tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chìu cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể ơn bài nào chăng ?”
Để “kêu ca” cho mình, trong tám câu ngắn gọn nhưng Hoạn Thư đã trình bày
bốn luận điểm :
Một : Tôi là đàn bà nên việc ghen tuông là chuyện thường tình.
Hai: Hãy nghĩ lại tôi đã tốt như thế nào khi cho cô ra các viết kinh thậm chí khi
cô bỏ trốn (ăn cắp đồ nhà tôi) tôi cũng chẳng cho người theo bắt lại (kể công).
Ba: Tôi với cô cùng cảnh chồng chung, nếu cô ở vị trí tôi thì chắc gì “ai đã
nhường cho ai”.
Bốn: Nhưng dẫu gì thì tôi cũng có lỗi với cô, bây giờ tôi chỉ mong vào lượng
khoan dung "trời bể"của cô tùy cô tha giết mặc lòng(vừa nhận tội, vừa tâng bốc).
4/ Kiều tha bổng Hoạn Thư :
Sôi sục lòng thù hận, quyết trả cái nhục “tôi đòi” nhưng trước những lời kêu ca