TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT
NAM VINAMILK TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Giáo viên hướng dẫn: THẦY VŨ ĐỨC CƯỜNG
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN MỸ HẠNH
Lớp: NGA-K40D
HÀ NỘI - NĂM 2005
2.3. Chất lượng hàng hoá dịch vụ……………………………
……25
2.4. Tổ chức hoạt động tiêu thụ hàng hoá dịch vụ………………….
26
2.5. Nhân tố thời gian…………………………………………… …27
2.6. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp…………………
…28
2.7. Uy tín doanh nghiệp ………………………………………… 28
3. Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…………… 29
III.Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sữa Việt
Nam trong điều kiện hội nhập KTQT ………………………………… ………30
1. Những cơ hội và thách thức đối với ngành sữa Vinamilk trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực …………………………………………………… 30
1.1. Những cơ hội đối với ngành sữa Vinamilk trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực :… ………………………………………….31
1.1.1. Thị trường thế giới
……………………………………31 3
1.1.2. Thị trường trong
nước…………………………………34
1.2. Những thách thức đối với ngành sữa Vinamilk trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực :………………………………… ……35
1.2.1. Thị trường thế giới ………………………………… 35
1.2.2. Thị trường trong nước ………………………….…….36
2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Sữa Việt
Nam
………………………………………………………………………………… 37
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA VINAMILK 66 4
I.Mục tiêu định hướng phát triển của công ty Vinamilk đến năm
2010:………66
1. Định hướng và Mục tiêu phát triển của ngành sữa Việt Nam
………………… 66
2. Định hướng và Mục tiêu phát triển của Công ty Vinamilk.…………………… 71
II. Một số biện pháp đề xuất nhằm nâng cao NLCT của Công ty Vinamilk….79
1.Về phía Nhà nước:Thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư phát triển ngành sữa
………………………………………………… ………………………………….79
1.1.Về thị trường ……………………. ………………………………79
1.2.Về đầu tư ……………… ………………………………………80
1.3.Về nghiên cứu khoa học , chuyển giao công nghệ. …………… 80
1.4.Về phát triển vùng chăn nuôi bò sữa …………………………….81
1.5.Quan tâm đến “ sản phẩm đầu ra “, ở đây chủ yếu là sữa tươi … 82
1.6. Giải pháp về thú y và vệ sinh thực phẩm :
………………………83
1.7.Về phát triển nguồn nhân lực : ………………………………… 83
1.8.Về huy động vốn . ………………………………………….……83
2.Về phía doanh nghiệp . ……………………………………………………… …83
2.1.Xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp
…………………… ………………………………………………………………83
2.2.Xây dựng nhận thức đúng đắn về hội nhập : ………………… …84
2.3.Phát huy nhân tố con người ………………………………… … 86
2.4.Đầu tư hợp lý cho công nghệ . ……………………………………88
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Những thành tựu và lợi ích to lớn do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho
mỗi nước tham gia là rõ ràng không thể phủ nhận. Ngày nay, không một dân tộc nào
có thể phát triển đất nước mình theo con đường tự cung, tự cấp, cô lập với bên
ngoài.Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, việc nhận thức đầy đủ
những đặc trưng quan trọng này và ứng dụng vào tình hình thực tế của đất nước là
cần thiết. Chính vì vậy, chiến lược phát triển mà chúng ta đã lựa chọn và khẳng định
là “ Hướng mạnh vào xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong
nước sản xuất có hiệu quả, chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu sang dạng chế
biến sâu, mở ra những mặt hàng mới có giá trị thặng dư cao “.
Công ty Vinamilk là một trong những điển hình thành công về cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước. Lần bán đấu giá cổ phần vào giữa tháng 2 trong năm nay,
Vinamilk đã giúp Nhà nước thu về thêm 385 tỷ đồng thay vì dự kiến ban đầu là 187
tỷ đồng. Mười năm qua, Vinamilk đã đầu tư 1.169,8 tỷ đồng phát triển quy mô sản
xuất, nâng cấp, đổi mới công nghệ. Xây dựng mới 5 nhà máy chế biến sữa trên 5
vùng trọng điểm của cả nước; tiến hành cuộc “ cách mạng trắng “ bằng việc tạo lập
vùng nguyên liệu nội địa … Nhờ đó, tốc độ sản xuất và kinh doanh luôn tăng, từ 15-
35%/ năm.Tỷ suất lợi nhuận trước thuế/nguồn vốn kinh doanh đạt từ 20-30%. Nộp
ngân sách Nhà nước 3.080,7 tỷ đồng, tổng vốn chủ sở hữu tăng gấp 10 lần, từ 216 tỷ
đồng (1992) lên 2015 tỷ đồng năm 2005, thị phần liên tục được giữ vững từ 50-
90%.Tuy nhiên, hiện nay xuất hiện một loạt Công ty đang cạnh tranh rất quyết liệt 6
với Công ty Vinamilk và doanh thu của họ cũng liên tục tăng (như mức tăng trưởng
nhảy vọt của Nutifood 50%, Hancofood là 100%/năm… )
Việt Nam sắp ra nhập WTO vào năm 2006, sẽ có nhiều Công ty nước ngoài
Chương III : Một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của
Vinamilk.
Do thời gian làm, đồng thời với kiến thức và tư duy còn hạn hẹp, nên ý kiến
của em nêu ra có thể còn chưa hợp lý. Em rất mong nhận được sự góp ý, phê bình
của các thầy cô, và các bạn đọc.
Qua khoá luận này, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Vũ
Đức Cường, người đã giúp đỡ và chỉ dẫn cho em trong quá trình thực hiện khoá
luận. Cám ơn khoa KTNT, thư viện trường Đại học Ngoại Thương, thư viện Quốc
Gia, Trung tâm thông tin thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn … đã giúp
đỡ và cung cấp cho em nhiều tài liệu và thông tin bổ ích để thực hiện khoá luận.
Cám ơn mẹ đã tạo điều kiện cho con được học tập ở trường Đại học Ngoại Thương,
cám ơn tất cả thầy cô đã dạy dỗ em trong bốn năm qua.
Nguyễn Mỹ Hạnh
8
hơn so với vốn đã bỏ ra, cùng đó là việc đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự
phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm
kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyển vốn đầu tư từ ngành có lợi
nhuận cao hơn. Điều này, vô hình chung đã hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý 10
giữa các ngành khác nhau và giúp các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau có số
vốn bằng nhau thì thu được lợi nhuận ngang nhau.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất
và tiêu thụ một loại sản phẩm hàng hoá - dịch vụ nào đó. Cạnh tranh trong nội bộ
ngành dẫn đến sự hình thành nên giá cả thị trường trên cơ sở giá trị xã hội của loại
hàng hoá dịch vụ đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp đấu tranh với
nhau để giành chiến thắng. Những doanh nghiệp giành chiến thắng sẽ mở rộng quy
mô hoạt động của mình trên thị trường, còn những doanh nghiệp nào thua cuộc sẽ
phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí các doanh nghiệp này còn có thể dẫn đến
giải thể, phá sản.
Đề cập tới cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế TBCN, K. Mark đã đưa ra
khái niệm cạnh tranh như sau: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch".
Như vậy, khi nghiên cứu cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
Mark đã coi cạnh tranh là cuộc giành giật các lợi thế để thu được lợi nhuận siêu
ngạch.
Tuy nhiên, cũng trong nền kinh tế TBCN, cuốn sách "Từ điển kinh doanh"
(Xuất bản năm 1992, Anh) lại đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: "cạnh tranh là
sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản
xuất cùng một loại về phía mình" để đề cập đến sự cạnh tranh ở thị trường các yếu
tố đầu vào của các doanh nghiệp.
Nói tóm lại, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các ngành kinh tế, giữa các quốc
hội phát triển và dẫn tới tình trạnh bị phá sản. Vì vậy, trong quá trình chuyển đổi 12
nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì cạnh
tranh là con đường cơ bản để các doanh nghiệp thích nghi và tồn tại được.
Có thể nói, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là
một tất yếu xảy ra và nó đóng vai trò quan trọng với tất cả các doanh nghiệp đó.
Trong phạm vi giới hạn luận văn của mình, em chủ yếu tập trung nghiên cứu và
phân tích loại hình cạnh tranh này.
2. Các hình thái cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
2.1. Thị trường cạnh tranh
Hình thái cạnh tranh này được xem xét dưới góc độ hành vi của thị trường,
gắn liền với phương thức hình thành và vận động giá trên thị trường. Có các hình
thái cạnh tranh như sau:
2.1.1. Hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo
- Khái niệm: thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó có rất
nhiều người bán mà không có người nào có ưu thế cung ứng một số lượng sản phẩm
lớn ảnh hưởng đến giá cả. Tất cả các đơn vị hàng hoá trên thị trường được coi là
giống nhau, ít có sự khác biệt về mẫu mã, hình thức, chất lượng. Tất cả người mua
và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc trao đổi, vì
vậy, việc tham gia và rút khỏi thị trường của họ rất dễ dàng. Họ không có khả năng
nâng giá. Do đó, các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường
này chủ yếu tìm biện pháp giảm chi phí tới mức thấp nhất.
- Tác dụng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
+ Thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến công nghệ, thay đổi sản phẩm cho phù
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. 13
khi doanh nghiệp tăng giá chưa chắc các doanh nghiệp khác sẽ tăng giá theo, như
vậy, doanh nghiệp sẽ làm mất khách hàng.
* Cạnh tranh độc quyền:
Đặc điểm nổi bật của thị trường độc quyền là số lượng các doanh nghiệp tham
gia thị trường tương đối lớn, mỗi doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng lớn đến các quyết
định sản xuất kinh doanh của riêng doanh nghiệp mình. Trong thị trường cạnh tranh
độc quyền, sản phẩm của các doanh nghiệp không đồng nhất. Người tiêu dùng phân
biệt được các sản phẩm của các doanh nghiệp thông qua nhãn hiệu, bao bì và các
dịch vụ kèm theo. Trên thị trường này, doanh nghiệp có quyền quyết định giá hàng
hoá nhưng vẫn không phải hoàn toàn theo ý mình, các điều kiện về mua bán hàng
hoá cũng khác nhau, các doanh nghiệp có thể có hình ảnh, uy tín khác nhau trong
tâm trí mỗi khách hàng.
2.1.3. Hình thái thị trường độc quyền
Đây là hình thái thị trường mà ở đó chỉ có một người bán nhưng nhiều người
mua (gọi là độc quyền bán) hoặc là chỉ có một người mua (gọi là độc quyền mua).
Điều kiện gia nhập cũng như rút lui khỏi thị trường này vô cùng khó khăn do vốn
đầu tư sản xuất kinh doanh thường rất lớn hoặc do sự độc quyền về kỹ thuật công
nghệ. Chính vì vậy, đặc điểm nổi bật của thị trường này không có sự cạnh tranh về
giá cả mà giá cả phụ thuộc vào quyền kiểm soát của người mua độc quyền hoặc
người bán độc quyền.
Trên thị trường độc quyền, đường cầu của toàn bộ xã hội về một loại hàng
hoá dịch vụ cũng như lượng hàng hoá mua vào, bán ra trên thị trường bằng các
chiến lược kinh doanh của mình.
Với hình thái này, chỉ có người tiêu dùng cuối cùng là gặp nhiều bất lợi nhất,
doanh nghiệp độc quyền có thể tạo ra sự khan hiếm hàng hoá hoặc bán hàng hoá với 15
giá cao. Để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng hiện nay, đã có nhiều quốc gia đề ra
luật chống độc quyền. Tuy nhiên, độc quyền cũng có mặt tích cực, nó đem lại lợi ích
hàng phù hợp. Doanh nghiệp nào tìm ra được nhu cầu đầu tiên và nhanh chóng đáp
ứng nhu cầu đó thì sẽ giành chiến thắng. Tuy nhiên, hiện nay, quan điểm về cạnh
tranh không dừng ở mức độ này mà cạnh tranh còn là việc các doanh nghiệp cùng
nhau kích thích tạo ra nhu cầu mới trên thị trường để từ đó khai thác các nhu cầu
này.
Sản xuất cho ai? Đây chính là câu hỏi khiến các doanh nghiệp phải đi tìm cho
mình các khách hàng mục tiêu, để từ đó có các chiến lược định vị sản phẩm. Điều
này cũng là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của các doanh
nghiệp.
Sản xuất như thế nào? Việc trả lời các câu hỏi này sẽ giúp các doanh nghiệp
tìm ra phương thức sản xuất tốt nhất với chi phí tốt nhất để từ đó hạ giá thành và
nâng cao lợi thế cạnh tranh. Do đó, trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp đã
không ngừng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để sản xuất ra sản phẩm có giá trị
cao và giá thành hạ.
Tóm lại, cạnh tranh trong quá trình sản xuất là sự ganh đua trong sản xuất
nhằm tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường, đẩy nhanh doanh số bán hàng
cũng như việc áp dụng các phương thức sản xuất nhằm giảm thiểu chi phí để mong
muốn có được lợi nhuận cao của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào thực sự làm
được điều này thì doanh nghiệp đó sẽ giành chiến thắng trong cạnh tranh.
2.2.3. Cạnh tranh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá dịch vụ.
Có thể nói, đây là lĩnh vực cạnh tranh gay gắt nhất, nó quyết định tính sống
còn của mỗi doanh nghiệp. Trọng tâm của cuộc cạnh tranh này là sự giành giật thị
trường và khách hàng của mỗi doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp sẽ có điều kiện 17
đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, thực hiện mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Để
làm được điều này, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách nhằm thu hút khách hàng về
phía mình, tìm được chỗ đứng ổn định và lâu dài trên thị trường bằng việc thực hiện
các chiến lược và các giải pháp khác nhau. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh
làm ăn có hiệu quả tiếp tục phát triển đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh
tế. Từ đó, cạnh tranh sẽ tạo nên sự ràng buộc giữa các doanh nghiệp tạo ra một sức
mạnh tổng thể cho sự phát triển qua việc phối hợp hài hoà các chức năng, nhiệm vụ
giữa các doanh nghiệp khác nhau trong các ngành kinh tế. Với sự phối hợp này sẽ
giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp diễn ra thông suốt, sản
phẩm hàng hoá sản xuất ra tiêu thụ dễ dàng hơn, các doanh nghiệp sẽ giảm bớt lo
lắng là không có thị trường tiêu thụ những sản phẩm đó.
