Bài Luận
Đ ề Tài:
Hoạt động phát hành niêm yết của cổ
của các công ty cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay
1
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, ở Việt Nam đang sôi động một loại thị trường, đó chính là thị
trường chứng khoán. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường tại Việt
Nam, xu thế toàn cầu hóa kinh tế và nhiều làn sóng kinh doanh mới đã và đang ùa
vào nước ta. Nhu cầu tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh đã buộc
các doanh nghiệp phải minh bạch hóa cơ chế quản lý, mở rộng nguồn vốn kinh
doanh. Chính vì lẽ đó, các công ty cổ phần ra đời và ngày càng thể hiện bước đi
đúng đắn của mình khi đưa cổ phiếu của công ty đến với công chúng, gắn liền lợi
ích của công ty với các cổ đông. Qua đó, chúng ta thấy vai trò của việc thị trường
chứng khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng đến sự phát triển của đất
nước. Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng đã không còn chỉ là việc của doanh
nghiệp mà là của tất cả những ai quan tâm đến thị trường chứng khoán. Các công
ty càng có uy tín trong kinh doanh thì sự chú ý của các nhà đầu tư vào đợt phát
hành cổ phiếu của chúng càng lớn. Cũng chính vì nhìn vào các hoạt động phát
hành và niêm yết cổ phiếu chúng ta thấy được kết quả hoạt động của công ty. Như
vậy, hoạt động phát hành và niêm yết cổ phiếu ra công chúng là một bước tiến rất
quan trọng, nó đánh dấu một thời kì phát triển của công ty. Tuy đã hình thành ở
nước ta trong một thời gian nhưng nghiệp vụ phát hành chứng khoán ở Việt Nam
vẫn còn khá non yếu nếu đem so với thế giới. Có nhiều câu hỏi đặt ra là: hiện nay
các doanh nghiệp đã sử dụng các phương pháp và các điều kiện nào để phát hành
và niêm yết cổ phiếu? Thực trạng phát hành cổ phiếu của nước ta trong những
năm nay có gì đặc biệt, cũng như những giải pháp cho vấn đề này trong giai đoạn
hiện nay? Đó là những nội dung chính sẽ được đề cập trong bài thuyết trình:
“Hoạt động phát hành niêm yết của cổ phiếu của các công ty cổ phần trên thị
trường chứng khoán Việt Nam hiện nay”
2
tượng nội bộ như công ty cổ phần nội bộ. Phần lớn công ty cổ phần mới thành lập
đã bắt đầu như những công ty cổ phần nội bộ. Đến khi công ty đã phát triển, tiếng
tăm đã lan rộng, hội đủ điều kiện họ có thể phát hành cổ phiếu rông rãi ra công
chúng, trở thành một công ty cổ phần đại chúng.
Khi một công ty cổ phần lần đầu tiên phát hành cổ phiếu rộng rãi trong công
chúng, người ta gọi công ty đó “trở thành công cộng” (go public). Và đợt phát
hành đó được gọi là đợt phát hành đầu tiên cho công chúng (Initial Public Offering
– IPO).
Theo quy định của Luật chứng khoán Việt Nam, công ty đại chúng là công ty cổ
phần thuộc một trong ba loại hình sau đây:
- Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng.
- Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tân
giao dịch chứng khoán.
- Công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư
chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng trở lên.
Công ty cổ phần niêm yết (Listed Company)
Các công ty cổ phần đại chúng tiếp tục con đường phấn đấu của mình để có đủ
điều kiện để có thể niêm yết tai Sở giao dịch chứng khoán sẽ trở thành công ty
niêm yết. Hàng hóa chứng khoán của họ sẽ được giao dịch trên các thị trường
chứng khoán tập trung, họ trở thành những công ty cổ phần hàng đầu của quốc gia,
có uy tín, tiếng tăm và được hưởng những điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và huy động vốn.
4
1.1 Một số khái niệm cơ bản:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào
các công ty cổ phần. Việc phát hành và niêm yết cổ phiếu cũng được hiểu là phát
hành và niêm yết chứng khoán.
1.1.1 Phát hành chứng khoán
Phát hành chứng khoán chính là việc chào bán chứng khoán để huy động vốn.
Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của tổ chức lần đầu tiên
- Điều kiện về phương án sử dụng vốn: công ty phải có phương án khả thi về việc
sử dụng nguồn vốn thu được từ đợt phát hành, được đại cổ đông thông qua.
- Điều kiện về đội ngũ quản lý công ty: thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám
đốc điều hành phải có đủ năng lực trình độvà kinh nghiệm quản lý các hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty.
