VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP - Pdf 11


399
VIÊM MÀNG NGOÀI TIM CẤP

Viêm màng ngoài tim là một tình trạng bệnh lý có nguồn
gốc do phản ứng viêm của màng ngoài tim với các triệu chứng
chính là đau ngực, tiếng cọ màng ngoài tim và các biến đổi điện
tâm đồ. Bệnh hay gặp ở nam giới hơn so với nữ giới.
Các thể bệnh và nguyên nhân gây bệnh của viêm màng
ngoài tim cấp rất đa dạng. Nguyên nhân hay gặp nhất là: viêm
màng ngoài tim cấp vô căn, do virus, do vi khuẩn (nhất là vi
khuẩn lao), tăng urê máu, sau nhồi máu cơ tim, ung thư và chấn
thương.
I. Viêm màng ngoài tim cấp không rõ căn nguyên
Có khá nhiều các trường hợp viêm màng ngoài tim cấp
không tìm thấy nguyên nhân gây bệnh, người ta cho rằng đại
đa số các trường hợp này có nguồn gốc do virus. Tuy nhiên
việc phân lập tìm ra chính xác virus gây bệnh hiện còn gặp
nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật.
A. Triệu chứng lâm sàng
1. Triệu chứng cơ năng:
a. Đau ngực do viêm màng ngoài tim thường đau ở
sau xương ức, đau buốt, có thể mức độ nặng dữ
dội nhưng cũng có thể âm ỉ kéo dài suốt ngày,
đau thường lan lên cổ và ra sau lưng. Kinh điển
đau thường tăng lên khi ho và khi hít vào sâu.
b. Thường kèm theo sốt và dấu hiệu đau mỏi cơ như
các trường hợp nhiễm virus thông thường.
c. Khó thở đôi khi có thể gặp nhưng thông thường
xuất hiện sau giai đoạn đau ngực khi viêm màng
ngoài tim cấp diễn biến thành tràn dịch màng

hướng với sóng T dương ở các chuyển đạo trước
tim.
b. Giai đoạn thứ hai xuất hiện vài ngày sau với đoạn
ST trở về đường đẳng điện, sóng T dẹt xuống.
c. Giai đoạn ba là giai đoạn sóng T âm đảo ngược.
d. Sau vài ngày đến vài tuần sóng T sẽ dương trở
lại, đây là giai đoạn cuối cùng của bệnh.
e. Nếu viêm màng ngoài tim cấp có tràn dịch màng
tim, ĐTĐ có thể có dấu hiệu điện thế giảm (nhất
là ở các chuyển đạo ngoại vi) và dấu hiệu luân
phiên điện học.

401

Hình 22-1. Tiến triển trên điện tim từ giai đoạn
VMNT cấp (trên) chuyển sang giai đoạn bán cấp (dưới).
2. Chụp tim phổi: hình tim to thường chỉ thấy trong
các trường hợp có tràn dịch màng ngoài tim phối hợp
và đây cũng không phải là dấu hiệu đặc hiệu giúp
chẩn đoán.
3. Cấy máu, cấy đờm và dịch hút dạ dày có khả năng
giúp chẩn đoán một số các trường hợp viêm màng
ngoài tim phức tạp như do lao (sau 1 tuần), nhiễm
khuẩn huyết hay viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
4. Xét nghiệm máu: thường có tăng bạch cầu, máu
lắng tăng và tăng men creatine phosphokinase MB.
5. Siêu âm tim:
a. Siêu âm tim thường được chỉ định trong các
trường hợp ở giai đoạn sau của bệnh (vài tuần sau
dấu hiệu lâm sàng đầu tiên xuất hiện) hay khi có

màng ngoài tim cấp không có biến chứng, bệnh sẽ tự
khỏi và đáp ứng tốt với điều trị nội khoa.
a. Thuốc điều trị chủ yếu là thuốc kháng viêm
không steroid.
b. Điều trị viêm màng ngoài tim có biến chứng tràn
dịch màng ngoài tim hay viêm màng ngoài tim co
thắt sẽ được bàn luận ở những bài sau.
2. Điều trị nội khoa:

403
a. Ibuprofen 600 đến 800mg uống chia 3 lần trong
ngày, trong 3 tuần hay Indomethacin 25 đến
50mg uống chia 3 lần trong ngày, trong 3 tuần.
b. Trong các trường hợp bệnh nhân không đáp ứng
với kháng viêm không steroid hay trong trường
hợp tái phát viêm màng ngoài tim có thể sử dụng
prednisone uống trong 3 tuần, cũng có thể dùng
đường tiêm tĩnh mạch với Methylprednisone
trong các trường hợp nặng. Colchicine 1mg trong
ngày cũng được một vài nghiên cứu chỉ ra tính
hiệu quả trong điều trị viêm màng ngoài tim cấp.
3. Điều trị chọc dẫn lưu dịch màng ngoài tim qua da
(tràn dịch màng tim có ép tim): Chỉ áp dụng trong
các trường hợp viêm màng ngoài tim có tràn dịch
nhiều, có ảnh hưởng đến huyết động hay trong
trường hợp cần chọc dò để chẩn đoán bệnh nguyên.
Chọc dẫn lưu với gây tê tại chỗ có thể đặt dẫn lưu
trong các trường hợp dịch nhiều, tái phát liên tục.
4. Phẫu thuật:
a. Mở dẫn lưu màng ngoài tim ở dưới xương ức

trường hợp lao phổi.
C. Các xét nghiệm chẩn đoán
1. Điện tâm đồ: Đoạn ST chênh lên kinh điển thường
không thấy trong viêm màng ngoài tim do lao.
2. Chụp tim phổi: thấy dấu hiệu của lao phổi mới hoặc
cũ trong một số các trường hợp và dấu hiệu bóng tim
to ra do có dịch ở màng ngoài tim.
3. Cấy tìm vi khuẩn lao BK (AFB): là xét nghiệm đặc
hiệu cho chẩn đoán. Dịch cấy có thể lấy từ các dịch
tiết của cơ thể (đờm, dịch dạ dày, dịch màng phổi )
hay từ chính dịch chọc hút của màng ngoài tim.
4. Xét nghiệm máu: thường tăng bạch cầu đa nhân giai
đoạn sớm và bạch cầu lympho giai đoạn muộn hơn,
máu lắng thường tăng trong đa số các trường hợp.
5. Siêu âm tim: Thấy dấu hiệu có dịch ở khoang màng
tim với nhiều sợi fibrin, đồng thời có thể có dấu hiệu
màng ngoài tim dày hơn so với bình thường.

405
D. Điều trị
1. Rifampicin 600mg/ngày, Isoniazid 300mg/ngày,
Pyridoxine 50mmg/ngày phối hợp với Streptomycin
1g/ngày hoặc Ethambutol 15mg/kg/ngày trong 6 đến
9 tháng.
2. Cần sớm phẫu thuật cắt màng ngoài tim trong các
trường hợp tràn dịch tái phát gây ép tim nhiều lần
hay màng ngoài tim dày nhiều dẫn đến viêm màng
ngoài tim co thắt.
IV. Viêm màng ngoài tim sau nhồi máu cơ tim
Do viêm màng ngoài tim phối hợp với hoại tử cơ tim

chế tự miễn. Bệnh nhân thường có biểu hiện sốt, tràn dịch
màng phổi, tiếng cọ màng tim, màng phổi, xỉu và đau ngực
nhiều. Điều trị bằng Aspirin và thuốc chống viêm không
steroid, nghỉ ngơi tại giường. Nếu dùng thuốc chống đông
có thể dễ gây ra tràn máu màng ngoài tim tuy nhiên tiên
lượng của hội chứng này thường rất tốt. Hãn hữu các
trường hợp không khống chế được phản ứng viêm mới phải
dùng steroid để điều trị.
VI. Hội chứng sau mở màng ngoài tim
Hội chứng này cũng gần giống hội chứng Dressler,
xuất hiện một tuần sau phẫu thuật. Tỷ lệ gặp khoảng 10 đến
40% các trường hợp. Bệnh thường tự khỏi song đôi khi kéo
dài vài tuần. Điều trị bằng Aspirin, chống viêm không
steroid, Corticoid chỉ dùng trong các trường hợp không đáp
ứng với điều trị. Biến chứng có thể gặp là ép tim và hiếm
gặp hơn là viêm màng ngoài tim co thắt.
VII. Viêm màng ngoài tim do tăng urê máu
A. Triệu chứng lâm sàng
1. Hay gặp ở các bệnh nhân vừa bắt đầu lọc máu, rất
hay nghe thấy tiếng cọ màng tim trên lâm sàng.
2. Thường gặp tràn dịch màng ngoài tim số lượng nhiều
sau giai đoạn viêm cấp.

407
B. Sinh bệnh học: Còn chưa thật rõ ràng cơ chế sinh bệnh
học của bệnh và không thấy mối liên hệ với nồng độ urê
máu cũng như ngộ độc với sự xuất hiện của viêm màng
ngoài tim.
C. Điều trị
1. Điều trị nội khoa: Hạn chế sử dụng chống viêm

408
Biến đổi đoạn ST-T không đặc hiệu, đôi khi có thể
thấy dấu hiệu luân phiên điện học.
2. Xét nghiệm giải phẫu bệnh vi thể: tìm tế bào ung
thư trong dịch chọc hút màng ngoài tim hoặc các
dịch tiết khác của cơ thể. Tỷ lệ gặp tế bào ác tính cao
trong dịch màng ngoài tim ở các bệnh nhân ung thư
phổi, ung thư vú nhưng tỷ lệ này thấp ở các bệnh
nhân ung thư máu và các ung thư khác.
3. Siêu âm tim: giúp đánh giá mức độ tràn dịch màng
tim, huyết động và theo dõi sự diễn biến của bệnh.
C. Điều trị
1. Điều trị dẫn lưu dịch màng ngoài tim qua da:
a. Chọc dẫn lưu dịch màng tim: Rất tốt nếu có sự
hướng dẫn của siêu âm, chỉ định cho các bệnh
nhân có triệu chứng lâm sàng của tràn dịch màng
ngoài tim mà số lượng khá nhiều.
b. Dùng bóng nong màng ngoài tim là kỹ thuật nguy
hiểm hơn, chỉ nên áp dụng ở các bệnh nhân tái
phát tràn dịch màng ngoài tim nhiều lần.
2. Phẫu thuật: có thể áp dụng một vài thủ thuật sau
trong những trường hợp cần thiết:
a. Mở màng ngoài tim dưới xương ức.
b. Làm cứng màng ngoài tim bằng Tetracycline với
nước muối sinh lý. Biến chứng có thể gặp của thủ
thuật này là đau nhiều trong thủ thuật, rối loạn
nhịp và sốt.
c. Cắt màng ngoài tim. Phẫu thuật này không là lựa
chọn hàng đầu cho các bệnh nhân tràn dịch màng
ngoài tim do ung thư.

1. Adler Y, Finkelstein Y, Guindo J, et al. Colchicine treatment for
recurrent pen-carditis. Circulation 1998;97:2183-2185.
2. Alexander RW, Schiant H, Fuster V. Hurst's the heart, 9th ed. New
York: McGraw-Hill, 1998.
3. Braunwald E, ed. Heart disease: a textbook of cardiovascular
medicine, 5th ed. Philadelphia: WB Saunders, 1997.
4. Fowler NO. Tuberculous pericarditis. JAMA 1991;266:99-103.
5. Kirkland LL, Taylor RW. Pericardiocentesis. Crit Care Clin
1992;8:669-711.
6. Shabetai R. Diseases of the pericardium. Cardiol Clin
1990;8(4):579-716.

410
7. Spodick DH. Pericarditis, pericardial effusion, cardiac tamponade,
and constriction. Crit Care Clin 1989;5:455~75.
8. Topol EJ, ed. Textbook of cardiovascular medicine. Philadelphia
Lippincott-Raven Publishers, 1998.
9. Wu J. Acute pericarditis. In: Marso SP, Griffin BP, Topol EJ, eds.
Manual of Cardiovascular Medicine. Philadelphia: Lippincott
Raven, 2000.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status