Tóm lại: Khi có nền kinh tế thị trường thì tất yếu sẽ tồn tại quy luật cạnh
tranh, đó là quy luật góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Tuy
nhiên, đứng trên từng giác độ khác nhau thì cạnh tranh luôn là hai mặt của một vấn
đề. Một mặt cạnh tranh là động lực phát triển đối với mỗi doanh nghiệp. Mặt khác,
cạnh tranh lại mang những đe doạ, nguy cơ tiềm tàng sẵn sàng loại bỏ những thành
phần tham gia nền kinh tế thị trường nếu như không kịp thời thích ứng với nó.
Hơn nữa, cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế
những doanh nghiệp khác làm ăn có hiệu quả hơn, đáp ứng được nhu cầu xã hội,
thúc đẩy nền kinh tế mỗi quốc gia phát triển.
Nhận thức được vấn đề này, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trong thời
kỳ đầu của nền kinh tế thị trường, phải không ngừng tích luỹ những kiến thức, sẵn
sàng có những ứng xử cần thiết và thích hợp trước những hoàn cảnh do cạnh tranh
mang lại cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế và đất nước.
II. Nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường 19
1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng
lực cạnh tranh
khả năng cạnh tranh và tính cạnh tranh đều có nội dung tương tự nhau và hiểu
tên của chúng một cách nhất quán trong đề tài này là "năng lực cạnh tranh".
1.1.2. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ:
Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Năng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ phân biệt trên đây có mối tương quan mật
thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi xem xét, đánh giá và đề ra giải
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung cần
thiết phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh
tranh nêu trên. Một mặt, tổng số năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một
nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản
phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện
qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước (đặc biệt trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế). Trong đó, các cam kết về hợp tác kinh tế quốc tế, các
chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và của sản phẩm hàng hoá trong quốc gia
đó. Vì vậy, trước khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, em xin được 21
sơ lược về năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia và của sản phẩm. Còn năng lực cạnh
tranh cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh quốc gia
và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên không đề
cập đến.
1.1.2.1. Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới
để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là: Sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ,
tài chính, quốc tế hoá. Trong đó, trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ
đã tăng mạnh từ 1/9 lên 1/3. Theo phân tích và đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế
giới (WEF) thì sức vươn lên trong hội nhập, cạnh tranh của nền kinh tế nước ta chưa
mạnh, trong khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra yêu cầu rất cao tới năng
lực cạnh tranh của các quốc gia và năng lực cạnh tranh của cấp quốc gia ảnh hưởng
rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Một sản phẩm hàng hoá được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc
đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với những sản phẩm hàng
hoá cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt
bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có những năng lực cạnh tranh
của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh sản phẩm đó thấp.
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu
cơ với nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có được do năng lực cạnh tranh của 23
chủ thể (doanh nghiệp) tạo ra; nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không
chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá mà có, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh
của sản phẩm hàng hoá có ảnh hưởng lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
1.1.2.3.Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, một doanh nghiệp muốn có một chỗ đứng vững
chắc, ngày càng mở rộng quy mô hoạt động thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để
có thể cạnh tranh trên thị trường. Tiềm lực đó chính là năng lực cạnh tranh của một
Z
CDCD
Trong đó: - Z là giá thành sản phẩm
- FCD là chi phí cố định
-
V
là chi phí biến đổi bình quân
- Q là khối lượng hàng hoá
Căn cứ vào giá thành, các doanh nghiệp sẽ định giá bán cho từng loại sản
phẩm hàng hoá.
* Thị phần của doanh nghiệp.
Thị phần của Công ty có thể hiểu là phần mà Công ty chiếm được trên một thị
trường nào đó. Thị phần được xác định theo công thức sau:
Thị phần =
D
oanh thu c
ủa công ty
x100%
Doanh thu c
ủa thị tr
ư
ờng
i
C
ZixCiK
1
Trong đó: Kc là sức cạnh tranh tương đối.
Zi là hệ số quan trọng của thông số i
Ci là thông số đánh giá sức cạnh tranh thứ i (thang 7 điểm).
Kc chia làm 7 bậc:
1 2 3 4 5 6 7
Kém Yếu TB yếu TB TB khá Khá Cao