LUẬN VĂN:
Phát triển kinh tế xã hội trong những
năm tới ở Việt Nam
Lời mở đầu
Trong thời gian vừa qua ở Việt Nam, cải cách các chính sách kinh tế đã có ảnh hưởng
tích cực tới tăng trưởng và cấu trúc lại nền kinh tế. Sự kết hợp giữa các biện pháp ổn định hoá
kinh tế và các biện pháp tự do hoá, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ Trung ương
đối với các hoạt động kinh tế dựa trên thước đo của thị trường, thực hiện chính sách mở cửa
trong quan hệ kinh tế quốc tế đã tạo nên những chuyển biên rõ nét về tốc độ tăng trưởng kinh
tế và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Cùng với các chính sách cải cách đó, hoạt động của
nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể.
Tuy nhiên, triển vọng phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới ở Việt Nam có lẽ
sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết các vấn đề cơ bản mà nội dung của chúng có liên
quan đến chính sự tiếp tục quá trình cơ cấu lại nền kinh tế. Vấn đề nổi bật trong số đó là xác
định vai trò hợp lý của nhà nước trong nền kinh tế. Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế thị trường, Việt Nam đang mong muốn tìm kiếm cho
mình một nền kinh tế mà trong đó có sử dụng được các tác dụng tích cực và hạn chế những
-Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.
-Tốc độ tăng GDP cao và ổn định.
- Xuất khẩu liên tục tăng.
Tuy nhiên nền kinh tế và phát triển vẫn chưa vững chắc, còn kém hiệu quả và mất
cân đối lớn. tình hình xã hội có mặt chưa lành mạnh và những hiện tượng tiêu cực vẫn còn.
Vai trò kinh tế của nhà nước còn mờ nhạt và kém hiệu quả. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải
tăng cường hơn nữa vai trò kinh tế của nhà nước để đẩy sự nghiệp đổi mới đi lên.
Cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á-Thái Bình Dương đã lan ra toàn cầu và tác động
xấu đến nền kinh tế các khu vực và các quốc gia trên thế giới. Thực trạng đó đã đặt ra cho các
quốc gia những yêu cầu mới trong việc tự xây dựng cho mình một nền kinh tế của Nhà nước. Trong tương lai, chúng ta đang phấn đấu xây dựng một mô hình nền kinh tế đảm bảo
kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội do đó cần thiết và cấp bách phải xây dựng
một hệ thống tác động vào kinh tế của nhà nước để đạt được các mục tiêu đề ra.
Phần nội dung
I. Lịch sử vai trò kinh tế nhà nước .
1. Sự hình thành và phát triển vai trò kinh tế của nhà nước qua từng giai
đoạn lịch sử.
Như chúng ta đã biết nhà nước là một công cụ của giai cấp thống trị được sử
dụng để duy trì trật tự xã hội sao cho phù hợp với lợi ích của nó. Nhà nước ra đời
khi xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp và lợi ích giai cấp. Về mặt lý luận sự ra
đời vai trò kinh tế của nhà nước bởi các nguyên nhân.
+, Do mối quan hệ biện chứng kinh tế và chính trị. Do có sự phân chia giai cấp
nên các giai cấp khác nhau muốn nắm giữ được vị trí thống trị trong xã hội buộc
phải củng cố vai trò của mình trong nền kinh tế. Chính vì vậy mà bất cứ giai cấp nào
nắm vị trí thống trị đều đặt ra nhà nước của mình để củng cố vị trí vai trò trong nền
nhà nước lại mang tính quy luật và là một tất yếu khách quan. Để thấy rõ điều khẳng
định này chúng ta hãy cùng nghiên cứu lịch sử các học thuyết của các trường phái.
Mở đầu là tư tưởng nhà nước không can thiệp vào kinh tế, tất cả mọi hoạt động
của nền kinh tế đều do thị trường quyết định. Tư tưởng này thể hiện rõ nét trong
thuyết bàn tay vô hình của AđamSmith.
Đối ngược lại với luồng tư tưởng này đó là tư tưởng nhà nước can thiệp vào tất
cả các hoạt động của nền kinh tế một cáchính trị sâu rộng cả ở tầm vi mô lẫn tầm vĩ
mô. Tư tưởng này thể hiện trong quan điềm của chủ nghĩa trọng thương và đặc biệt
là quan điềm của nhà kinh tế học người Anh John MerneyKeneys.
-Tư tưởng nhà nước và thị trường cùng điều tiết nền kinh tế làm cho nền kinh tế
hoạt động một cách hoàn hảo. Tư tưởng này thể hiện trong thuyết hai bàn tay của
Samuelson và học thuyết kinh tế chính trị của Mac-Lênin.
Adamsmith là nhà kinh tế học cổ điển người Anh là đại diện tiêu biểu ở thế kỷ
18. Học thuyết bàn tay vô hình và nguyên lý nhà nước không can thiệp vào kinh tế của ông cho rằng việc tổ chức nền kinh tế cần theo nguyên tắc tự do và “dầu nhờn
của lợi ích cá nhân sẽ làm cho các bánh xe kinh tế hoạt động một cách gần như kỳ
diệu”. Mặc dù coi trọng bàn tay vô hình song ông cũng cho rằng đôi khi nhà nước
cũng có nhiệm vụ kinh tế nhất định, đó là trong những trường hợp mà nhiệm vụ
kinh tế vượt ra ngoài khả năng của một doanh nghiệp như làm đường, bến cảng, làm
kênh. . .
Adamsmith chỉ nhìn nhận một số nhiệm vụ kinh tế nhất định của nhà nước chứ
không khẳng định tính quan trọng trong vai trò điều tiết nền kinh tế của nhà nước.
Nênlịch sử đã sớm cho ta thấy được tính thiếu sót trong học thuyết của ông do:
Nền kinh tế thị trường muốn phát triển nhanh đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng
phục vụ cho sản xuất và lối sống hiện đại. Kinh tế càng phát triển xã hội hoá sản
xuất càng mở rộng, thị trường càng phát triển càng cần có sự quyết định của nhà
nước. Tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế đã sớm xuất hiện trong tư tưởng của
trường phái trọng thương. Vai trò kinh tế của nhà nước rất được coi trọng họ cho
Sự phát triển và ra đời của các học thuyết ngày càng phản ánh một cách chính xác hơn
với các quy luật của kinh tế và khẳng định tầm cao của tri thức. Và học thuyết được coi là
hoàn thiện và đầy dủ nhất đó là học thuyết kinh tế chính trị Mác- Lênin.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng nhà nước là chủ sở hữu hợp pháp đối
với toàn bộ của cải xã hội. Phân bổ một cách hợp lý các nguồn lực để phát triển kinh tế. Thực
hiện chức năng kinh tế của mình thông qua các công cụ kế haọch hoá nền kinh tế, các chính
sách kinh tế tài chín, tín dụng các công cụ pháp luật và chính sách hạch toán kinh tế…đi sâu
vào tìm hiểu học thuyết kinh tế chính trị Mác Lênin ta sẽ thấy rõ hơn vai trò của nhà nước
trong nền kinh tế thị trường là rất quan trọng. Vai trò này được thực hiện bởi các chức năng
kinh tế của nó.
+ Một là, đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội và thiết lập khuôn khổ pháp luật để tạo
ra những điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế. Về nhiều mặt chức năng này vượt ra ngoài
lĩnh vực kinh tế đơn thuần. Nhà nước tạo ra hành lang pháp luật cho hoạt động kinh tế bằng
cách đặt ra những điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài và sự hoạt động của thị trường, đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh nghiệp. Khuôn khổ pháp luật mà nhà
nước đặt ra có tác dụng sâu sắc tới các hành vi kinh tế của con người và cả bản thân chính phủ
cũng phải tuân theo.
+ Hai là, điều tiết nền kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển ổn
định. Nền kinh tế thị trường khó tránh khỏi những trấn động gây ra các cuộc khủng hoảng
kinh tế, đều phải trải qua các chu kỳ kinh doanh tức là giao động lên xuống của GNP hay
GDP, kèm theo là giao động về mức độ thất nghiệp lạm phát. Nhà nước cần cố gằng làm dịu
những giao động lên xuống chu kỳ kinh doanh thông qua các chương trình hoá kinh tế, chính
sách tài chính, chính sách tiền tệ. Chẳng hạn chính phủ có thể làm giảm thuế trong cơn suy
thoái với hy vọng tăng chi tiêu của dân chúng, nhờ đó sẽ tăng GDP. Ngân hàng Trung ương là
người kiểm soát chế độ tiền tệ có thể áp dụng các biện pháp “nối lỏng tiền tệ” trong cơn suy
thoái. Khi lạm phát cao ngân hàng Trung ương áp dụng các biện pháp “thắt chặt tiền tệ” nhằm
giảm lạm pháp. Như vậy thông qua chính sách tài chính và tiền tệ nhà nước cố gắng ổn định
nền kinh tế, duy trì nền kinh tế luôn ở trong tình trạng đầy đủ việc làm và lạm phát thấp.
hội. Trong bất cứ một quá trình hoạt động kinh tế nào đều có vai trò chủ quan của con người
điều khiển quá trình kinh tế đó hoạt động theo một cơ chế quản lý kinh tế nhất định, đó là tổng
thể các phương pháp, các hình thức kinh tế, các công cụ kinh tế mà người ta tác độngvào nền
kinh tế để đảm bảo cho nó hoạt động theo một phương hướng nhất định.
Nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa do vậy nền kinh tế thiếu “cốt vật chất” để phát triển, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ
một xuất phát điểm rất thấp lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, cơ cấu hạ tầng vật chất
của toàn bộ xã hội thấp kém, trình độ quản lý cũng như công nghệ còn lạc hậu, phân tán, chủ
yếu là sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ công,manh nặng tính bảo thủ, trì trệ, phân công lao động
chưa hợp lý dẫn đến khả năng cạnh tranh kém hàng hóa sản xuất ra khó tiêu thụ. Bên cạnh các
mối quan hệ kinh tế chưa phát triển, thu nhập cũng như sức mua của người dân còn thấp,nhu
cầu tăng chậm dẫn đến sản xuất đình trệ không có cơ hội tái đầu tư phát triển sản xuất. Trước khi Đảng và n ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế vào năm 1986,
dù thực tế vẫn thừa nhận sản xuất hàng hóa, thừa nhận mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, nhưng
thực chất đó chỉ là kinh tế hàng hóa một thành phần đó là thành phần xã hội chủ nghĩa với tên
gọi “kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa”. Thực chất đây là hình thái kinh tế chỉ huy đã làm cho
các phạm trù kinh tế hàng hóa vốn rất sống động, nhạy cảm như gía trị giá cả, lợi nhuận bị
hình thái hóa đến cao đọ không phản ánh đúng các quy luật của thị trường. Trong thời gian
này, nước ta thực hiện cơ chế quản lý theo mô hình xã hội chủ nghĩa cổ điển, đây là cơ chế
quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp trong Nhà nước chủ yếu quản lý,
điều hành nền kinh tế bằng mẹnh lệnh hành chính, điều bày được thể hiện bằng sự chi tiết hoá
các kế hoạch, nhiệm vụ do trung ương đề ra giao xuống xho các đơn vị cấp dưới thực hiện
bằng một hệ thống chỉ tiêu, pháp lệnh, do vậy cơ chế quản lý này chi phối sự vận động của
kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa, và quy luật phát triển co kế hoạch, cân đối nền kinh tế quốc
dân và biến nền kinh tế thực tế là “kinh tế chỉ huy”. Mục đích hoạt động của các thành viên
tham gia thị trường như các doanh nghiệp, cá nhân, các thành phần kinh tế xã hội khác không
tuân theo quy luật tự nhiên của kinh tế hàng hóa là kinh doanh vì lợi nhuận mà tuân thủ theo
một cách nghiêm ngặt hệ thống chỉ huy từ một trung tâm. Bên cạnh đó có các cơ quan hành
tự do của họ vào các ngành sản xuất kinh doanh
Thứ hai, nhờ có thị trường mà nó có thể thoả mãn được nhu cầu về sản phẩm với số lượng
không hạn chế mà Nhà nước không đáp ứng được kịp thời
Thứ ba, thị trường mềm dẻo hơn cơ quan Nhà nước, có khả năng thích ứng cao hơn khi
điều kiện kinh tế thay đổi.
Chính vì vậy mà thị trường giải quyết được những vấn đề kinh tế cơ bản của xã hội
Khuyết tật: tuy nhiên cơ chế thị trường không phải là hoàn hảo hoàn toàn mà nó cón
có những khuyết tật vốn có của nó ta có thể chỉ ra sau đây một số khuyết tật cơ bản của kinh tế
thị trường: Thứ nhất, mục đích của các doanh nghiệp là đạt được lợi nhuận tối đa trong kinh doanh, do đó
có thể sản xuất hàng hóa với số lượng lớn mà không hề chú ý tới môi trường, vấn đề xã hội.
Và kết quả là họ gây ô nhiễm môi trường và buộc mọi người gánh chịu.
Thứ hai, cơ chế thị trường dù hoạt động tốt đến đâu nếu không có sự can thiệp của Nhà nước
thì sẽ dẫn tới mất bình đẳng và trong xã hội sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao.
Nếu như kinh tế thị trường mà không có sự tham gia quản lý của Nhà nước thì không một
quốc gia nào có thể đạt được sự tự do cạnh tranh, lạm phát thấp công ăn việc làm đầy đủ.
Bởi vậy một nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ không thể tồn tại được và không phát huy được
tính hiệu của nó nếu không có sự can thiệp của Nhà nước.
c. Cơ chế thị trường và sự vận dụng vào Việt Nam.
Hiện nay, nước ta tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước, nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế hàng hóa được điều tiết bởi cơ chế thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đưa đất nước
thoát khỏi khủng hoảng, nghèo đói, kết hợp tăng trưởng kinh tế với việc xây dựng xã hội công
bằng, văn minh. Với su hướng phát triển hiện nay thì cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
cấp đã bộc lộ rõ những yếu kém, đặc biệt là đã vi phạm quy luật khách quan của sản xuất
trong đó quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không
tuân thủ theo “quá trình lịch sử tự nhiên” trong sự phát triển xã hội nói chung và trong nền
kinh tế nói riêng, do vậy nhu cầu cấp bách hiện nay là xoá bỏ từng bước cơ chế quản lý chỉ
mạnh, xã hội công bừng văn minh trong nền kinh tế hàng hóa thì mọi sản phẩm hàng hóa dịch
vụ đều phải được đem bán ra thị trường, thị trường là một hợp phần tất yếu và hữu cơ của toàn
bộ quá trìng sản xuất và lưu thông hàng hóa, nó đựoc gắn liền với từng địa điểm nhất định mà
nơi đó diễn ra hoạt động trao đổi phải mua bán hàng hóa thông qua các công cụ môi giới là
tiền tệ. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa dẫn đến sự phân công lao động xã hội
ngày càng sâu sắc, chuyên môn hóa, hợp tác hóa ngày càng cao và từ đó dẫn đến việc xoá bỏ
tính tự cung tự cấp, bảo thủ trì trệ của nền kinh tế hàng hóa tập trung, chỉ huy. Cơ chế thị trường đã thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất nhnh chóng nằm trong phân
công lao động, chuyên môn hóa sản xuất ngày càng tăng hình thành các mối quan hệ liên hệ
kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và người sản xuất, tạo điều kiện cho
hợp tác lao động ngày càng chặt chẽ. Trong nền kinh tế hàng hóa sự tác động của quy luật gía
trị, quy luật cạnh tranh buộc người sản xuất luôn năng động, nâng cao năng suất lao động, cải
tiến chất lượng mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu xã hội thị hiếu của người tiêu dùng
mà vẫn thu được hiệu quả kinh tế cao nhất. đây là động lực chính thúc đẩy lực lượng sản xuất
gắn sản xuất với thị trường.
Đối với nước ta từ khi mở cửa,tiến hành công cuộc đổi mới, vận hành nền kinh tế theo cơ
chế thị trường đã không tránh khỏi những nhược điểm của cơ chế này. Về mặt sản xuất, vì
mục đích sinh lợi nhuận tối đa, để tồn tại trên thị trường đã dẫn đến việc sử dụng các hình thức
cạnh tranh không lành mạnh như gian lận thương mại, trốn thuế, buôn lậu gây ảnh hưởng
nghiêm trọng cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước gây thất thu ngân sách của Nhà nước,
bên cạnh đó đồng tiền đã làm biến chất nhiều viên chức Nhà nước, số lưọng các vụ tham
nhũng, sử dụng tài sản Nhà nước vào các mục đích cá nhân ngày càng ra tăng (Vụ án nhà máy
dệt Nam Định là một điển hình) ngoài ra các doanh nghiệp vì lợi nhuận đã vi pham các quy
định về bảo vệ môi trường sinh thái, số lượng diện tích rứng bị chặt phá để lấy gỗ mở rộng
diện tích canh tác đã lên tiếng báo động mà hậu quả là gây hậu quả đến sức khoẻ cong người
làm cạn kiệt các nguồn động thực vật…
Để phát huy những ưu điểm hạn chế những nhược điểm trong cơ chế thị trường cần phải
tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, chính vì vậy ở tất cả các nước vận dụng cơ chế thị
cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, việc đổi mới căn bản trong lĩnh vực
tài chính về cả bản chất của tài chính với tư cách là phạm trù kinh tế cũng như hoạt động tài
chính với tư cách là công cụ điều tiết vĩ mô. trong cơ chế cũ, nguồn tài chính chủ yếu dựa vao
nguồn thu từ thuế, khấu hao tài sản cố định và tập trung vào ngân sách Nhà nước, nó được
phân phối dưới hình thức chỉ huy thống nhất của Nhà nước dẫn đến kết quả là toàn bộ hoạt
động này mang tính chất cấp phát không phải hoàn trả và không có mục đích sinh lợi, chuyển
sang cơ chế mới thì nguồn tài chính không chỉ bao gồm gía trị tổng sản phẩm xã hội mà bao gồm cả gía trị tài sản quốc gia. Vì vậy, lĩnh vực tài chính không chỉ bó hẹp trong phạm vi phân
phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân mà còn được mở rộng trong phân phối giá trị
của cải xã hội và tài sản quốc gia. Kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải tự lo liệu các
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình từ vốn đầu vào, tổ chức sử dụng quản lý vốn để kinh
doanh có hiệu quả, đóng góp vào ngân sách Nhà nước do vậy tài chính vừa là phương tiện vừa
là mục đích của các hành vi kinh tế.
Chính sách tiền tệ được xây dựng trên cơ sở khoa học của sự thống nhất biện chứng giữa
sản xuất và lưu thông, chính sách này là sản phẩm chủ quan, nó có tác dụng điều tiết các mối
quan hệ về cung cầu, tiền tệ trong lưu thông từ đó tác động đến lãi suất cho vay, gửi, ổn định
giá cả và kiểm soát lạm phát.
Bên cạch đó Nhà nước còn thực hiện chính sách về phân phối lại thu nhập như chính
sách về tiền lương, chính sách trợ cấp xã hội, bảo hiểm lao động y tế… để đảm bảo công bằng
trong phân phối thu nhập. Ngoài ra Nhà nước còn thành lập các quỹ dự trữ quốc gia đề phòng
thiên tai, địch hoạ hay có sự trợ giúp về giá cho một mặt hàng chiến lược tránh tình trạng biến
động thị trường dẫn đến ảnh hưởng xấu đến tâm lý người tiêu dùng, gây mất ổn định tình hình
chính trị xã hội.
Việc sử dụng đồng bộ, linh hoạt các chính sách kinh tế nêu trên giúp Nhà nước đảm bảo
cho nền kinh tế phát triển cân đối với tốc độ tăng trưởng cao, từng bước hội nhập vào nền kinh
tế thế giới giữ được ổn định về mặt thị trường, kiểm soát được giá cả, lạm phát trong khi đó
vẫn giữ được ổn định về mặt chính trị xã hội, nâng cao toàn diện đời sống của người dân, đảm
bảo sự công bằng văn minh xã hội. Trên thực tế những năm vừa qua nền kinh tế nước ta đã đạt
1. Nội dung của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Với tư cách người lập kế hoạch, Nhà nước tác động một cách trực tiếp vào phương
hướng đầu tư phát triển kinh tế. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thái độ này thể hiện
rất rõ ràng. Kế hoạch đã hoàn toàn thay thế thị trường trong việc phân phối các nguồn lực và
của cải. Kế hoạch là yếu tố quyết định, còn thị trường chỉ là yếu tố bổ sung trong việc phân phối các nguồn lực. Trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do thì kế hoạch lại không có ý
nghĩa ở cấp độ vĩ mô, bởi bàn tay vô hình của thị trường quyết định cơ cấu phân phối các
nguồn lực và của cải.
Sự phân chia vai trò chính và phụ, hay nói chính xác hơn là việc đối lập của kế hoạch
hoá với thị trường nhờ vậy ở các mô hình kinh tế mang tính thái cực đã gây mối hoài nghi về
khả năng thực hiện kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường có sự tác động của nhà nước.
Song kinh nghiệm ở Nhật Bản và Nam Triều Tiên đã cho thấy kế hoạch hoá hướng dẫn có thể
có hiệu quả cao trong định hướng phát triển nền kinh tế, đặc biệt với việc xây dựng và thực thi
chính sách công nghiệp. Vấn đề cốt lõi là kế hoạch hoá của Nhà nước không nhằm đi ngược
các luật chơi của thị trường, mà tạo ra các điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp dự đoán
được các xu hướng biến đổi của thị trường và hành động một cách có lợi nhất trong khuôn khổ
của thể chế thị trường. Trong trường hợp như vậy, kế hoạch hoá cần cho doanh nghiệp và
phần lớn doanh nghiệp tự nguyện tuân theo kế hoạch của Nhà nước.
Kế hoạch hoá của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường có những tác dụng sau đây:
1. Đề ra mục tiêu và những trật tự ưu tiên rõ ràng cho các chính sách
2. 2. Phát hiện ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục, những mối tương quan cần giải
quyết một cách đồng bộ.
3. 3.Định hướng hoạt động cho mọi thành viên trong xã hội, trước hết cho các doanh
nghiệp.
4. Tạo những ràng buộc đối với cơ quan chính phủ trong việc thực hiện các phương
hướng đã được kế hoạch hoá.
Trong thời gian vừa qua ở Việt Nam, mặc dù một chiến lược dài hạn để phát triển
kinh tế xã hội cho thời kỳ để năm 2000 và các kế hoạch mang tính chất hướng dẫn hàng năm
được sd có hiệu quả ở Nhật Bản và các nền kinh tế công nghiệp mới châu á trong thời kỳ công
nghiệp hoá, và đã được nhiều nhà phân tích coi như là một yếu tố quyết định tạo nên sự phát
triển thần kỳ. Trong lĩnh vực xã hội, vai trò điều chỉnh của Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt, có
tác động mạnh đến tính lâu bền cảu tăng trưởng và phát triển dài hạn. vì thế mà việc xác định
vai trò đến đâu của Nhà nước trong phân phối lần đầu và phân phối lại của cải xã hội sẽ chính
là nội dung quyết định cái được gọi là: “Định hướng xã hội chủ nghĩa” (như Nhà nước Việt
Nam mong muốn thực hiện), hay là tính chất “xã hội” của nền kinh tế thị trường (như kiểu
mẫu”nền kinh tế thị trường xã hội” được cổ vũ áp dụng cho các nước đang phát triển )
Chưa nói đến định hướng đó thì vai trò điều chỉnh tối thiểu của hầu hết các Nhà nước
đương đại cũng đã bao trùm một không gian rộng: từ việc tác động tới quan hệ lao động và thị
trường lao động, giới hạn nạn thất nghiệp, phân phối lại thu nhập qua thuế và quỹ phúc lợi, sử
dụng các khoản chi của Chính phủ để phát triển y tế, giáo dục, hỗ trợ những người dễ bị tổn
thương (như phụ nữ và trẻ em, các dân tộc thiểu số, người nghèo), cho đến bảo vệ môi trường.
Trong các lĩnh vực này, cơ chế thị trường không nhất thiết đóng vai trò điều tiết bởi vì một
mặt, đối với việc phát triển nguồn lực con người cần phải đầu tư dài hạn và không thể tính
toán hiệu quả một cách giản đơn như đầu tư sản xuất và thương mại. Mặt khác, những mục
tiêu xã hội mà Nhà nước có chức năng thực hện không thể dựa trên cơ sở của cơ chế thị
trường. Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải có hệ quan điểm rõ ràng trong chính sách tài chính
công cộng và thực hiện nó một cách nhất quán.
Với tư cách người đầu tư kinh doanh, Nhà nước trực tiếp tham gia vào việc kinh
doanh trong một số lĩnh vực. ở Việt Nam hiện còn những ý kiến khác nhau về việc Nhà nước
tham gia kinh doanh của khu vực Nhà nước thấp, nên Nhà nước chỉ đầu tư kinh doanh những
gì mà tư nhân không làm. một ý kiến khác mở rộng h9ơn khu vực hoạt động của các doanh
nghiệp nhà nước sản xuất các hàng hoá và dịch vụ công cộng, đảm bảo phát triển kết cấu hạ
tầng. í kiến thứ 3 cho rằng khu vực nhà nước phải nắm “các đỉnh cao chỉ huy”, phải khai phá
các ngành mới và tạo hiệu quả lan truyền cho kinh tế tư nhân, hơn thế trong một thời gian dài
nữa còn phải tích cực đầu tư vào các ngành tạo thu nhập cao cho ngân sách. Với chức năng
tiêu đã đề ra, thiết lập và duy trì trật tự xã hội mới.
Chức năng thứ tư: chỉ đạo hoạt động kinh tế đối ngoại. Nền kinh tế mở có nhiều mối quan hệ với nền kinh tế thế giới. Nhà nước là đại diện
đương nhiên của xã hội trong các quan hệ kinh tế đối ngoại, cũng như phân quyền cho các bộ
và các doanh nghiệp, hỗ trợ trực tiếp quan hệ vơi thị trường nước ngoài.
3. Những công cụ chủ yếu mà Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô:
Để hoàn thành các chức năng quản lý của mình Nhà nước cần phải có hệ thống các
công cụ quản lý. Đó là vì thực tế trong cưo chế kinh tế kế hoạch hoá Nhà nước ta đã có các
công cụ quản lý nền kinh tế tập trung. Khi chuyển sang mô hình kinh tế thị trường cần phải
xem xét hệ thống công cụ quản lý nào phù hợp với cơ chế mới. Dưới đây là hệ thống công cụ
quản lý của nhà nước:
a. Kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá là công cụ chủ yếu quản lý kinh tế, là hoạt động của Nhà nước nhằm đạt
những mục tiêu đã định. Kế hoạch kinh tế xã hội hay kế hoạch nhà nước là kế hoạch định
hướng, hướng dẫn do nhà nước xây dựng nhằm xác định hướng phát triển và cân đối lớn cho
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kế hoạch trong cơ chế mới không phải là áp đặt mà là định
hướng và thực hiện theo dự án.
b. Hệ thống pháp luật:
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước pháp luật thể hiện vai trò của
nó trên hai phương diện:
Thứ nhất: pháp luật tạo môi trường tự do cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp. Nhờ có
pháp luật mà các doanh nghiệp biết mình không được làm, được làm những gì và làm điều đó trong
khuôn khổ cho phép nào.
Thứ hai: Pháp luật là công cụ cưỡng chế hành vi các doanh nghiệp, bắt buộc họ phải tuân
theo những quy định sao cho không làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội.
c. Hệ thống chính sách và công cụ kinh tế:
Hệ thống các chính sách và công cụ kinh tế giúp nhà nước có thể điều khiển hoạt động
của các doanh nghiệp. Chính sách tài chính quốc gia là công cụ điều tiết có hiệu quả nhất
quả. Hỗu hết các doanh nghiệp nhà nước đều hoạt động thiếu nỗ lực, không hiệu quả, phụ
thuộc vào nhà nước. Trong một số trường hợp kinh tế nhà nước còn vô tình, thậm chí bỏ rơi vị
trí của mình, tiếp tay cho nhữg thành phần tiêu cực.
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý đang ở giai đoạn hình thành nên thường không đồng bộ,
thiếu hụt, ta chưa thực sự tạo ra được môi trờng an toàn và ổn định cho sản xuất kinh doanh.
Các hoạt động tài chính ngân hàng… cong nhiều điều bất hợp lý bởi vậy mà vẫn còn một số
vụ án kinh tế mà đôi khi cơ chế quản lý vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của kinh tế thị
trường. Nói chung Việt nam vẫn đang ở trong thời kỳ khó khăn. Việc phải khôi phục lại tốc độ
tăng trưởng và ổn định việc làm cho nhân dân. Sau những cuộc khủng hoảng khu vực vẫn còn
là thách thức. Kết hợp với bối cảnh hiện nay khi vai trò kinh tế của nhà nước đang được khẳng
định đúng vị trí của nó trong nền kinh tế các nước trên thế giới, việc nghiên cứu và áp dụng
mô hình kinh tế thị trường vận hành theo định hướng XH CN có sự quản lý của nhà nước ta
càng trở nên vô cùng quan trọng mà việc xác định đúng vai trò và sự điều tiết của Nhà nước
nó có tính chất quyết định .