LUẬN VĂN:
Công nghiệp hóa ở Hàn Quốc giai
đoạn 1980-1990 - Một số kinh
nghiệm với Việt Nam
Mở đầu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; bài tiểu luận được
chia thành ba phần:
*Phần I:Tình hình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc trước năm
1980.
*Phần II:Quá trình thực hiện chiến lược CNH hỗn hợp.
*Phần III:Một số kinh nghiệm từ chiến lược công nghiệp hóa
của Hàn Quốc đối với Việt Nam.
Phần I: Tình hình CNH ở Hàn Quốc trước năm 1980:
1. Chiến lược CNH:
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã xuất hiện nhiều mô hình khác nhau về chiến
lược CNH, trong đó rõ nét nhất là các mô hình: Thay thế nhập khẩu (hướng nội); Xuất
khẩu sản phẩm thô và sơ chế; Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (hướng ngoại). Ngoài
ra còn có chiến lược phát triển hỗn hợp mà thực chất là sự kết hợp (trung hòa) của cả hai
hay cả ba loại chiến lược trên.
Xét từ góc độ tăng trưởng kinh tế cơ sở lý luận của các loại chiến lược phát triển
trên đây đều dựa vào sự vận dụng ở các mức độ khác nhau “Quy luật lợi thế so sánh” (Law
of comparative advantage) do David Ricardo (1772-1823)-nhà kinh tế học người Anh đề
xuất năm 1817 trong công trình nghiên cứu nổi tiếng “Những nguyên tắc kinh tế chính trị
và thuế” (Principles of Political Economy and Taxation). Sau đó trong suốt nửa đầu thế kỷ
20, bằng thuyết “Nguồn lực sản xuất vốn có” (Factor Endowments), hai nhà kinh tế học
Thụy Điển: Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã tiếp tục phát triển quy luật này bằng cách giải
thích đầy đủ hơn về nguyên nhân và lợi ích của thương mại quốc tế. Theo quy luật này,
các nước khác nhau đều có các lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh khác nhau về lao
động, tài nguyên, vị trí địa lý và các nguồn lực tự nhiên-xã hội khác.
Trong hai giai đoạn đầu của quá trình CNH (1950-1960 và 1970-1980), Hàn Quốc
đã gặt hái được những thành công to lớn trong việc thực hiện chiến lược CNH hướng về
xuất khẩu (hướng ngoại). Chiến lược này, ngược hẳn với chiến lược thay thế nhập khẩu, đã
thể hiện được sự vận dụng quy luật lợi thế so sánh ở mức độ cao nhất và đặc biệt đề cao
tăng tư 44,7% lên 64,7% cùng thời gian đó. Cơ cấu công nghiệp chế tạo của Hàn Quốc đã
thể hiện rõ sự tiến bộ đáng kể. Phần của khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế giảm
xuống khá nhanh từ 37% GDP năm 1962 xuống còn 25% vào năm 1965.
Hàn Quốc trong giai đoạn này bắt đầu tiến tới một nền kinh tế hiệu suất băng việc
áp dụng ngày càng nhiều các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và trí thức kinh doanh: sử dụng
có hiệu quả các nguồn vốn vật chất (tư bản và tài nguyên) và vốn nhân lực. Điều đó có
nghĩa là tổng hiệu quả đầu ra đã tăng nhiều hơn tổng hiệu quả phần tăng của đầu vào. Nền
kinh tế bắt đầu có tích lũy. Chính yếu tố hiệu suất của nền kinh tế cùng với sự tích lũy đã
góp phần vào tăng trưởng đích thực của nền kinh tế hay còn gọi là tăng trưởng của kỹ
thuật và công nghệ.
2.2.Những hạn chế:
Tuy nhiên, tới nửa sau 1979, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu lộ ra một số dấu hiệu trì
trệ. Ví dụ như năm 1979, lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu quá trình CNH nhanh, XK giảm
4%, tốc độ tăng trưởng giảm 6,5%. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ 1972.
Chính sách phát triển công nghiệp bằng cách đẩy nhanh sự phát triển của các tổ hợp
lớn (conglomerates) làm cho phân phối kinh doanh trong giai cấp tư sản không đều. Các
doanh nghiệp lớn được lợi từ chính sách này nhiều hơn các nhà kinh doanh vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó, do tốc độ lạm phát cao, các công ty và một số chủ hộ có lợi lớn trong
việc đầu cơ một số mặt hàng đặc biệt là bất động sản.
Đi cùng với sự suy giảm về phát triển kinh tế, xã hội bắt đầu có những căng thẳng.
Sự phê phán các chính sách và cách điều hành kinh tế ngày một tăng. Kết cục là chính phủ
Park Chung Hee sụp đổ và bản thân ông ta bị ám sát. Đây có thể coi là hậu quả tất yếu của
những “điểm yếu” trong cơ cấu kinh tế và sự can thiệp quá mức của bộ máy Nhà nước,
độ tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế. Hơn nữa. sự phát triển của các ngàng Công
nghiệp XK lại phụ thuộc quá lớn vào vốn và công nghệ nước ngoài, sự lệ thuộc vào thị
trường quốc tế có thể tăng mỗi khi thị trường quốc tế xảy ra những biến động lớn. Khi thực
hiện chiến lược tăng trưởng hướng về XK, Hàn Quốc có thể thu được những khoản thặng
dư thương mại lớn đối với các thị trường XK nhưng đồng thời lại phải chịu những thâm
thủng khổng lồ kinh niên với những đối tác chính cung cấp công nghệ và vốn.
Như vậy chiến lược CNH của Hàn Quốc trong thập kỷ 80 (hiểu theo nghĩa rộng
cũng chính là chiến lược hiện đại hóa) là một chiến lược phát triển hỗn hợp có sự kết hợp
đồng bộ cả chiến lược phát triển hướng nội và chiến lược phát triển hướng ngoại theo mọi
trình độ từ thấp đến cao, từ tuần tự đến nhảy vọt, trong đó ưu tiên phát triển các ngành
công nghiệp hướng ngoại để tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện
đại, đưa Hàn Quốc gia nhập vào hàng ngũ các nước CN phát triển trên thế giới.
Với chiến lược CNH đúng đắn và phù hợp với tình hình mới này, Hàn Quốc đã
thành công trong quá trình CNH, trở thành một nước CN mới ở Châu á. Trong thập niên
80, kinh tế phương Tây vẫn tăng với tốc độ chậm hơn so với thập niên 70 trong khi đó
kinh tế của Hàn Quốc tuy đã phát triển chậm lại, song vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá
cao là 7,5%/ năm (so với 9,1% trong thập kỷ 70). Những năm 70, Hàn Quốc vẫn còn ở vị
trí 20-30 trong Bảng xếp hạng các nước XK trên thế giới nhưng đến năm 1991, chỉ tính
riêng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan (trong đó Hàn Quốc là
lớn nhất) đã đạt tới vị trí thứ hai trên thế giới (sau Nhật Bản). Đây là một thành tích đáng
kinh ngạc, chứng tỏ được tính đúng đắn của CNH của Hàn Quốc.
Một số chỉ tiêu phát triển CN của Hàn Quốc qua từng thời kỳ:
Giai
đo
ạn
Tăng
14,2
25,7
10,2
34,2
Đi
ện, phân
bón, lọc dầu,
sợi tổng hợp,
PVC.
1967
-
1971
9,7
9,8
20,9
14,2
34,2
S
ợi tổng hợp,
hóa dầu, thiết
21,3
45,3
30,8
Gang thép,
máy móc, thiết
bị CN, điện tử,
tàu biển.
1982
-
1986
7,5
9,8
29,9
45,3
37,0
Máy chính xác,
điện tử, tàu
biển, thông tin.
Nguồn:Bộ Kế Hoạch Kinh Tế Hàn Quốc 1988.
khẩu công nghệ là giảm bớt sự can thiệp của mình vào các hoạt động dưới mọi hình thức.
Đối với loại hình nhập khẩu Licences, so với giai đoạn trước, chính sách của Nhà Nước có
nhiều thay đổi. Giai đoạn đầu từ 1962-1978, Nhà Nước đặt ra nhiều chuẩn mực, quy chế
để hướng dẫn và giám sát nghiêm ngặt nội dung của việc đưa kỹ thuật nước ngoài vào sử
dụng. Ví dụ, trước đây các công ty chỉ có thể đưa kỹ thuật, công nghệ vào với điều kiện
chi phí cho kỹ thuật thường xuyên dưới 3% tổng giá trị bán ra, chi phí cho mỗi trường hợp
phải dưới 10.000 USD và mọi đồ án đều phải xin phép chính phủ. Do thiếu ngoại tệ, Nhà
nước chỉ cho phép nhập khẩu kỹ thuật thật cần thiết mà trong nước không có. Tuy nhiên từ
tháng 4-1978, đặc biệt là từ những năm 80, việc nhập kỹ thuật được tự do hóa. Việc tự do
hóa này được chia làm nhiều giai đoạn, cứ một đến hai năm lại được mở rộng thêm. Từ
tháng 7-1984 trở đi, các xí nghiệp muốn nhập kỹ thuật chỉ phải gửi đồ án tới Bộ Tài Chính,
trong vòng 20 ngày nếu không có ý kiến phản đối thì xí nghiệp đó có thể tự động nhập kỹ
thuật nói trên. Cùng với quá trình tự do nhập khẩu Licences, chính phủ Hàn Quốc tự do
hóa đầu tư trực tiếp để tăng nhập khẩu công nghệ (cả vốn lẫn kỹ thuật). Từ tháng 9-1980
chính phủ bỏ bớt hạn chế đối với đầu tư trực tiếp, nới lỏng hạn chế về tỷ lệ tư bản nước
ngoài đối với các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, mở rộng diện các ngành cho phép đầu
tư, giảm bớt mức quy định đầu tư thấp nhất. Mục tiêu chủ yếu của những điều chỉnh này là
nhập được những kỹ thuật cao từ nước ngoài. Tới tháng 7-1984, luật về đầu tư trực tiếp
của tư bản nước ngoài lại được sửa đổi và tự do hóa thêm một bước nữa. Từ tháng 4-1987,
Nhà nước đã thay việc công bố các ngành được đầu tư (Positive List) bằng việc đăng danh
sách số ngành không được đầu tư (Negative List) để mở rộng giới hạn đầu tư.
Bảng so sánh tự do hóa nhập khẩu kỹ thuật của Hàn Quốc từ cuối thập kỷ 70 đến
giữa thập kỷ 80 N
ộng:
*Tiền thanh toán dưới 50 vạn USD.
*Chi phí cho kỹ thuật dưới 10%.
*Thời hạn hợp đồng 10 năm.
Giai đo
ạn 3
(7-1980)
Đi
ều kiện cho phép tự
đ
ộng:
*Chi phí kỹ thuật thường xuyên dưới 20
%.
*Thời hạn hợp đồng 10 năm.
T
ất cả các ngành.
Giai đo
ạn 4
(9-1982)
Khi
ủy ban xét duyệt
đ
ầu t
ư nư
ớc ngoài
quyết định về các điều khoản cá biệt
bị toàn bộ có sử dụng robot và kỹ thuật vi điện tử cũng tăng. Năm 1988, Hàn Quốc đã
nhập tới 36 xí nghiệp loại này, nhiều gấp 3 lần so với năm trước. Đồng thời với các biện
pháp nhập khẩu kỹ thuật, Nhà Nước còn triển khai nhiều biện pháp để hấp thụ kỹ thuật
công nghệ, đặc biệt là xây dựng nhiều viện kỹ thuật chuyên ngành để thông tin đầy đủ cho
các công ty tư nhân lựa chọn và mở rộng hệ thống giáo dục đào tạo sau đại học để sử dụng
tốt kỹ thuật tiên tiến.
Thứ hai, nhằm giải quyết những vấn đề công nghệ cao Hàn Quốc mở rộng nghiên
cứu để tự túc các công nghệ hiện đại, giảm bớt khoảng cách về trình độ công nghệ với các
nước tiên tiến. Bắt đầu vào giai đoạn này, Nhà Nước đã đưa ra một chương trình nghiên
cứu khoa học dài hạn. Các mục tiêu nghiên cứu chủ yếu cho tới năm 2000 là làm chủ kỹ
thuật vi điện tử, kỹ thuật thông tin, hóa chất. Ngoài ra , chương trình còn nghiên cứu áp
dụng các loại vật liệu mới và chế phẩm sinh học, mở rộng nghiên cứu biển, khoảng không
vũ trụ, sinh thái và bảo vệ sức khỏe. Đi đôi với việc kế hoạch hóa nghiên cứu, Nhà Nước
vào năm 1981 đã quyết định sáp nhập 16 viện có quy mô nhỏ do các tổ chức khác nhau
của chính phủ tài trợ thành 9 viện lớn đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ khoa học công
nghệ, Viện khoa học công nghệ cao cấp của Hàn Quốc (Korea Advanced Institute of
Science and Technology: KAIST) là viện đứng đầu với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển
các dự án quốc gia. Ngoài việc lập các viện trực thuộc, Nhà Nước còn khuyến khích thành
lập các Viện nghiên cứu và phát triển các công ty tư nhân thông qua thuế khuyến khích và
giúp đỡ về tài chính. Tới 1985, 183 Viện nghiên cứu tư nhân đã được thành lập. Để có đội
ngũ cán bộ phù hợp với nhiệm vụ nặng nề mới-nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển (khác
với nhiệm vụ ứng dụng và địa phương hóa kỹ thuật nhập khẩu), Nhà nước còn đặc biệt chú
ý phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu. Nhiệm vụ này đặt lên vai Viện khoa học cao cấp
Hàn Quốc. Viện này được thành lập từ 1972. Viện được trang bị các phương tiện hiện đại
và chế độ trả lương cao để lôi cuốn các nhà bác học và kỹ sư tài năng nhất của Hàn Quốc ở
nước ngoài về góp sức giải quyết vấn đề này.
2.2. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành CN kỹ thuật cao:
Tất cả những nguyên nhân trên mang tính phổ biến và vượt khả năng giải quyết của
từng công ty, bởi vậy Nhà Nước phải đứng ra gánh vác. Để có chính sách ngoại giao làm
tốt chức năng hỗ trợ các vấn đề kinh tế nói chung và vấn đề thị trường cho các sản phẩm
kỹ thuật cao nói riêng, Hàn Quốc đã thay đổi hoặc bổ sung các quan niệm mới cho chính
sách ngoại giao kể từ nửa sau thập kỷ 80. Đối với các nước XHCN và Bắc Triều Tiên, Hàn
Quốc chủ chương chuyển từ đối đầu sang đối thoại trên cơ sở cùng tồn tại hòa bình và hợp
tác cùng có lợi. Bên cạnh đó, Hàn Quốc còn đẩy nhanh việc bình thường hóa quan hệ với
tất cả các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, mở rộng tới mức có thể quan hệ
với các nước XHCN, tăng cường quan hệ với các nước đang phát triển. Có thể nói, đây là
một bước đi tiến bộ của chính phủ Hàn Quốc, nhất là trong thời kỳ hàng rào ngăn cách
giữa hai hệ thống kinh tế XHCN và TBCN còn lớn. Sau khi thực hiện chính sách đa dạng
hóa quan hệ, Hàn Quốc đã mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm CN của mình. Tới
1990, Hàn Quốc đã được nhiều nước XHCN, kể cả Liên Xô công nhận và thiết lập quan hệ
ngoại giao, quan hệ kinh tế trong một thời gian ngắn đã đạt được những tiến bộ vượt bậc.
Hàn Quốc không những mở rộng nhanh buôn bán mà còn mở rộng cả về đầu tư vào hầu
hết các nước XHCN cũ.
2.3. Khắc phục tình trạng tụt hậu của CN vừa và nhỏ:
Trong hai giai đoạn đầu của quá trình CNH, Hàn Quốc chịu ảnh hưởng nhiều về
phương pháp tổ chức quy mô xí nghiệp của Nhật Bản. Đó là sự hình thahf và duy trì các tổ
chức độc quyền hay còn gọi là các “chaebol”. Các chaebol của Hàn Quốc không chỉ là các
công ty có quy mô lớn, kiểm soát nhiều ngành kinh tế then chốt của Hàn Quốc, có tầm
hoạt động khắp thế giới mà còn làm chức năng phân phối, tái sử dụng năng lực sản xuất
đối với hệ thống các xí nghiệp nhỏ và vừa trong nước. Vì thế, nền kinh tế của Hàn Quốc
dược coi là “nền kinh tế của các công ty lớn”.Có thể kể đến các công ty như SAMSUNG,
vừa và nhỏ (SMIPE) đảm nhiệm. Thông tin kỹ thuật do Viện kinh tế công nghệ (KIET)
đảm nhiệm. Cả hai tổ chức này gánh vác việc giữ các doanh nghiệp CN vừa và nhỏ bắt
kịp với tiến bộ kỹ thuật mới và phát triển tiềm năng của họ.
@Thứ tư, Nhà Nước đẩy mạnh sự hợp tác giữa các doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh
nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất phụ kiện, các bộ phận chi
tiết. Chính phủ khuyến khích các công ty lớn ký hợp đồng dài hạn với các công ty nhỏ
đang nhận được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật và quản lý để cung cấp phụ kiện chi tiết
có chất lượng cao. Chính phủ tin tưởng rằng cách thiết lập mối quan hệ như vậy sẽ làm
tăng nhanh hiệu quả của toàn ngành CN. Thêm nữa, những lĩnh vực sản xuất nhất định
giành cho kinh doanh nhỏ cũng được đặt trên cơ sở hiệu quả và ưu thế so sánh.
@Thứ năm, Nhà Nước khuyến khích các đơn vị công nghiệp nhỏ tư nhân xây dựng các
hội hợp tác. Các hội hợp tác này sẽ đảm bảo cho các thành viên các loại dịch vụ khác
nhau, kể cả marketing, mua bán và trong một số trường hợp cả dịch vụ tiến hành các
chương trình nghiên cứu và phát triển. Nhà nước giành tài trợ cho các Hiệp hội này. Nhà
nước còn ủng hộ những cố gắng kinh doanh tập thể của các hội bằng cách trao một phần
quan trọng hợp đồng cung cấp cho các hội kinh doanh nhỏ.
@Thứ sáu, nhiều biện pháp giúp đỡ khác cũng được bổ sung để đảm bảo phát triển cân
đối giữa thành thị và nông thôn. Nhà nước còn định rõ các loại hình CN ở nông thôn và
các công ty tham gia vào các loại hình CN này sẽ nhận được các hình thức giúp đỡ khác
nhau.
Để đưa các chính sách vào đời sống dễ dàng hơn, Nhà nước còn cụ thể hóa chúng
bằng cách công bố các Đạo luật sau:
khẩu mà thực chất là việc bảo hộ ở mức cao các ngành CN trong nước bằng các hàng rào
thuế quan và phi thuế quan; đồng thời trợ cấp cho các ngành CN này với hy vọng phát
triển chúng để thay thế cho hàng NK. Tuy nhiên chiến lược này đã tỏ ra không thích hợp
vì nó đã không tận dụng được những lợi thế so sánh của đất nước mà còn tạo ra sự ỷ lại
của các công ty và xí nghiệp vào sự trợ cấp của Nhà Nước. Chính phủ Hàn Quốc đã sớm
nhận thức được điều này và đã chuyển dần từ chính sách thay thế NK sang chính sách tự
do hóa mậu dịch nhằm tạo động lực mới cho quá trình CNH.
Về ngoại thương, trong giai đoạn 1980-1990, chính phủ Hàn Quốc đã đề ra hai hoạt
động cụ thể và rất có hiệu quả là tổ chức những “Hội nghị đẩy mạnh XK” được tổ chức
hàng tháng và “ngày XK” được tổ chức mỗi năm một lần. Những hội nghị hàng tháng để
đẩy mạnh XK có sự tham gia của các Bộ trưởng kinh tế, đại diện của ngành CN và thương
mại. Chính phủ cũng đồng thời thành lập “Tổ chức xúc tiến thương mại Hàn Quốc”
(Korean Trade Promotion Corporation) vào năm 1984 và cho phép Hiệp hội các nhà
thương mại Hàn Quốc thu lệ phí 1% của tổng giá trị xuất khẩu để sử dụng vào các mục
tiêu đẩy mạnh XK hơn nữa. Chính sách tự do hóa mậu dịch đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các ngành CN của Hàn Quốc nhập khẩu nguyên nhiên liệu, công nghệ về để sản xuất cũng
như XK các sản phẩm công nghiệp ra thị trường thế giới.
Tài chính là một khâu quan trọng trong huy động vốn cho quá trình CNH. Chính vì
vậy, ngành tài chính luôn được đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ. Hệ thống tài chính
gồm 3 bộ phận quan trọng là ngân hàng TW, các ngân hàng thương mại và chuyên doanh,
các tổ chức tài chính phi ngân hàng như đầu tư, tiết kiệm, bảo hiểm Tất cả đều chịu sự
quản lý và kiểm soát chặt chẽ của chính phủ. Chính sách thắt chặt tín dụng và lãi suất thấp
của chính phủ trong một thời gian dài đã phát huy được tác dụng phát triển, kích thích và
nâng cao tính hiệu quả của các ngành CN trọng điểm trên thị trường trong nước và thế
giới. Tuy nhiên, chính sách này chỉ có tác dụng trong thập kỷ 80, còn sang thập kỷ 90
chính sách này không còn phù hợp và đã đẩy nền kinh tế lâm vào một cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ nghiêm trọng.
5,7% và toàn ngành CN điện tử cũng theo bước chân của nhóm hàng này, suy giảm trong
XK đạt tới 4,8%. Sự suy giảm của XK hàng điện tử vào giai đoạn này là do chúng bị giảm
bớt sức cạnh tranh trên thị trường thế giới bởi tiền lương và giá đồng won vào thời kỳ này
tăng. Tiền lương tăng nhanh là do các tổ chức công đoàn ngày một mạnh hơn và gây sức
ép buộc giới chủ phải tăng lương của công nhân Hàn Quốc trở thành cao nhất so với các
nước NICs Đông á. Còn đồng won tăng là do sức ép của Mỹ nhằm giakm thâm hụt buôn
bán của Mỹ ở nước này. Tuy nhiên, tiền lương và giá đồng won tăng là biểu hiện trực tiếp
làm giảm sức mạnh cạnh tranh của hàng hóa Hàn Quốc, song nguyên nhân sâu xa hơn theo
các nhà phân tích Hàn Quốc là do công nghiệp kiểu lắp ráp phu thuộc nặng vào công nghệ
của nước ngoài nhất là Nhật Bản và Mỹ, không đủ mạnh để chịu sự gia tăng dù là rất nhỏ
của chi phí sản xuất. Chi phí cho lao động trung bình chỉ chiếm trên 8% chi phí cho sản
xuất sản phẩm điện tử. Nếu tăng lương lên, thậm chí tới 20% thì giá thành của sản phẩm
cũng chỉ tăng 1,6%. Mặc dù chi phí cho lao động tới mức tối đa cũng chỉ làm giá thành sản
phẩm tăng không nhiều như trên, song các nhà XK vẫn không chịu đựng được vì còn phụ
thuộc không ít vào kỹ thuật cao và tư bản của nước ngoài. Do phải trả lãi suất và tiền sử
dụng công nghệ nên các công ty không có khả năng giảm giá thành hoặc giữ giá thành cho
sản phẩm của mình để duy trì khả năng trên thị trường thế giới.Ví dụ như vào năm 1989,
mặc dù Hàn Quốc đứng hàng thứ năm trên thị trường thế giới về XK máy tính cá nhân với
2 triệu chiếc, song thực ra là chỉ có vỏ là sản xuất tại Hàn Quốc còn các bộ phận chủ yếu
như hệ thống đầu vào và đầu ra cơ bản (BIOS), bộ vi xử lý (Micro-processor), thiết bị
chuyển dữ kiện từ đĩa vào bộ nhớ, bàn phím và chip sets đều nhập từ nước ngoài và chiếm
một nửa giá thành. Ngoài ra, số tiền phải trả cho các công ty nước ngoài để sử dụng công
nghệ của họ cũng chiếm một phần đáng kể.
Ngay cả phần sản xuất trong nước thì phần của tư bản nước ngoài đặc biệt là các
công ty Nhật cũng rất lớn. Theo số liệu của Viện kinh tế và công nghệ Hàn Quốc tới cuối
năm 1988, tổng số đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào ngành điện tử là 97,5 tỷ USD. số
đầu tư này (kể cả toàn phần lẫn kinh doanh) tạo ra 51,3% tổng bô phận các linh kiện điện
-
127
-
120
Đi
ện tử công
nghiệp
-
88
-
325
-
525
-
313Các linh ki
ện
điện tử
-
256
-
652
3.2. Khủng hoảng mô hình phân phối thu nhập :
Kể từ đầu những năm 60 cho tới thập kỷ 80, từ đời tổng thông Park Chung Hee đến
tổng thống Roh Tae Woo, để đảm bảo khả năng cạnh tranh cao trong xuất khẩu nhăm tăng
trưởng nhanh trong quá trình CNH, các chính phủ Hàn Quốc đã dùng nhiều chính sách chi
phối thị trường lao động, duy trì cho giá lao động thấp. Hạn chế dân chủ và sự tồn tại của
các chính phủ quân sự là những điều kiện không thể thiếu được để duy trì và triển khai có
hiệu quả những chính sách này trong thực tế. Chính sách này một mặt tạo thành công liên
tục cho các công ty Hàn Quốc trong lĩnh vực xuất khẩu, song mặt khác làm ảnh hưởng tới
phần lớn người dân đặc biệt là giai cấp công nhân. Chính sách kiềm chế giá lao động cộng
với các chính sách tạo thuận lợi cho các Chaebol không những đã tạo cho các Chaebol tích
lũy tư bản nhanh chóng trở thành những công ty có tầm cỡ trên thế giới mà còn tạo cho đời
sống của tầng lớp này cùng gia đình của họ mộ cuộc sống xa hoa xa cách với tầng lớp
nhân dân lao động.
Như vậy, thành quả của quá trình phát triển kinh tế nhanh chủ yếu rơi vào tầng lớp
Chaebol , ít rơi vào những người lao động bình thường. Nghịch cảnh này không những
làm cho người lao động không quan tâm tới sức cạnh tranh của hàng hóa Hàn Quốc trên
thị trường thế giới mà còn làm họ phẫn uất và tăng tinh thần chống đối các Chaebol. Vấn
đề ưu tiên hàng đầu của họ vào thời kỳ này là điều chỉnh lại thu nhập. Những bước đi của
quá trình dân chủ hóa muôn mằn cũng bắt đầu từ đây. Xã hội Hàn Quốc vào thời kỳ này
thực sự rơi vào tình trạng khủng hoảng của phương pháp phân phối thu nhập của chiến
lược phát triển cũ.
3.3. Sự suy thoái môi trường sinh thái:
Để đẩy nhanh quá trình CNH, trong một thời gian dài, các chính phủ Hàn Quốc đã
khai thác quá mức hoặc làm phương hại tới môi trường sống của mình. Với chiến lược mở (Triệu USD)
Nguồn : Major Statistical of Korean Economy.National Statistical Office, Korea 1991.
Nợ nước ngoài của Hàn Quốc cũng thường đi kèm với lạm phát và thâm hụt cán
cân thanh toán. Thâm hụt cán cân thanh toán của Hàn Quốc kéo dài đến năm 1985 do việc
cho phép nhập khẩu ồ ạt nguyên liệu thô, bán thành phẩm và máy móc cho việc sản xuất
hàng xuất khẩu làm cho cán cân thương mại luôn bị thâm thủng. Đó chính là hậu quả của
chính sách “thay thế nhập khẩu thụ động”. Mặc dù vậy, nhưng từ 1986, cán cân thanh toán
quốc tế của Hàn Quốc đã trở nên dư thừa và tình trạng thâm hụt đã được khắc phục. Công
nghiệp hóa ở Hàn Quốc cũng kéo theo sự biến động lớn của lạm phát. Đến đầu thập kỷ 80,
Hàn Quốc luôn có tỷ lệ lạm phát cao nhất so với các NICs Châu á khác. Tuy nhiên, mức
lạm phát cao này được chính phủ Hàn Quốc chấp nhận hay còn gọi là “chính sách hy sinh”
để rút ngắn tới mức tối đa quá trình CNH, nhanh chong đưa Hàn Quốc gia nhập vào hàng
ngũ các nước có nền CN phát triển trên thế giới.
Phần III: Một số kinh nghiệm từ chiến lược CNH của Hàn Quốc đối với Việt Nam.
0
10000
20000
30000
40000
50000
1975 1980 1985 1988
1. Hàn Quốc-Việt Nam một số nét tương đồng:
nó đã chuyển sang các ngành công nghiệp cần nhiều vốn như kim khí, máy móc, điện và
điện tử.
Khi thủ tướng Võ Văn Kiệt đến thăm Cộng Hòa Hàn Quốc vào tháng năm năm
1993, Hàn Quốc đã quyết định đóng góp 50 triệu USD từ qũy hợp tác phát triển kinh tế và
hiện nay đang xây dựng những phương tiện cung cấp nước ở vùng kinh tế Thiên Tân
(Đồng Nai) và tiến hành sữa chữa quốc lộ 18 Bắc Hà Nội. Và khi Tổng Thống Hàn Quốc
Kim Young Sam viếng thăm Việt Nam tháng 11-1996, Hàn Quốc quyết định đóng góp
thêm 50 triệu USD từ Qũy Hợp Tác Phát Triển Kinh Tế (EDCF) để xây dựng một nhà máy
nhiệt điện ở Bà Rịa-Việt Nam. Hơn nữa Hàn Quốc cũng mới nhận 362 thực tập sinh
ngành công nghiệp sang Hàn Quốc và gửi 19 chuyên gia sang để huấn luyện công nhân
Việt Nam giai đoạn 1998-1999. Có thể nói quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc từ khi bình
thường hóa đến nay đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trên mọi mặt, phù hợp với xu thế
hòa bình hợp tác trên thế giới và nguyện vọng của nhân dân hai nước.
2. Một số kinh nghiệm với Việt Nam:
Giai đoạn 1980-1990 có thể coi là “giai đoạn cất cánh lần thứ hai” của nền công
nghiệp Hàn Quốc nói riêng và nền kinh tế Hàn Quốc nói chung. Vậy điều gì đã quyết định
sự phát triển nhanh chóng đó của Hàn Quốc? Hàn Quốc đã vươn lên một cách hết sức
ngoạn mục từ đống đổ nát sau chiến tranh như thế nào trong hơn một phần tư thế kỷ qua?
Điều gì là chìa khóa cho công cuộc công nghiệp hóa của Hàn Quốc? Việc nghiên cứu một
đối tác quan trọng như Hàn Quốc-đất nước có nhiều nét tương đồng và là một đối tác quan
trọng của Việt Nam để rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình CNH là rất có ý nghiã.
2.1.Liên tục nâng cấp cơ cấu công nghiệp theo các ngành có lợi thế so sánh hoặc có cơ
hội phát triển:
Để thời gian CNH được rút ngắn một cách kỷ lục so với các quốc gia công nghiệp
với điều kiện của Hàn Quốc, đồng thời thể hiện quá trình phát triển từ thấp đến cao hết sức
hợp lý: 10 năm xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp nhẹ và các ngành sử dụng nhiều nhân
công; 10 năm xây dựng công nghiệp nặngvà hóa chất;10 năm công nghiệp hóa có hàm
lượng kỹ thuật cao. Đồng thời xuyên suốt quá trình đó là mục tiêu xuất khẩu dược đặt ra
với yêu cầu thực hiện hết sức nghiêm ngặt. Xuất khẩu của Hàn Quốc thực sự là hướng