Tiểu luận: VỤ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN PHÂN ĐỊNH BIỂN VÀ CÁC VẤN ĐỀ LÃNH THỔ GIỮA QATAR – BAHRAIN - Pdf 12

1

Tiểu luận
VỤ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN PHÂN ĐỊNH BIỂN
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LÃNH THỔ GIỮA QATAR – BAHRAIN
2 I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QATAR VÀ BAHRAIN
Bahrain và Qatar là hai quốc gia có vị trí nằm sát nhau trên bản đồ thế giới. Hai
quốc gia cùng ở phía nam của Vịnh Ba Tư (Arabian/Persian Gulf), trong đó Bahrain là
hòn đảo nằm ở phía tây của bán đảo Qatar, mỗi nước còn có một số đảo nhỏ ở sát bờ
biển nước mình.
Giữa thế kỷ thứ 18, các bộ tộc Arab chủ yếu sinh sống ở quần đảo Qatar, trong khi
đảo Bahrain lại chịu sự thống trị của Ba Tư. Năm 1766, người Al-Khalifah (một bộ
phận của bộ tộc Utubi) cùng với các bộ tộc Qatar đã đánh đuổi người Ba Tư ra khỏi
Bahrain rồi định cư ở đó từ năm 1783.
Vào thế kỷ thứ 19, người Anh theo đuổi chính sách duy trì hòa bình vùng biển Vịnh
Ba Tư để có thể dễ dàng trao đổi buôn bán với Ấn Độ. Để thực hiện chính sách đó,
các mối quan hệ theo điều ước (treaty relations) đã được hình thành giữa Anh và các
bộ tộc của Qatar, Bahrain.
Cho đến trước năm 1868, Anh xem Qatar là một quần đảo lệ thuộc Bahrain. Năm

sự xâm nhập của Bahrain.
Tuy nhiên, ngày 11/07/1939, Thống sứ Chính trị Anh (British Political Resident) ở
Vịnh Ba Tư thông báo đến Người đứng đầu của cả hai nước rằng Chính phủ Anh
quyết định nhóm đảo Hawar thuộc về Bahrain chứ không thuộc về Qatar. Phản đối
mạnh mẽ lại quyết định trên, Qatar lập luận rằng nhóm đảo đó nằm trong vùng nội
thủy (territorial waters) và thuộc chủ quyền của Qatar về thực tế lẫn pháp lý.
Ngày 23/12/1947, Chính phủ Anh thông báo đến Người đứng đầu của Qatar và
Bahrain về quyết định phân định ranh giới vùng đáy biển giữa hai quốc gia, trong đó
Bahrain có chủ quyền đối với các bãi cạn Dibal và Jaradah, đồng thời cho rằng các bãi
4

cạn này không phải là đảo có vùng nội thủy. Kèm theo bức thư thông báo đó là một
bản vẽ đường ranh giới có lợi cho quyết định năm 1939 của Anh về chủ quyền đối với
nhóm đảo Hawar.
Phản ứng về sự phân định trên, Qatar đã nhấn mạnh rằng Dibal và Jaradah không
phải là đảo có vùng nội thủy mà chỉ là các bãi cạn. Tuy không phản đối về đường ranh
giới Chính phủ Anh đưa ra nhưng Qatar lại cho rằng chủ quyền đối với Dibal và
Jaradah là thuộc về Qatar chứ không phải Bahrain.
Không chấp nhận sự phân định của Chính phủ Anh, tháng 09/1947, Bahrain đã gửi
(Memorandum) đến Chính phủ Anh để đề xuất một cách phân định khác theo ý của
họ, đồng thời tìm kiếm sự công nhận rằng Dibal và Jaradah là những đảo có vùng nội
thủy và thuộc về Bahrain.
Ngày 21/04/1965, Qatar gửi bản Note Verbale và Memo để chống lại những lập
luận của Bahrain dựa trên sự phân định của luật tập quán quốc tế và thực tế áp dụng
cũng như các tập quán. Trong đó, Qatar khẳng định đường ranh giới mà họ công nhận
năm 1947 là hợp lý và phù hợp với luật quốc tế ở thời điểm đó.
3. Nỗ lực hòa giải giữa hai bên
Theo trình tự thông thường trong giải quyết các tranh chấp quốc tế, các quốc gia
tranh chấp trước hết phải trải qua bước trung gian hòa giải (“good offices”). Từ năm
1976, nhằm giúp tìm kiếm giải pháp cho vụ tranh chấp, Quốc vương Saudi Arabia trở

Arab States of the Gulf) tổ chức tại Doha tháng 12/1990. Khi đó, Qatar tuyên bố sẽ
chấp thuận Công thức Bahrain. Biên bản của cuộc họp sau đó đã ghi nhận những nội
dung sau:
(1) Khẳng định lại những gì đã được thỏa thuận trước đó giữa hai bên.
(2) Tiếp tục vai trò trung gian hòa giải của Quốc vương Saudi Arabia giữa hai
nước cho đến tháng 05/1991. Khi thời hạn này kết thúc, các bên có thể đưa vụ
việc lên ICJ phù hợp với Công thức Bahrain mà Qatar đã chấp thuận, và các vụ
6

kiện phát sinh kể từ thời điểm đó. Vai trò trung gian hòa giải của Quốc vương
Saudi Arabia sẽ tiếp tục trong suốt thời gian đưa vấn đề tranh chấp lên trọng
tài.
(3) Nếu có một giải pháp hợp lý được đưa ra với sự chấp thuận với cả hai bên
tranh chấp thì vụ việc sẽ được rút khỏi trọng tài.
Sau những nỗ lực hòa giải không thành công của Quốc vương Saudi Arabia trong
thời hạn đã định. Ngày 08/07/1991, Qatar tiến hành các thủ tục để đưa vụ kiện chống
lại Bahrain lên ICJ.
4. Các giai đoạn của vụ kiện
Khi vụ việc được đệ trình lên ICJ, Tòa sẽ tiến hành hai giai đoạn:
- Xác định Tòa có thẩm quyền xét xử hay không.
- Nếu Tòa có thẩm quyền xét xử, Tòa sẽ tiến hành các thủ tục tranh tụng để phân
xử về nội dung của các vấn đề tranh chấp.
Bài thảo luận của chúng tôi chủ yếu tập trung vào khâu xác định thẩm quyền của
Tòa trong vụ Qatar – Bahrain dựa trên các Phán quyết ngày 01/07/1994 của Tòa về
thẩm quyền và tính được thừa nhận (Judgment on Jurisdiction and Admissibility). Cụ
thể lập luận của các bên và phán quyết của Tòa sẽ được trình bày ở phần sau.
5. Kết quả của vụ tranh chấp
ICJ đã đưa ra các phán quyết như sau:
(1) Tòa xác định những bức thư 1987 và Biên bản 1990 là những điều ước quốc
tế tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia. Theo đó, Tòa có thẩm quyền

đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện
có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các văn
kiện đó.”
8

b. Bác lại lập luận của Bahrain cho rằng Biên bản Doha 1990 chỉ đơn
thuần là một tuyên bố ghi nhận thỏa thuận về chính trị (A statement recording a
political understanding), Qatar khẳng định rằng Biên bản năm 1990 rõ ràng chứa
đựng những điều khoản có giá trị pháp lí. Trong Biên bản, hai quốc gia đã tán thành
việc cho đến hết tháng 05/1991 các bên có thể đưa vụ tranh chấp lên ICJ phù hợp với
Công thức Bahrain mà Qatar đã chấp thuận, và các vụ kiện phát sinh kể từ thời điểm
đó. Hơn thế nữa, đây là văn bản khẳng định lại những gì đã thỏa thuận trước đó, cụ
thể là trong các bức thư trao đổi vào tháng 12/1987. Như vậy rõ ràng Biên bản Doha
mang bản chất pháp lý chứ không phải chỉ mang tính chính trị đơn thuần.
c. Qatar cho rằng giá trị ràng buộc và tính có hiệu lực của Biên bản Doha
là không thể phủ nhận được.
Thứ nhất, biên bản được kí bởi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao 3 nước, những người có
đầy đủ thẩm quyền kí các ĐƯQT thay mặt quốc gia theo Điều 7.2.a và Điều 12.1.b,
CƯ Viên.
Điều 7.2.a:
“Trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình, những người sau đây được
coi là đại diện cho quốc gia không cần xuất trình giấy uỷ quyền: nguyên thủ
quốc gia, người đứng đầu Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong việc
thực hiện các hành vi liên quan đến việc kí kết điều ước.”
Điều 12.1.b:
“Việc đồng ý của một quốc gia chấp nhận sự ràng buộc của một điều ước được
biểu thị bằng việc đại diện của quốc gia đó ký nếu có sự xác nhận khác rằng,
các quốc gia tham gia đàm phán đã thoả thuận là việc ký sẽ có giá trị như vậy.”
Thứ hai, việc Bahrain viện dẫn Điều 37 Hiến pháp Bahrain quy định các điều ước
liên quan đến các vấn đề lãnh thổ hoặc quyền chủ quyền chỉ có thể có hiệu lực khi

như trong bản tranh tụng Bahrain trình lên Tòa.
10

Trong đó, Bahrain đưa ra một số lập luận sau:
a. Biên bản năm 1990 chỉ là 1 văn kiện ngoại giao, đó chỉ là kết quả của một giai
đoạn đàm phán ngoại giao giữa hai bên và do đó không có tính ràng buộc. Bộ trưởng
Bộ ngoại giao Bahrain đã không thể kí vào văn bản đó nếu ông biết được rằng văn bản
đó sau này sẽ ràng buộc Bahrain vào một văn kiện quốc tế hay ĐƯQT có tính ràng
buộc.
b. Biên bản 1990 đã không được các bên tham gia xem xét là đã cấu thành một
thỏa thuận quốc tế. Về phía Bahrain, rõ ràng ngay từ đầu, Bahrain đã không xem Biên
bản 1990 là một thỏa thuận quốc tế mang tính ràng buộc.Về phía Qatar cho đến thời
điểm nộp đơn, Qatar cũng chưa bao giờ xem Biên bản 1990 là thỏa thuận quốc tế
mang tính ràng buộc.
Thứ nhất, trong việc Hiến pháp Qatar quy định việc một ĐƯQT sẽ có hiệu lực pháp
lý sau khi đã được Official Gazette kí kết, thông qua và công khai. Tuy nhiên, phía
Qatar không có bất kì thông tin gì cho Hội đồng tư vấn hay có bất kì sự giải thích hợp
lí nào hay bất kì việc thông qua hay công khai nào từ phía Official Gazette. Nếu Qatar
thực hiện theo những gì Hiến pháp yêu cầu để chứng tỏ Qatar có ý định xem những
biên bản đó là thỏa thuận quốc tế, thì Bahrain đã có thể có cơ hội để phản đối.
Thứ hai, Điều 17 Hiệp ước Liên hiệp các quốc gia Arab quy định
The member States of the League shall file with the General Secretariat copies of
all treaties and agreements which they have concluded or will conclude with
any other State, whether a member of the League or otherwise.
Nhưng Qatar cũng đã không thực hiện theo quy định trên.
Thứ ba, rõ ràng Qatar không có ý định xem các biên bản đó là thỏa thuận quốc tế
bởi vì chỉ vài tuần trước khi nộp đơn kiện Qatar mới đăng kí Biên bản 1990 như là
một ĐƯQT cho Tổng thư kí LHQ.
c. Những yêu cầu cần thiết cho việc thực hiện hiệu quả Biên bản đó như là một
ĐƯ không được thỏa mãn ngay cả khi nội dung Biên bản 1990 được xem như là một

1
ICJ Judgments of 1 July 1994 - Case concerning Maritime delimitation and territorial questions between Qatar
and Bahrain, para. 41
12

Tòa lập luận như sau về các phán quyết của mình:
Cơ sở chính để tòa đưa ra phán quyết như trên về thẩm quyền của mình trong vụ
việc này là bản chất (nature) và nội dung (content) của việc trao đổi thư năm 1987 và
của Biên bản Doha 1990. Hai yếu tố này là hai yếu tố quyết định để kết luận một văn
bản/ văn kiện có thể được xem là một thỏa thuận/điều ước quốc tế hay không.
a. Bản chất của việc trao đổi thư năm 1987 và của Biên bản Doha 1990
Thực tế, các bên đã đồng ý rằng việc trao đổi thư năm 1987 cấu thành một thỏa
thuận quốc tế với sức ràng buộc trong mối quan hệ song phương giữa hai nước. Tuy
vậy, Bahrain duy trì quan điểm cho rằng Biên bản ngày 25/12/1990 chỉ đơn thuần là
một biên bản của cuộc đàm phán, với bản chất tương tự như biên bản của Hội đồng ba
bên, theo đó, chúng không thể được coi là thỏa thuận quốc tế và vì thế không thể là cơ
sở cho thẩm quyền của Tòa.
Xem xét Biên bản 1990, Tòa nhận thấy rằng chúng không đơn giản là hồ sơ của
một buổi họp tương tự như những biên bản được hình thành trong khuôn khổ của Hội
đồng ba biên; chúng không chỉ đưa ra sự tranh luận và tóm tắt các điểm đồng thuận và
không đồng thuận. Thực tế, chúng liệt kê ra các cam kết mà các bên đã chấp thuận
thực hiện. Vì thế chúng tạo ra các quyền và nghĩa vụ trong luật quốc tế đối với các
bên. Chúng cấu thành một thỏa thuận quốc tế.
Bahrain duy trì quan điểm rằng các bên ký kết Biên bản 1990 không hề có ý định
tạo ra một thỏa thuận như vậy. Tuy nhiên Tòa không cho rằng việc xem xét ý định
của Bộ trưởng Ngoại giao Bahrain hay Qatar là quan trọng. Đồng thời Tòa bác bỏ lý
lẽ của Bahrain rằng các hành động sau đó của hai nước cho thấy rằng họ không hề coi
Biên bản 1990 là một thỏa thuận quốc tế.
b. Nội dung của các bức thư và biên bản
Đầu tiên Tòa nhận thấy rằng, với các bức thư tháng 12/1987, Bahrain và Qatar đã

quan tới quyền lãnh thổ hay các tư cách và lợi ích khác mà giữa hai bên tồn tại sự
khác biệt”, và lời yêu cầu Tòa “đưa ra một đường biên giới biển đơn nhất giữa các
14

vùng đáy biển, vùng đất cái và vùng nước chồng lên nhau của diện tích biển giữa hai
nước”.
IV. BÀI HỌC RÚT RA TỪ VỤ VIỆC
Dựa vào kết luận của Tòa về bản chất và nội dung của các bức thư năm 1987 và
Biên bản 1990, có thể thấy rằng Tòa xem chúng là các thỏa thuận quốc tế và có giá trị
pháp lý ràng buộc với các bên liên quan. Dễ dàng nhận thấy chúng đều là các văn bản
viết đã được hai quốc gia ghi nhận và ký kết. Đồng thời, chúng liệt kê ra các cam kết
mà các bên đã chấp thuận thực hiện. Cụ thể:
1. Tòa nhận thấy rằng, với các bức thư tháng 12 năm 1987, Bahrain và Qatar đã
tham gia vào một cam kết rằng sẽ đưa mọi tranh chấp của mình lên Tòa và
quyết định cùng với sự hỗ trợ của Saudi Arabia; phương thức sẽ do Tòa quyết
định. Bên cạnh đó, Biên bản tháng 12.1990 đã quy định các “vấn đề tranh chấp”
có thể được đưa ra trước Tòa. Theo đó Qatar đã chấp thuận Công thức Bahrain.
Vì thế cả hai bên đã chấp nhận rằng Tòa sẽ quyết định các vấn đề chủ quyền
trên biển và vấn đề biên giới biển giữa hai bên. Như vậy, có thể nói các bức
thư 1987 và Biên bản 1990 đã tạo ra các quyền và nghĩa vụ trong luật quốc tế
đối với các bên.
2. Tuy Bahrain lập luận rằng các bên ký kết Biên bản 1990 không hề có ý định tạo
ra một thỏa thuận như vậy nhưng Tòa cho rằng không cần xem xét ý định của
các bên kí kết. Cụ thể là, khi đã đồng ý kí kết vào văn bản thì các quốc gia đã
chấp nhận bị ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ.
Những yếu tố tương tự như trên cũng có thể được suy ra trực tiếp từ điều 2, khoản
1(a), CƯ Viên 1969 về thế nào là một điều ước quốc tế (“treaty”):
“Điều ước quốc tế là một thỏa thuận mang tính chất quốc tế được ký kết giữa
các quốc gia dưới dạng văn bản và được điều chỉnh bởi luật quốc tế, không phụ
thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status