- Điều kiện về phạm vi phát hành:
+ Đảm bảo tỷ lệ phần trăm tối thiểu về vốn cổ phần công ty nắm giữ và số lượng
công chúng nắm giữ. Ở Việt Nam, tối thiểu 20% và trên 50 người đầu tư ngoài
công ty phát hành. Trường hợp vốn cổ phần của công ty phát hành từ 100 tỷ đồng
trở lên thì tỷ lệ tối thiểu là 15%.
+ Đảm bảo tỷ lệ phần trăm về vốn cổ phần cổ đông nắm giữ. Ở Việt Nam, cổ
đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của công ty phát hành vào
thời điểm kết thúc đợt phát hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ
hành kết thúc đợt phát hành
- Điều kiện về bảo lãnh phát hành: ở Việt Nam quy định trường hợp cổ phiếu phát
hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh
phát hành.
6
- Điều kiện phát hành cổ phiếu mới: Trong quá trình kinh doanh công ty có nhu
cầu bành trướng quy mô sản xuất hay đầu tư thêm máy móc, thiết bị, hiện đại hóa
công nghệ thì có thể tăng vốn điều lệ của công ty mình lên bằng cách phát hành cổ
phiếu mới. Công ty cổ phần chỉ được cấp giấy phép phát hành cổ phiếu mới trong
các điều kiện sau:
+ Đã thu hết tiền cổ phiếu trong đợt trước.
+ Chứng minh được hoạt động của công ty đang quản lý tốt và có hiệu quả.
+ Được ngân hàng đảm nhiệm giúp đỡ dịch vụ ngân quỹ và kế toán liên quan tới
việc phát hành cổ phiếu.
+ Có chương trình và kế hoạch cụ thể công khai gọi vốn trong công chúng.
+ Giấy phép phát hành cổ phiếu mới phải quy định rõ số vốn gọi thêm, số cổ
phiếu được phát hành, thời gian thực hiện việc gọi thêm vốn.
tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ.
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ.
2.2 Thủ tục để các công ty cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu
Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:
+ Luật Chứng khoán số 70/QH11 ngày 29/6/2006; có hiệu lực ngày
01/01/2007.
+ Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Chứng khoán; có hiệu lực ngày 08/02/2007.
+ Quyết định 13/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính Ban hành mẫu Bản cáo bạch trong Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra
công chúng và Hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở GDCK, Trung tâm
GDCK; có hiệu lực ngày 12/8/2007.
8
+ Thông tư 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 hướng dẫn về việc công bố
thông tin trên thị trường chứng khoán; hiệu lực ngày 13/8/2007.
+ Quyết định số 168/QĐ-SGDHCM ngày 7/12/2007 của Tổng Giám đốc
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy chế niêm yết
chứng khoán tại Sở GDCK Tp HCM; hiệu lực ngày 07/12/2007.
+ Quyết định số 420 /QĐ-TTGDHN ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Giám
đốc Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Về việc ban hành Quy chế niêm
yết chứng khoán tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội; hiệu lực ngày
31/12/2007.
Công ty cổ phần đăng ký niêm yết chứng khoán phải nộp hồ sơ đăng ký niêm
yết cho Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Giao dịch chứng khoán
Trong thời gian Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng
khoán xem xét hồ sơ đăng ký niêm yết, thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm
soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế
toán trưởng và cổ đông lớn của tổ chức đăng ký niêm yết không được chuyển
nhượng cổ phần do mình nắm giữ.
Trường hợp phát hiện hồ sơ đã nộp cho Sở Giao dịch chứng khoán, Trung
báo cáo tài chính.
+ Cam kết của cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát,
Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế
toán trưởng nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể
từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo (đối với
niêm yết cổ phiếu).
10
+ Cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức đăng ký niêm yết đối với người
đầu tư, bao gồm các điều kiện thanh toán, tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và các điều
kiện khác.
+ Cam kết bảo lãnh thanh toán hoặc Biên bản xác định giá trị tài sản bảo
đảm, kèm tài liệu hợp lệ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp và hợp đồng bảo
hiểm (nếu có).
+ Hợp đồng tư vấn niêm yết (nếu có).
+ Giấy chứng nhận của Trung tâm lưu ký chứng khoán về việc cổ phiếu của
tổ chức đó đã đăng ký lưu ký tập trung.
+ Các tài liệu khác tại Quy chế niêm yết của Sở GDCK/Trung tâm GDCK
- Số lượng hồ sơ: 02 bộ trong đó có 01 bộ gốc và 01 bộ bản sao kèm theo 01
bản dữ liệu điện tử.
- Thời hạn giải quyết: 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
- Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: công ty cổ phần.
- Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan có thẩm quyền quyết
định: Sở GDCK TP Hồ Chí Minh hoặc Sở GDCK Hà Nội.
- Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định chấp thuận.
- Lệ phí (nếu có):
Phí quản lý niêm yết hàng năm:
+ Niêm yết dưới 10 tỷ đồng: 5 triệu đồng.
+ Niêm yết từ 10 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng: 10 triệu đồng.
+ Niêm yết từ trên 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng: 15 triệu đồng.
+ Niêm yết từ 100 tỷ đồng trở lên: 20 triệu đồng.
như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong
12
khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các
tổ chức tín dụng thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động
đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn
tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của
công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.
Đối với nhà Đầu tư Cổ phiếu: Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua
Cổ phiếu được công ty phát hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát
hành dưới dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch,
mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp
luật bảo vệ. Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các
nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt
động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và
đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc
thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia
tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn. Thông
thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao
dịch cổ phiếu trên thị trường.
Tuy nhiên, đối với từng loại cổ phiếu khác nhau sẽ có những ưu điểm và
nhược điểm khác nhau. Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát
hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối
với công ty như:
- Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh.
- Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm sóat công ty.
- Phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn
góp của mình.
13
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như
đối với chủ nợ và trái chủ.
- Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có các quyền lợi sau:
+ Quyền được nhận cổ tức trước các cổ đông thường, mặc dù người có cổ
phiếu ưu đãi chỉ được quyền hưởng lợi tức cổ phần giới hạn nhưng họ được trả cổ
tức trước khi chia lợi tức cho cổ đông thường. Khác với cổ tức của cổ phiếu phổ
thông, cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được xác định trước và thường được xác định
bằng tỷ lệ phần trăm cố định so với mệnh giá của cổ phiếu hoặc bằng số tiền nhất
định in trên mỗi cổ phiếu.
+ Quyền ưu tiên được thanh toán trước, khi giải thể hay thanh lý công ty,
nhưng sau người có trái phiếu.
Tương tự như cổ phiếu phổ thông, nhưng cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi không
được tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng Quản trị và quyết định những vấn đề
quan trọng của công ty.
+ Cổ phiếu ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá và mệnh giá
của nó cũng không ảnh hưởng tới giá thị trường của cổ phiếu ưu đãi. Mệnh giá của
cổ phiếu ưu đãi có ý nghĩa hơn đối với mệnh giá của cổ phiếu phổ thông, vì nó là
căn cứ để trả cổ tức và là căn cứ để hoàn vốn khi thanh lý hay giải thể công ty.
+ Cổ phần ưu đãi còn giúp công ty tránh được việc chia sẻ quyền tham gia
vào việc điều hành và kiểm soát công ty.
+ Khác với việc phát hành trái phiếu, khi phát hành cổ phiếu ưu đãi công ty
không phải đem thế chấp tài sản. Cũng là loại chứng khoán vốn không có kỳ hạn
nên công ty không phải lo việc trả nợ khi đáo hạn.
* Về nhược điểm: thông thường công ty phải trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi
cao hơn so với lợi tức của trái phiếu. Bên cạnh đó, cổ tức cổ phiếu ưu đãi cũng như
15
cổ tức cổ phiếu thường lấy từ lợi nhuận ròng sau thuế để trả nên không phải là một
chi phí khấu trừ khỏi thuế.
4.2 Ưu điểm, nhược điểm của hoạt động niêm yết cổ phiếu của công ty cổ
phần:
* Ưu điểm:
có ảnh hưởng đến giá cả chứng khoán niêm yết, nghĩa vụ công bố thông tin đại
chúng trong một số trường hợp làm ảnh hưởng đến bí quyết, bí mật kinh doanh và
gây phiền hà cho công ty. Khi niêm yết chứng khoán, doanh nghiệp phải công bố
ra bên ngoài các thông tin như số lượng chứng khoán do các nhân vật chủ chốt
nắm giữ, thông tin về tình hình tài chính, doanh thu, chi phí, định hướng, chiến
lược phát triển…điều này đòi hỏi nguồn lực về tài chính và con người. Mặt khác,
chính việc công bố này đôi khi cũng bất lợi cho doanh nghiệp, khi đối thủ cạnh
tranh nắm được thông tin.
- Chi phí khi niêm yết khá tốn kém:
Để chứng khoán có thể niêm yết được công ty phải bỏ ra rất nhiều khoản chi
phí như hội họp, thuê tư vấn, kiểm toán, chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ, quảng cáo.
Quyền kiểm soát có thể bị đe dọa: khi niêm yết, việc giao dịch chứng khoán khiến
cơ cấu cổ đông thường thay đổi, dẫn đến sự biến đổi và bất ổn định trong quá trình
quản lý doanh nghiệp và có thể đe dọa đến quyền kiểm soát của các cổ đông lớn.
- Áp lực đối với lãnh đạo doanh nghiệp về hoạt động sản xuất kinh doanh:
Tổ chức niêm yết luôn phải chịu áp lực giám sát của xã hội, áp lực phải nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm duy trì và tăng giá cổ phiếu trên thị trường
17
chứng khoán và những người đứng đầu doanh nghiệp hiển nhiên sẽ chịu áp lực lớn
nhất.
5 Vài nét về hoạt động phát hành và niêm yết cổ phiếu ở Việt Nam.
5.1 Hoạt động phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần trong những năm gần
đây:
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, TTCK
cũng có những bước tăng trưởng nhất định. Mức vốn hóa của thị trường cổ phiếu
(trên 2 TTGD-CK Tp.HCM và Hà Nội) tính đến ngày 29/6/2010 đạt 304.000 tỷ
đồng (tương đương 20 tỷ USD), chiếm khoảng 33% GDP, trong khi cuối năm
2009, mức vốn hóa là 221.156 tỷ đồng (tương đương 14 tỷ USD), chiếm 22,7%
GDP. Trong đó, tổng giá trị vốn hàng hóa tại TTGDCK Tp.HCM đạt trên 211.000
tỷ đồng (tương đương 13,2 tỷ USD). Điều này có thể chứng tỏ rằng, TTCK đã và
SJS 16,089,727,500,000 Tài chính
PPC 10,081,600,257,830 Điện nước
GMD 9,360,205,611,626 Công nghiệp
PVD 8,796,480,000,000 Dầu khí
SSI 8,558,784,500,000 Tài chính
REE 8,404,064,238,375 Công nghiệp
Như vậy ta thấy rằng thông qua thị trường chứng khoán, các công ty đã có
một nguồn huy động vốn dồi dào bằng cách phát hành chứng khoán ra công chúng.
Điều kiện phát hành ngày càng cao
“Năm 2012, lợi nhuận 5% mới được phát hành cổ phiếu”. Bộ trưởng Vương Đình
Huệ cho biết năm 2012, doanh nghiệp phải có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đạt ít nhất
5% một năm mới được phát hành để tăng vốn.
Năm 2011, Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam dự kiến tăng vốn từ
2.500 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng, Vinaconex dự kiến tăng vốn từ 3.000 tỷ đồng lên
19
5.000 tỷ đồng… Mở lại nghị quyết ĐHCĐ của nhiều doanh nghiệp lớn trên thị
trường chứng khoán thì thấy phần việc quan trọng nhất mà doanh nghiệp đề ra cho
năm 2011 là tăng vốn đã không thành công. Thành tích èo uột của chứng khoán,
trong đó nhiều cổ phiếu rớt xuống dưới mệnh giá là bước cản lớn nhất cho kế
hoạch tăng vốn của các doanh nghiệp.
Trong năm năm 2012, phải quyết liệt và cương quyết lập lại trật tự trong việc
quản lý phát hành, hậu kiểm việc sử dụng vốn để hạn chế tối đa những hệ lụy, lấy
lại niềm tin của nhà đầu tư. Dự thảo quy định mới về điều kiện phát hành ra công
chúng đã tăng tiêu chuẩn lên ngặt nghèo hơn rất nhiều. Trong đó, nhấn mạnh đến
tỷ lệ lợi nhuận đạt được trên vốn ít nhất 5% một năm. Đặc biệt, Ủy ban Chứng
khoán sẽ có những đoàn thanh kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn, từ đó có những
chế tài yêu cầu buộc các công ty đại chúng tăng cường và coi trọng hơn công tác
quản trị rủi ro.
Phát hành cổ phiếu giá thấp
Gần đây, nhiều doanh nghiệp (DN) niêm yết thi nhau lên kế hoạch phát hành
5.2 Hoạt động niêm yết cổ phiếu của các công ty cổ phần.
Việc tăng vốn điều lệ một cách nhanh chóng thông qua việc niêm yết cổ phiếu
và phát hành cổ phiếu ra công chúng, một số công ty đã nâng cao năng lực cạnh
tranh nhờ lợi thế về quy mô, mở rộng các nghiệp vụ và hoạt động của mình, tạo
nguồn cung và cầu tốt hơn cho thị trường chứng khoán, từ đó phát triển kinh doanh
một cách có hiệu quả, điển hình như công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt, công
ty cổ phần chứng khoán Kim Long, công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn.
Hiện nay trên thị trường chứng khoán đã xuất hiện tình trạng các DN hủy bỏ
niêm yết cổ phiếu (ngay cả khi hoạt động kinh doanh có hiệu quả), tạm dừng niêm
yết cổ phiếu để chờ tín hiệu từ thị trường, thậm chí một số DN đã được cấp phép
21
niêm yết còn chần chừ chưa muốn lên sàn. Nguyên nhân là do các DN gặp nhiều
bất lợi trong quá trình niêm yết về chi phí niêm yết (hội họp, thuê tư vấn, kiểm
toán, chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ, quảng cáo); áp lực đối với lãnh đạo DN về kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh, quyền kiểm soát có thể bị đe dọa và phải chịu
nhiều nghĩa vụ công bố thông tin cũng như các ràng buộc khác (khi niêm yết, DN
phải công bố ra bên ngoài thông tin về cổ phiếu, thông tin tình hình tài chính,
doanh thu, chi phí, định hướng, chiến lược phát triển…điều này đòi hỏi nguồn
nhân lực về tài chính và con người. Hơn thế nữa, việc công bố này đôi khi gây bất
lợi cho DN khi đối thủ cạnh tranh nắm được thông tin)….Đây chính là những rào
cản lớn khiến DN muốn không muốn niêm yết hoặc muốn hủy bỏ niêm yết.
Có thể nói việc niêm yết cổ phiếu phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như điều
kiện chung của nền kinh tế, luật pháp, chính sách…. Đặc biệt là trạng thái hay xu
hướng của TTCK. Việc này đòi hỏi chính phủ phải ban hành những chính sách thật
hợp lí để hỗ trợ cho các DN, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để DN có thể tham gia
thị trường CK, hội nhập, phát triển, mở rộng quy mô DN, hoạt động kinh doanh có
hiệu quả hơn.
Song hành với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các DN niêm yết cổ phiếu trên
thị trường thì chính phủ cũng phải thực hiện “thắt chặt” việc niêm yết. Nghị định
14 ra đời trong bối cảnh TTCK lúc đó là phù hợp và đã khuyến khích được hàng
điều lệ….để có thể sàng lọc được những công ty thực sự hoạt động hiệu quả, có
tiềm lực mạnh, loại bỏ những công ty yếu kém. Như vậy sẽ góp phần làm cho môi
trường đầu tư trở nên tốt hơn, giảm thiểu bớt rủi ro cho các nhà đầu tư.
23
6 Giải pháp chung cho phát hành và niêm yết cổ phiếu của công ty cổ
phần
- Thứ nhất, tiếp tục tái cấu trúc TTCK một cách sâu, rộng theo hướng minh bạch,
đồng bộ và thống nhất phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
+ Phân định rõ từng thị trường để quản lý chúng: thị trường cổ phiếu: nơi
niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp lớn; thị trường các doanh nghiệp vừa và
nhỏ; thị trường UpCoM; thị trường OTC;…Hoàn thiện thị trường giao dịch cổ
phiếu của các công ty cổ phần để khắc phục ngay những trở ngại về tính thanh
khoản của thị trường này.
+ Thực hiện chuyển đổi sở hữu của SGDCK và Trung tâm lưu ký chứng
khoán từ Công ty TNHH Nhà nước một thành viên sang công ty cổ phần, trong đó
Nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối (trên 51%). Cho phép đại diện Công ty
chứng khoán (CTCK), Tổ chức niêm yết, một số chuyên gia kinh tế tham gia vào
Hội đồng quản trị của SGDCK. Khi đó SGDCK là công ty cổ phần đại chúng, hoạt
động sẽ năng động và minh bạch vì mục tiêu phát triển lành mạnh của TTCK.
- Thứ hai, hoàn thiện các văn bản pháp lý, cơ chế chính sách cho sự phát
triển của hoạt động phát hành và niêm yết của công ty cổ phần.
Xem xét sửa đổi, bổ sung Luật chứng khoán theo hướng mở rộng phạm vi điều
chỉnh của luật cho phù hợp với xu thế hội nhập của nền kinh tế; ban hành các văn
bản hướng dẫn về một số nghiệp vụ chứng khoán….
- Thứ ba, tạo hàng hoá có chất lượng tốt cho thị trường.
Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá để tạo hàng hoá có chất lượng cao cho TTCK.
Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến lược (trong và ngoài nước) mua cổ phiếu
của các doanh nghiệp Việt Nam theo phương thức thoả thuận, hoặc đấu giá giữa
các nhà đầu tư chiến lược với nhau, để cải thiện nhanh hơn về năng lực tài chính,
chất lượng quản trị doanh nghiệp.