ĐỀ TÀI: CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA
PHƯƠNG ĐƯỢC THÀNH LẬP RA ĐỂ LÀM GÌ
Nhà nước không nên tập trung tất cả quyền lực của mình vào tay
Chính phủ trung ương . Bởi lẽ, nhà nước thực hiện quản lý xã hội trên
tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng an ninh…Có
rất nhiều vấn đề cần được quan tâm và đưa ra những giải pháp phù hợp
để thực hiện song không phải bất cứ vấn đề nào Chính phủ trung ương
cũng có đủ khả năng và điều kiện thực tiễn để giải quyết. Các nhà quản
lý trung ương không thể trực tiếp chỉ huy trọn vẹn các công việc nhà
nước trên phạm vi toàn lãnh thổ; vì thế không thỏa mãn được những nhu
cầu của nhân dân cũng như việc thực hiện tốt chức năng quản lý nhà
nước. Do đó, cần có đại diện của chính quyền trung ương trên địa bàn
lãnh thổ đó thay mặt cho nhà nước quản lý trong phạm vi địa phương
mình. Vì vậy sự cần thiết phải thành lập cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương là một tất yếu khách quan.
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Một số khái niệm cơ bản
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước
được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên
các lĩnh vực, trên các đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định theo quy định
của pháp luật.
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một bộ phận của bộ
máy nhà nước, có chức năng quản lý hành chính trong đơn vị lãnh thổ là
địa phương mình theo quy định pháp luật.
Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phái sinh từ khái
niệm hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương. Khái niệm này được
sử dụng khá phổ biến trong nhiều văn bản pháp luật của nhà nước. Là
một khái niệm được sử dụng nhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà
nước vào đời sống thực tế xã hội, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một
văn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệm chính quyền địa phương bao
gồm những thiết chế nào, mối quan hệ và cơ chế hoạt động cụ thể của
huyện).
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Chính quyền địa phương một đơn vị hành chính lãnh thổ có đủ ba yếu
tố:
- HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân
địa phương bầu ra.
- UBND do HĐND bầu ra và là cơ quan chấp hành của HĐND.
- Có ngân sách địa phương.
2. Cơ sở hình thành chính quyền địa phương
Việc quản lý ở địa phương đã từ xa xưa nhà nước nào cũng phải tiến
hành. Bởi một lẽ thông thường rằng, không một chính phủ của một là
nước nào chỉ thực hiện quyền lực nhà nước của mình ở một chỗ, nơi toạ
ngự của các cơ quan Nhà nước trung ương. Vì vậy bất cứ chế độ chính
trị nào cũng phải lo việc quản lý địa phương. Đây không phải là vấn đề
dễ giải quyết vì biên giới thích hợp cho một hoạt động này thì lại ít khi
đồng nhất, lại thích hợp cho một loại hoạt động khác. Một thị trấn lớn
được cung cấp nước từ chỗ này, nhưng lại được thoát nước lại từ ở
những chỗ kia. Hệ thống giao thông nối liền các vùng trong một thị xã
với nhau và với các vùng phụ cận theo một kế hoạch, hoàn toàn khác với
các vùng phục vụ cho việc giáo dục và đào tạo, cũng như các vùng
phòng và chống tội phạm.
Nếu mỗi chức năng của chính quyền xét về phương diện địa dư được
phóng chiếu trên một tấm bản đồ tương ứng với những những nhu cầu
riêng của chức năng đó, và đặt chúng chồng lên nhau, thì sẽ cho chúng
ta một kết quả, không một cái nào chồng khít lên một cái nào cả.
Vì vậy ta hiểu rằng địa phương là yếu tố cấu thành lên nhà nước , chính
quyền địa phương là đơn vị cấu thành lên nhà nước . Đồng thời để thực
hiện các hoạt động quản lý của mình nhà nước tiến hành phân chia thành
các địa phương để thực hiện hoặc là giúp để thực hiện tốt công tác quản
lý của nhà nước. Trong lịch sử tư tưởng – chính trị của thế giới và mỗi
Giai đoạn thứ nhất: Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm
1960. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình xây dựng chính quyền sau
khi nước ta giành độc lập. Trong giai đoạn này, đã có sự phân biệt tương
đối rạch ròi giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị; cấp
huyện là cấp trung gian, không có HĐND; vai trò của UBHC được đề
cao, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ.
Giai đoạn thứ hai: Từ 1960 đến 1980, là giai đoạn có khá nhiều nét đặc
biệt trong tổ chức và hoạt động của CQĐP để bảo đảm song song hai
nhiệm vụ: vừa xây dựng kinh tế, xây dựng nhà nước XHCN ở miền Bắc,
vừa thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Tổ chức và
hoạt động của chính quyền thể hiện rõ nguyên tắc tập quyền XHCN;
pháp luật đề cao vai trò của HĐND; cơ cấu tổ chức có xu hướng tăng
mạnh so với trước đây; không có sự phân biệt chính quyền đô thị và
nông thôn, nhưng ở các khu vực miền núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh
sống được thành lập các khu tự trị.
Giai đoạn thứ ba: Từ 1980 đến 1992, là giai đoạn tiến hành xây dựng
CNXH trong cả nước. Đặc trưng của giai đoạn này là việc tổ chức và
hoạt động của CQĐP theo mô hình của Liên xô (cũ); chỉ các cơ quan do
nhân dân trực tiếp bầu ra mới được thừa nhận là cơ quan quyền lực nhà
nước; triệt để tuân thủ nguyên tắc tập quyền XHCN; tổ chức chính
quyền ở các cấp cơ bản giống nhau Do nhiều nguyên nhân khách quan
và chủ quan nên CQĐP giai đoạn này không được phát huy, dân chủ trở
nên hình thức. Tổ chức và hoạt động của CQĐP đều rập khuôn theo
chính Quyền trung ương.
Giai đoạn thứ tư: Từ 1992 đến nay. Với sự nhận thức mới bộ máy nhà
nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN nên các
cấp CQĐP đã chủ động, sáng tạo hơn, phát huy dân chủ nhiều hơn trong
tổ chức và hoạt động. HĐND các cấp có Thường trực, các ban chuyên
môn và bước đầu có sự khác biệt về thẩm quyền giữa các cấp chính
quyền ở địa phương. Tuy nhiên, việc phân cấp vẫn chưa được giải quyết
hóa y tế ,an ninh trật tự khu dân cư ,an toàn xã hội với mục đích nâng
cao chất lượng đời sống cư dân địa phương về mọi mặt.
Nhìn chung chức năng chính quyền địa phương ở các quốc gia trên thế
giới đều tập chung ở ba mảng chức năng lớn:y tế và an toàn xã hội chức
năng phúc lợi xã hội và chức năng bảo vệ. Tùy thuộc vào thể chế của
mỗi quốc gia mà quy định cho chính quyền địa phương cụ thể như sau:
- Chấp hành hiến pháp ,luật và các văn bản của cơ quan nhà nước
cấp trên
- Quyết định những chính sách và biện pháp nhằm xây dựng và phát
triển kinh tế xã hội ,an ninh quốc phòng ở địa phương trong phạm
vi thẩm quyền.
- Tổ chức thực hiện và quản lý những nhiệm vụ về xây dựng và phát
triển kinh tế xã hội ,y tế văn hóa giáo dục ở địa phương đảm bảo
ổn định và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân địa phương .
- Giữ gìn trật tự, ổn dịnh về an ninh,chính trị trật tự an toàn xã hội.
- Đảm bảo về an ninh và quốc phòng ở địa phương .
- Quản lý về địa giới về đơn vị hành chính lãnh thổ
- Quản lý và tổ chức thực hiện việc cung cấp các dịch vụ công cộng
phục vụ cho nhu cầu và quyền lợi hợp pháp của nhân dân địa
phương.
2. Việt nam
Chính quyền địa phương ở Việt Nam là một bộ phận hợp thành của
chính quyền nhà nước và mang tính thống nhất. Cơ cấu tổ chức của nó
gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa
phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên
cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật
(Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật
Bầu cử ) nhằm quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa
phương trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở sự kết hợp hài
đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm chấp hành hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân.
Hiện nay, tính đến ngày 15/6/2011 cả nước có 63 đơn vị hành chính
cấp tỉnh, 698 đơn vị hành chính cấp huyện và 11.112 đơn vị hành chính
cấp xã.
Như vậy, trước hết chính quyền địa phương của nước ta là một bộ
phận hợp thành, gắn bó hữu cơ của chính quyền Nhà nước thống nhất, là
hình thức pháp lý thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của
mình ở địa phương.
Hai là không phải mọi cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở
địa phương, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong
cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương.
Ba là, các cơ quan chính quyền địa phương về nguyên tắc phải do
nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, hoặc được thành lập trên cơ sở của
các cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương theo qui định của pháp
luật.
III. MỤC ĐÍCH THÀNH LẬP CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thành lập các cơ quan nhà nước
ở địa phương nhằm mục đích:
1. Để triển khai thực hiện các quyết định của các CQNN ở trung
ương.
Với tư cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất,
chính quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi
nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà
nước thống nhất trên lãnh thổ Việt Nam.
Thực tế là trung ương và cấp trên không thể nắm, không thể quản được
địa phương. Còn địa phương và cấp dưới cũng không có được quyền chủ
động, phát huy sự sáng tạo, năng động trong việc giải quyết kịp thời
bảo đảm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở tiền đề vật
chất cho việc thực hiện quyền công dân ở địa phương.
Quá trình phát triển công nghiệp hoá gắn với đô thị hoá hiện nay đòi
hỏi quản lý địa phương phải có sự thay đổi nhất định khi mà thị trấn, thị
xã, thành phố ngày càng giữ vai quan trọng về cơ sở hành chính lẫn tiềm
năng kinh tế, văn hoá- xã hội (nhất là các nước có nền kinh tế chuyển
đổi), còn nông thôn đang dần trở thành những tổ hợp về kinh tế công
nông nghiệp và dịch vụ.
Thực tế, theo Hiến pháp, pháp luật của nhà nước và dựa trên nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội đặc thù của mỗi quốc gia qua các thời kỳ mà
chính quyền địa phương ở các quốc gia có sự khác biệt. Tuy nhiên, tựu
chung lại dù có hình thành, phát triển theo mô hình nào, cơ cấu tổ chức
ra sao, hoạt động như thế nào thì chính quyền địa phương cũng vẫn phải
hoàn thành một cách tốt nhất chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình;
góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và quản lý đất
nước, phát triển các nguồn lực quốc gia tại địa phương đồng thời cải
thiện môi trường, đảm bảo công bằng và ổn định xã hội, hoàn thành
trách nhiệm mà nhà nước và nhân dân đã giao phó.
IV. ĐÁNH GIÁ
Như vậy việc thành lập cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
nhằm:
- Một mặt nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định
rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ
máy chính quyền nhà nước.
- mặt khác, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt
của chính quyền trung ương, tăng cường kỷ luật, kỷ cương để nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phục vụ tốt hơn nhu cầu
và lợi ích của nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội ở từng địa
phương phát triển, trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗi địa
nảy sinh, từ đó có được những chương trình, hoạt động quản lý nhà
nước có tính sáng tạo hơn đối với mỗi địa phương.
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt. Một mặt, với
tư cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất,
chính quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi
nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà
nước thống nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Mặt khác, chính quyền địa
phương lại là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (trực tiếp và gián
tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của
nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa
phương đối với cả nước.
C. KẾT LUẬN
Như vậy từ những đánh giá trên đây ta có thể thấy việc thành lập
chính quyền địa phương là điều tất yếu ngay từ thời kỳ phong kiến chính
quyền địa phương đã được thành lập để nhằm phục vụ cho chính quyền
triều đình.
Ngày nay chính quyền ĐP được lập ra để thay mặt nhà nước quản lý
địa phương trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội tại những địa phương
đó, kiểm soát hoạt động của địa phương, triển khai các kế hoạch, chính
sách của đảng và nhà nước, bảo đảm an ninh quốc phòng tại địa phương
đó trực tiếp nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân…