Chuyên đề tốt nghiệp “Quản lý điều hành sản xuất
tại Xí nghiệp may 20C – Công
ty X20 ” SVTH: Phạm Thị Phượng
Công nghiệp A
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
1
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2009 là một năm đầy khó khăn đối với nền kinh tế nói chung và nền
kinh tế việt Nam nói riêng, trong khi nên kinh tế đang bị khủng hoảng việc Xuất
khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn vì vậy mà các doanh
nghiệp nên chuyển vào tập trung cho thị trường nội địa.
Ngày nay đời sống của người dân Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều nhu
cầu làm đẹp cũng rất cao chính vì vậy mà ngành may cũng ngày càng phát triển. Thị
trường nội địa là một tiềm năng cho các doanh nghiệp trong ngành may.
- Chương 1: Tổng quan về Xí nghiệp may 20C- Công ty X20
- Chương 2: Thực trạng quản lý điều hành sản xuất tại Xí nghiệp may 20C- Công ty
X20
- Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện hoạt động quản lý điều hành sản xuất tại Xí
nghiệp may 20C- Công ty X20
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề khó tránh khỏi thiếu sót nên em rất
mong được sự góp ý của các thầy cô và các cô, chú, anh chị trong Xí nghiệp.
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
3
4
Xí nghiệp may 20C là chi nhánh của Công ty X20, được phép sản xuất kinh
doanh các mặt hàng về quân trang quân phục cho quân đội và may mặc trên thị
trường trong nước và quốc tế.
Tiền thân của Xí nghiệp may 20C ngày nay là trường dạy nghề cho thương
binh thuộc QK4. Được thành lập ngày 27/7/1972 tại làng Mó – xã Quỳnh Châu –
huyện Quỳnh Lưu – Tỉnh Nghệ An. Với nhiệm vụ chủ yếu là dạy nghề may mặc
cho anh em thương binh và sau này là dạy nghề cho quân đã hoàn thành nghĩa vụ
quân sự.
Trải qua các thời gian trực thuộc, các cơ quan của QK4, nhiệm vụ của xí
nghiệp cũng dần thay đổi từ chỗ chỉ dạy nghề cho anh em thương binh đến đào tạo
nghề cho quân nhân, tổ chức may đo sản xuất quân trang và tham gia sản xuất hàng
kinh tế xuất khẩu.
Tháng 6/2003 taị quyết định số 15/2003/QĐ – BQP ngày 14/6/2003 của bộ
trưởng bộ quốc phòng. Xí nghiệp may 20C được điều chuyển nguyên trạng từ công
ty Lam Hồng – QK4 về trực thuộc công ty 20 tổng cục Hậu cần kể từ ngày
1/7/2003. Ngày 25/7/2003 xí nghiệp được chính thức mang tên xí nghiệp may 20C
– công ty 20. Đến tháng 01/2009 theo quyết định của Bộ Quốc Phòng Công ty 20-
TCHC – BQP được chuyển đổi mô hình thành công ty Cổ phần và Xí nghiệp may
20C lại được chuyển thành Chi nhánh Công ty CP X20 – Xí nghiệp may 20C.
Hòa chung với khí thế phát triển chung của các ngành kinh tế, sản xuất kinh
doanh xí nghiệp may 20C – công ty X20 đã và đang có những bước phát triển đáng
kể. Xí nghiệp luôn coi trọng nhiệm vụ sản xuất hàng quốc phòng là nhiệm vụ chính
trị hàng đầu. Toàn bộ đơn đặt hàng quốc phòng được thực hiện đúng tiến độ vầ chất
lượng quy định.
Đối với hàng kinh tế, bằng uy tín của mình Xí nghiệp đã giữ được bạn hàng
truyền thống, tích cực khai thác, tìm kiếm mở rộng thị trường sản xuất các đơn hàng
kinh tế nội địa và xuất khẩu. Đối với hàng kinh tế nội địa, xí nghiệp đã vươn ra
cả những lao động phổ thông chưa biết nghề đều được tuyển vào làm sau đó sẽ
được đào tạo thành nghề. Một lao động nếu học chăm chỉ thì chỉ sau 3 tháng là có
thể làm việc được.
Lao động ngành may hiện nay chủ yếu tự học, đào tạo theo
phương thức kèm cặp trong các nhà máy, xí nghiệp là chính. Toàn bộ ngành chỉ có
4 trường đào tạo với "công suất" mỗi năm khoảng 2.000 công nhân, không thể đáp
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
6
ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, thậm chí khi về doanh nghiệp phải chấp
nhận tự đào tạo lại. Chính vì thế, các nhà máy, công ty may vẫn lựa chọn phương
thức tự đào tạo tại đơn vị.
Vì đào tạo không có bài bản nên số lao động thay thế
hàng năm chất lượng không cao, năng suất lao động thấp. Do đó, để hoàn thành các
đơn hàng bắt buộc Công ty phải tuyển dụng nhiều lao động, thực hiện làm 3 ca, 4
kíp. Do vậy đây là nguyên nhân chính khiến Xí nghiệp phải chú ý khi tiến hành
phân công công việc hay điều hành sản xuất để có thể cân đối được các nguồn lực.
Và đây cũng là một cơ sở để công ty giao chỉ tiêu cho Xí nghiệp.
1.2.2. Đặc điểm về sản phẩm:
Sản phẩm của Công ty là các sản phẩm may mặc như Trang phục quân đội,
Áo Jacket, Quần áo đua moto, Quần âu, Sơ mi nam nữ, Váy thời trang, Quần áo thể
thao, Đồng phụcComle, Veston. Đây là các sản phẩm truyền thống đã được Công ty
thiết kế và đưa cho Xí nghiệp sản xuất từ nhiều năm nay. Chủng loại mặt hàng
truyền thống của Xí nghiệp đa dạng, ngoài ra lại có thêm những đơn đặt hàng nhỏ lẻ
do Xí nghiệp tự khai thác dẫn đến việc kiểm tra theo dõi về nguyên vật liệu, huy
động các nguồn lực sản xuất, thời gian làm việc, tình hình thực hiện công việc của
sang đấu thầu rộng rãi nên bằng mọi biện pháp phải thực hiện tiết kiệm chi phí,
giảm giá thành sản phẩm để tập trung thắng thầu cao nhất. Đảm bảo nghiêm ngặt
các yêu cầu về chất lượng và tiến độ giao nộp sản phẩm phục vụ quốc phòng. Ngoài
ra cần chú trọng đến những giải pháp sau đây:
Thương hiệu Công ty và nhãn hiệu sản phẩm phải được khẳng định vững
chắc trên thị trường nội địa. Do vậy mà Xí nghiệp cũng phải thực hiện nghiêm túc
các vấn đề về chất lượng và tiến độ. Về xuất khẩu, Công ty chú trọng các đơn hàng
FOB có hiệu quả cao, tiếp tục giữ vững các khách hàng truyền thống, đồng thời tìm
kiếm và ký hợp đồng với khách hàng mới, tập trung vào các chủng loại sản phẩm
mà Công ty đang có thế mạnh như quần áo đua môtô, veston, jacket, quần áo, áo sơ
mi… trọng tâm là thị trường Hoa Kỳ và EU với hình thức chuyển dịch từ gia công
sang FOB. Nếu vấn đề xuất khẩu thuận lợi thì Xí nghiệp sẽ được nhận những đơn
hàng lớn và công nhân sẽ có việc làm.
1.2.3. Đặc điểm về máy móc thiết bị:
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
8
Hiện tại, Xí nghiệp có diện tích đất sử dụng là 5196m
2
, 196 máy may bằng,
máy chuyên dụng và thiết bị phụ trợ là 105 chiếc.
Xí nghiệp có hệ thống trang thiết bị đồng bộ, hiện đại, phục vụ tốt nhất cho
quá trình sản xuất:
- Máy ép mex, máy ép keo, máy cắt vòng, máy cắt tay, máy cắt xén đầu bàn,
máy may một kim các loại, máy hai kim cơ động, máy vắt sổ, máy may hai kim
công ty sẽ được thử tay nghề để xác định trình độ và hệ số lương. Sau đó, sẽ được
phân về các xưởng. Tất cả công nhân tuyển vào làm việc đều phải được đào tạo theo
quy định của Xí nghiệp như: giới thiệu về chính sách mục tiêu chất lượng, giới
thiệu về hệ thống chất lượng xí nghiệp đang áp dụng và thực hiện, trách nhiệm
quyền hạn và lợi ích của người lao động khi thực hiện các công việc trong Xí
nghiệp… Sau mỗi đợt( khóa) đào tạo đều được đánh giá kết quả đào tạo thông qua
các hình thức: phiếu điểm, bằng, chứng chỉ… đều được ghi vào hồ sơ đào tạo của
từng người. Hàng năm việc tổ chức các lớp, các đợt huấn luyện đào tạo đều được
nằm trong kế hoạch, có phân công tổ chức chặt chẽ và kết thúc mỗi đợt đều có kiểm
tra để đánh giá kết quả. Mỗi khi có sự thay đổi về công nghệ , thay đổi mã hàng, sản
phẩm công nhân đều được hướng dẫn và đào tạo tại chỗ. Hàng năm, Xí nghiệp cũng
tổ chức thi nâng cao tay nghề, thi bậc thợ và thi thợ giỏi cho công nhân để đánh giá
phân loại trình độ tay nghề của công nhân nhằm có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng và
sử dụng lao động cho phù hợp.
Do ngành may là một ngành có tỷ lệ lợi nhuận thấp nên lương của công nhân
chưa được cao. Nhiều khi người công nhân chưa sống được bằng đồng lương của
mình. Chính vì vậy, tỷ lệ thuyên chuyển công tác hay xin thôi việc sau một thời
gian làm việc thường xuyên diễn ra khiến cho việc quản lý lao động và đảm bảo
năng suất chất lượng sản xuất còn gặp nhiều khó khăn. Điều này cũng khiến Xí
nghiệp mất một khoản chi phí để tuyển dụng và đào tạo lại công nhân. Xí nghiệp
cũng luôn quan tâm tới điều kiện, môi trường lao động cho công nhân và giải quyết
các chế độ thai sản, nghỉ ốm, trợ cấp, bảo hộ lao động và đóng góp các khoản
BHXH, BHYT cho công nhân.
Lao động gián tiếp: chiếm khoảng 6% trên tổng số lao động toàn Xí nghiệp. Để
trở thành một đơn vị vững mạnh toàn diện, hàng năm Xí nghiệp đều sắp xếp, kiện
toàn đội ngũ cán bộ, đánh giá năng lực làm việc của các bộ phận trong Xí nghiệp để
từ đó có thể phân công công việc cho hợp lý. Xí nghiệp cũng thường xuyên tổ chức
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
11
1.3.1. Nhiệm vụ sản xuất chủ yếu:
Các mặt hàng quân trang, quân phục cho bộ đội, cảnh sát, công an và bảo vệ
của các công ty…: như quần Xí nghiệp may 20C là Xí nghiệp trực thuộc Công ty
may X20 do vậy mà nhiệm vụ sản xuất được Công ty giao trực tiếp theo lệnh sản
xuất. Vì sản phẩm chủ yếu của Công ty là hàng quốc phòng nên nhiệm vụ mà công
ty giao cho Xí nghiệp thường là hàng quốc phòng chiếm số lượng lớn. Nhưng hiện
nay các mẫu quân phục dùng trước đây không còn phù hợp do vậy Công ty đã thay
đổi mẫu mã quân trang.Đó một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng không chỉ của riêng
ngành hậu cần. Chính vì thế, lộ trình thực hiện cải tiến luôn được sự quan tâm của
Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, các cơ quan chức năng của Bộ và cán bộ, chiến sĩ toàn
quân… Đó là cơ hội cho Công ty thay đổi mâu mã sản phẩm vì vậy nhiệm vụ sản
xuất của Xí nghiệp cũng có sự thay đổi.
* Nhiệm vụ quốc phòng: sản xuất áo, mũ, ba lô….
Trong số các mặt hàng Xí nghiệp sản xuất thì có một số mặt hàng được công ty giao
nhưng cũng có một số được Xí nghiệp khai thác như đồng phục cho công an Xã ở
các huyện và tỉnh lân cận địa bàn.
* Nhiệm vụ kinh tế: sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, thời trang. Nhiệm vụ
sản xuất các sản phẩm này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và không thường xuyên. Nhưng
trong năm 2009 này thì nhiệm vụ này có xu hướng giảm so với các năm trước do bị
ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới.
* Tỷ lệ giữa hai nhiệm vụ trên: Đối với Xí nghiệp nhiệm vụ sản xuất chủ yếu
là Quân trang hàng loạt chiếm 79%. Nhiệm vụ kinh tế - Xuất khẩu chiếm 21%
trong khối lượng hàng sản xuất của Xí nghiệp. Trong khi nền kinh tế đang khủng
hoảng như hiện nay tuy có bị ảnh hưởng nhưng không đáng kể vì Xí nghiệp vẫn có
thị trường trong nước khá ổn định và được sự quan tâm của đảng và tỉnh ủy nơi Xí
nghiệp đang hoạt động.
( Nguồn: Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp xí nghiệp 20C)
Công ty giao chỉ tiêu cho Xí nghiệp trong năm 2009 phải hoàn thành được sô
lượng các loại sản phẩm như bảng trên. Số lượng sản phẩm được giao cụ thể thông
qua lệnh sản xuất, mỗi lệnh sản xuất có yêu cầu cụ thể cho từng đơn hàng và mẫu
hàng.
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
13
Số lượng sản phẩm mà Công ty giao cho Xí nghiệp cần sản xuất trong Quý 1(2
tháng đầu năm)là:
- Quân phục dã chiến CS nam K07 : 5.000 bộ
- QPCS nam LQ K03 : 6.300 bộ
- Áo thường phục ra quân đấu thầu : 15.000 cái
- Quần thường phục ra quân đấu thầu : 15.000 cái
- Ba lô bạt 3*3 in loang : 1.500 cái
- Quân phục đông SQ nam LQ K08 : Xuất 10.500
* Yêu cầu về chất lượng: hàng quốc phòng hay hàng kinh tế đều yêu cầu chất
lượng cao vì trong nền kinh tế hiện nay nếu chất lượng không đảm bảo thì hàng hóa
không thể cạnh tranh và không có chỗ đứng trên thị trường. Các sản phẩm phải đáp
ứng tiêu chuẩn mà công ty đang áp dụng, các đường may phải đáp ứng các yêu cầu
về kỹ thuật.
Hiện nay Quân phục của cán bộ, chiến sĩ quân đội đã có những lần được thay
đổi, nhưng chưa đáp ứng một cách toàn diện yêu cầu đặc thù của hoạt động quân sự
và cũng chưa thật đẹp. Trước yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại, yêu cầu cải tiến mẫu quân trang là đúng hướng. Trong
điều kiện đất nước, quân đội đang hội nhập khu vực, quốc tế, việc mẫu mã trang
phục có những điểm tương đồng cũng là yêu cầu khách quan. Song, điều quan trọng
nhất là trang phục quân đội phải ngày càng phù hợp với đặc thù hoạt động của bộ
khách hàng thanh toán với Công ty. Xí nghiệp chỉ ứng tiền từ công ty để thanh toán
các khoản chi phí.
Hàng kinh tế và đối với hàng Xí nghiệp tự khai thác thì các điều kiện và
thanh toán được ghi rõ trong mỗi hợp đồng. Thanh toán có thể chuyển khoản cũng
có thể trả bằng tiền mặt.
1.4. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp:
Qua bảng số liệu dưới đây cho ta thấy được, từ năm 2004 tới nay doanh thu
của Xí nghiệp luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể năm 2005 tăng hơn
2004, 1.361 triệu đồng đạt tốc độ tăng trưởng 26,78% cho tới năm 2006 tốc độ này
tăng lên 41,33%. Đây là một tín hiệu tốt cho sự phát triển của Xí nghiệp nhưng năm
2007 là năm mà Xí nghiệp đạt được ít thành công nhất khi tốc độ tăng trưởng chỉ
đạt mức 4,7%, thấp nhất trong mấy năm trở lại đây. Tuy vậy, tới năm 2008 tình
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
15
hình kinh doanh của Xí nghiệp có khả quan hơn mặc dù nền kinh tế thế giới bị
khủng hoảng nghiêm trọng thể hiện qua việc doanh thu tăng thêm 3211triệu đồng
và tốc độ tăng trưởng là 33,68%. Cùng với kết quả kinh doanh khả quan thì Xí
nghiệp hàng năm đóng góp hàng vào Ngân sách nhà nước một khoản đáng kể, góp
phần ổn định đời sống của công nhân viên chức khi thu nhập bình quân đầu người
liên lục tăng lên.
Những kết quả mà Xí nghiệp đạt được trong những năm qua đã giúp Xí
nghiệp khẳng định được chỗ đứng trên thị trường khu vực và trong Công ty. Một
trong các lĩnh vực kinh doanh đem lại hiệu quả cao nhất cho Xí nghiệp chính là hoạt
động sản xuất hàng quân trang, quân phục.
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
16
doanh
thu
5.082
6.443
9.106
9.534
12.745
1.361
26,78 2663 41,33 428 4,7 3211 33,68
Tổng
chi
phí
4.896
6.154
8.309
8.946
11.618
1258 25,69 2155 35,01 637 7,67 3122 36,74
Lợi
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy doanh thu qua các năm đều tăng trong đó
năm 2006 tăng vọt với mức tăng 2663 triệu đồng nhưng đến năm 2007 thì chỉ tăng
ít với mức tăng là 428 triệu đồng. Nguyên nhân có thể là do trong năm đó lượng
tiêu thụ thấp và giá cả không được ổn định. Tuy doanh thu tăng qua các năm nhưng
laị không đều và ổn đinh đó cũng là dấu hiệu không tốt do hoạt động quản lý điều
hành sản xuất đem lại. Để hiểu rõ hơn về bảng kết quả sản xuất kinh doanh của Xí
nghiệp ta xét đến lợi nhuận qua các năm mà Xí nghiệp đạt được: Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
18
Xét lợi nhuận mà Xí nghiệp đạt được qua các năm:
Hình 1.4. Biểu đồ 2: Lợi nhuận của Xí nghiệp từ năm 2004 đến 2008
0
200
400
600
800
1000
1200
2004 2005 2006 2007 2008
lợi nhuận
185
288
797
Có được kết quả như vậy là do:
Tổng doanh thu tăng là do Xí nghiệp đã chủ động tìm kiếm được nhiều hợp
đồng kinh tế.
Chi phí tăng do doanh thu tăng khiến chi phí tăng theo. Mặt khác do giá cả
thị trường có một số chi phí tăng theo như giá nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển,
bốc xếp tăng. Nhưng Xí nghiệp đã tận dụng khai thác tiết kiệm vật tư nên đây là
nguyên nhân khiến doanh thu tăng và lợi nhuận tăng lên so với các năm trước.
55.67
176.74
-26.22
91.49
-50
0
50
100
150
200
05 \04 06\05 07\06 08\07
năm
tăng trư?ng (%)
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
20
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH SẢN XUẤT TẠI XÍ
NGHIỆP MAY 20C – CÔNG TY X20
2.1. Quy trình lệnh sản xuất:
Công ty X20
XN may 1
XN may 3
XN may
Bình Minh
XN may 20BXN may
20C
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
21
Mỗi lệnh sản xuất có mẫu như sau:
TỔNG CỤC HẬU CẦN BM.01.K.03
CÔNG TY X20 01/07/2001
LỆNH SẢN XUẤT
Cấp cho: XN may X20
Kế hoạch: QP bổ sung năm 2008 DT
TT Mặt hàng ĐVT Số lượng
1
-
Tổng
Quần TP chiến sĩ ra quân ĐT
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
22
Vì nguồn hàng này còn chiếm tỷ trọng nhỏ nên Xí nghiệp chưa tập trung cho
khai thác và đầu tư đúng mức cho việc tìm kiếm nguồn thu nhập này. Chủ yếu các
đơn hàng nhỏ này của Xí nghiệp được các đơn vị quen thuộc đặt hàng và qua sự
giới thiệu của các đơn vị khác. Các khách hàng mới và khách hàng truyền thống đến
tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm để xem hàng mẫu và đặt hàng tại đó, sau khi chọn
được mẫu thì cửa hàng giới thiệu sản phẩm lấy số đo và mẫu rồi chuyển về cho
phòng kế hoạch tổng hợp của Xí nghiệp may 20C. Hầu hết các đơn hàng này đều có
số lượng nhỏ do vậy việc sản xuất mang tính chất rời rạc và nhỏ lẻ nên chi phí là
cao. Sau khi nhận được đơn hàng Phòng kế hoạch tổng hợp tiến hành lên kế hoạch
cho việc sản xuất và tính toán chi phí và ngày hoàn thành khối lượng sản phẩm
nhận được.
Chuyên đề tốt nghiệp
Phạm Thị Phượng Công nghiệp A
23
2.2. Thiết kế quy trình sản xuất:
Hình 2.3. Sơ đồ 3: Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm ( Nguồn: Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp xí nghiệp 20C)
Khi nhận lệnh sản xuất từ Công ty giao cho Xí nghiệp thì Xí nghiệp tiến
hành lập kế hoạch, tiến hành so sánh và cân đối các nguồn lực về lao động, máy
móc và trang thiết bị để có thể bố trí và tiến hành sản xuất.
Sau khi có lệnh sản xuất giám đốc Xí nghiệp triển khai tổ chức thực hiện lập
các kế hoạch sản xuất theo lệnh của Công ty giao, đảm bảo năng suất theo định
mức, chất lượng sản phẩm và thời gian giao hàng.
* Công tác quản lý kế hoạch:
cung cấp vật tư đồng bộ, năng lực lao động, thiết bị phù hợp để tổ chức sản xuất có
hiệu quả cao.
Thực hiện nghiêm công tác quản lý lao động, thời gian làm việc. Thu nhập,
tiền lương, mang mặc bảo hộ theo quy định. Nắm chắc lao động theo biên chế, chế
độ theo quy định của nhà nước, Quân đội.
Duy trì quản lý theo hệ thống mẫu biểu đã được Công ty ban hành. Thường
xuyên đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành của các bộ phận về công tác thống kê, báo
cáo kết thực hiện nhiệm vụ theo từng tuần, tháng kịp thời tổng hợp báo cáo ngành
dọc Công ty theo định kỳ.
* Công tác quản lý kỹ thuật- chất lượng: Duy trì thực hiện chế độ kiểm tra
nguyên phụ liệu đầu vào đảm bảo mới đưa vào sản xuất theo quy định của phòng
Kỹ thuật Công ty. Tăng cường công tác kiểm tra kỹ thuật trước, trong và sau sản
xuất, thường xuyên giám sát chất lượng trong quá trình tổ chức sản xuất các đơn
hàng quốc phòng, kinh tế, xuất khẩu.
Nghiên cứu, rà soát, cái tiến quy trình công nghệ để loại bỏ những công nghệ
chưa hợp lý. Thay vào đó là những thao tác công nghệ tiên tiến làm cơ sở cho việc
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm.