Luận văn
Rủi ro tín dụng và những
giải pháp nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng trong các ngân
hàng thương mại ở Thành
phố Hồ Chí Minh
- 1 -
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Tài liệu tham khảo
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1 : NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường …………………….9
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại ……………………………………………… 9
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại …………………………………………… 9
1.1.2.1. Trung gian tín dụng ……………………………………………………………… 9
1.1.2.2. Trung gian thanh toán ……………………………………………………………10
1.1.2.3. Cung ứng dịch vụ ngân hàng …………………………………………………….11
1.1.3. Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại ………………… 11
1.1.3.1. Nghiệp vụ nguồn vốn (Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ) …………………………… 11
1.1.3.2. Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư (Nghiệp vụ thuộc tài sản có sinh lời) …………… 13
1.1.3.3. Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng ……………………………………… 15
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại …………….16
2.3. Thực trạng về hoạt động kinh doanh của các NHTM ở Tp.HCM ……………………37
2.3.1. Hoạt động huy động vốn ………………………………………………………… 37
2.3.2. Hoạt động cho vay ………………………………………………………………….40
2.3.3. Các hoạt động dịch vụ khác ……………………………………………………… 42
2.4. Thực trạng về rủi ro tín dụng của các NHTM ở Tp.HCM trong thời gian qua ………43
2.4.1. Tình hình nợ tồn đọng tại các NHTM …………………………………………… 43
2.4.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng ở các NHTM ………………………… 44
2.4.2.1. Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi …………………………………….45
2.4.2.2. Rủi ro do môi trường kinh doanh không ổn định ……………………………… 46
- 3 -
2.4.2.3. Rủi ro từ phía các ngân hàng …………………………………………………… 46
2.4.2.4. Rủi ro từ phía khách hàng vay vốn ……………………………………………….48
CHƯƠNG 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở TP.HCM
3.1. Định hướng phát triển của ngành ngân hàng ở Tp.HCM trong giai đoạn tới ……… 51
3.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế của Tp.HCM ……………………………………… 51
3.1.2. Định hướng phát triển của ngành ngân hàng đến năm 2010 ……………………….52
3.2. Những giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng trong các NHTM ở Tp.HCM ………… 55
3.2.1. Những giải pháp mang tính chất vĩ mô …………………………………………….55
3.2.1.1. Những giải pháp từ phía Chính Phủ …………………………………………… 55
3.2.1.2. Những giải pháp từ phía Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ……………………….61
3.2.1.3. Những giải pháp từ phía các ban, ngành liên quan ……………………………….65
3.2.2. Những giải pháp mang tính chất vi mô …………………………………………….65
3.2.2.1. Những giải pháp từ phía các NHTM …………………………………………… 65
3.2.2.2. Những giải pháp từ phía khách hàng vay vốn ……………………………………70
- 5 -
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Tp.HCM từ năm 2001 đến năm
2005 …………………………………………………………………………………… 28
Bảng 2.2 : Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ của Tp.HCM từ năm 2001
đến năm 2005…………………………………………………………………………… 29
Bảng 2.3 : GDP bình quân đầu người của Thành phố Hồ Chí Minh từ năm
2001 đến năm 2005……………………………………………………………………….30
Bảng 2.4 : Tình hình kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Tp.HCM từ năm
2001 đến năm 2005……………………………………………………………………….31
Bảng 2.5 : Kết quả hoạt động tín dụng ngân hàng tại Tp.HCM từ năm 2001
đến năm 2005…………………………………………………………………………… 31
Bảng 2.6 : Tốc độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp của Tp.HCM từ năm
năng lực quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng nhằm hạn chế những rủi ro nhất là rủi ro
tín dụng là việc làm cấp thiết và vô cùng quan trọng. Thành phố Hồ Chí Minh-trung tâm
kinh tế quan trọng của cả nước, là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, luôn đi đầu trong
cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế, cho nên đây cũng là nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp do thị trường cạnh tranh vô cùng gay gắt và
khốc liệt. Vì thế, rủi ro tín dụng và đưa ra các biện pháp để hạn chế rủi ro tín dụng là vấn
đề mang tính cấp bách, luôn được sự quan tâm đặc biệt của các quan chức cấp cao và đặc
biệt là các ngân hàng thương mại trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh. Chính vì sự cần
thiết của vấn đề mang tính thời sự này, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Những giải pháp
hạn chế rủi ro tín dụng trong các Ngân hàng thương mại ở Tp.HCM” để có thể đưa ra một
số kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động
cho các NHTM.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài :
Đề tài nghiên cứu này nhằm làm rõ các vấn đề sau :
- Nêu lên những vấn đề cơ bản mặt lý thuyết về NHTM, các rủi ro tín dụng và những biện
pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, đề tài còn
tham khảo thêm kinh nghiệm xử lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Thái
Lan.
- Phân tích những đặc trưng cơ bản của Thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng về hoạt động
kinh doanh và rủi ro tín dụng xảy ra tại các Ngân hàng thương mại ở Thành phố Hồ Chí
- 7 -
Minh với tình hình nợ tồn đọng tại các ngân hàng và các nguyên nhân chủ yếu tạo nên rủi
ro tín dụng.
- Trên cơ sở phản ánh đúng thực trạng về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở
Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp nhằm để hạn chế rủi
ro tín dụng.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài :
Đề tài này nghiên cứu về rủi ro tín dụng và những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng trong các ngân hàng thương mại ở Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại ra đời trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá phát triển đến
một trình độ nhất định, đồng thời qua quá trình tồn tại và phát triển hàng nhiều thế kỷ, hệ
thống NHTM ngày càng được hoàn thiện và trở thành một trong những định chế tài chính
không thể thiếu của nền kinh tế thị trường ; hoạt động của NHTM đã và sẽ góp phần to lớn
trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, do đó NHTM có một vị trí đặc biệt trong nền
kinh tế - xã hội. Nhờ có hệ thống NHTM này mà các nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại
và cũng đồng thời là nơi cung ứng vốn cho nền kinh tế nhằm phát triển đất nước.
Trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng trên thế giới, có nhiều khái niệm
về NHTM được đưa ra, cụ thể :
¾ Theo đạo luật Ngân hàng của Cộng hoà Pháp : “ Ngân hàng thương mại là
những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức
ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các
nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
¾ Theo luật Tổ chức tín dụng được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày
12/12/1997 : “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan . Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân
hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
Do đó, có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại
bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các NHTM thực hiện 03 chức năng sau :
1.1.2.1. Trung gian tín dụng : Chức năng này là quan trọng và cơ bản nhất của NHTM.
Nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, không những
cho thấy bản chất mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM. Thực hiện chức năng
này, NHTM đóng vai trò là người trung gian huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân
- 9 -
chúng ; mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay đáp ứng các
- 10 -
1.1.2.3. Cung ứng dịch vụ ngân hàng : Dịch vụ ngân hàng mà các NHTM cung cấp cho
khách hàng không chỉ thuần túy là để hưởng hoa hồng và phí dịch vụ mà còn hỗ trợ rất lớn
cho chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán trong hoạt động kinh doanh của
NHTM. Các dịch vụ chủ yếu mà NHTM cung cấp cho khách hàng :
♦ Dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền nhanh quốc nội.
♦ Dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế.
♦ Dịch vụ ủy thác (bảo quản, thu hộ, chi hộ, cho thuê két sắt …).
♦ Dịch vụ tư vấn đầu tư, cung cấp thông tin …
Cung ứng dịch vụ ngân hàng cũng là một chức năng chính yếu trong hoạt động kinh
doanh của một NHTM. Nếu các NHTM đều chú trọng đến tất cả các chức năng và nhiệm
vụ của mình sẽ làm cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn,
phân tán được những rủi ro trong hoạt động kinh doanh, tạo cho ngân hàng có cơ hội đứng
vững hơn trong cuộc chạy đua trên thương trường.
1.1.3. Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM
Nhìn chung, các NHTM hoạt động kinh doanh trên 03 nghiệp vụ chính :
♦ Nghiệp vụ nguồn vốn (Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ)
♦ Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư (Nghiệp vụ thuộc tài sản có sinh lời)
♦ Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng
Việc nghiên cứu các nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của một NHTM thực chất phản
ánh tổng quát tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn hoạt động tại một thời điểm nhất định.
1.1.3.1. Nghiệp vụ nguồn vốn (Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ) : Đây là nghiệp vụ khởi đầu,
nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động của NHTM. Nguồn vốn của một NHTM bao gồm :
9
Vốn chủ sở hữu : Là vốn riêng có của NHTM khi được thành lập và được bổ sung
trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu của NHTM gồm :
¾ Vốn điều lệ (hay vốn pháp định) : Đây là vốn của NHTM khi được thành
lập và được ghi vào điều lệ của ngân hàng. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn điều
một ngân hàng. Các NHTM có thể vay vốn từ Ngân hàng Trung ương ; của các ngân hàng
khác và các tổ chức tài chính trung gian khác hoặc vay từ công chúng.
¾ Vay của Ngân hàng Trung ương : Bất kỳ một NHTM nào khi được
Ngân hàng Trung ương cho phép thành lập đều được phép vay tiền tại NHTW trong trường
hợp cần bổ sung vốn thông qua ngiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu hoặc cho vay lại theo
hồ sơ tín dụng mà NHTM xuất trình.
¾ Vay của các Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác : Trong quá trình
hoạt động các NHTM có thể vay và cho vay lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng
- 12 -
nhằm điều hoà nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong toàn
hệ thống ngân hàng.
¾ Vay từ công chúng : Thông qua việc phát hành các chứng từ có giá như
phát hành các phiếu nợ, kỳ phiếu ngân hàng …
9
Vốn tiếp nhận : Là nguồn vốn tiếp nhận từ các nhà tài trợ của Chính Phủ, tổ chức
tài chính hoặc tư nhân để tài trợ theo các chương trình dự án về phát triển kinh tế-xã hội.
Thông thường những ngân hàng lớn, có uy tín và có mạng lưới rộng khắp mới có đủ điều
kiện để được chỉ định tiếp nhận nguồn vốn này.
9
Vốn khác : Là vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh không thuộc
các nguồn nói trên như vốn phát sinh trong quá trình làm đại lý chuyển tiền, thanh toán,
công nợ chưa đến hạn phải trả …
1.1.3.2. Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư (Nghiệp vụ thuộc tài sản có sinh lời) : Toàn
bộ nguồn vốn của NHTM sau khi đã dùng để đầu tư vào tài sản cố định, công cụ lao động
và phần dành cho dự trữ thanh khoản (tiền mặt, tiền gửi tại NHTM, tiền gửi tại các ngân
hàng khác, trái phiếu ngắn hạn …) thì phần còn lại được xem là vốn khả dụng của NHTM
và ngân hàng được toàn quyền sử dụng vào các nghiệp vụ tín dụng và đầu tư để tạo ra thêm
- Cho vay dài hạn : Có thời hạn vay > 05 năm
♦ Nếu căn cứ vào tính chất đảm bảo của khoản vay, được chia làm 02 loại :
- Cho vay có đảm bảo
- Cho vay bằng tín chấp
♦ Nếu căn cứ vào tính chất sử dụng vốn, được chia làm 02 loại :
- Cho vay có tính chất sản xuất kinh doanh, trường hợp này dùng để cho
vay đối với các đơn vị kinh tế.
- Cho vay tiêu dùng, và được áp dụng chủ yếu đối với cá nhân, dùng trong
trường hợp cho vay trả góp, cho vay sữa chửa nhà …
¾
Cho vay gián tiếp : Loại cho vay này được thực hiện dưới các hình thức
sau :
♦ Chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá : Đây là nghiệp vụ cho vay ngắn
hạn của các NHTM thể hiện qua việc ngân hàng mua các thương phiếu và các chứng từ có
giá chưa đến hạn thanh toán. Thực hiện nghiệp vụ này, các NHTM sẽ mua lại những
thương phiếu chưa đến hạn thanh toán của khách hàng với những giá trị bằng giá trị ban
đầu của thương phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí. Đây là nghiệp vụ cho
vay có đảm bảo bằng chứng từ có giá, có mức độ rủi ro thấp.
- 14 -
♦ Nghiệp vụ bao thanh toán : Về mặt kỹ thuật, nghiệp vụ bao thanh toán gần giống
nghiệp vụ chiết khấu. Đây là nghiệp vụ mà các NHTM thông qua các công ty con của mình
đứng ra mua lại các giấy nợ của khách hàng để thanh toán hộ.
♦ Cho thuê tài chính : Đây là loại hình nghiệp vụ tín dụng trung, dài hạn và được
thực hiện dưới hình thức các NHTM thông qua công ty con của mình (công ty cho thuê tài
chính) bỏ vốn ra để mua các tài sản thiết bị theo yêu cầu và tài trợ cho người đi thuê. Khi
hết thời hạn thuê, người đi thuê được quyền lựa chọn các phương án như : tiếp tục thuê tài
sản hoặc mua lại tài sản đó. Đây là loại hình tín dụng có nhiều ưu điểm và phù hợp với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
♦ Dịch vụ thanh toán.
♦ Dịch vụ thu hộ.
♦ Dịch vụ mua – bán hộ.
♦ Dịch vụ ủy thác.
♦ Dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư phát triển, thẩm định dự án, cung cấp thông tin.
♦ Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý, thanh toán thẻ tín dụng …
♦ Dịch vụ nhận và chi trả kiều hối, thu đổi ngại tệ.
…………
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và các biện
pháp hạn chế rủi ro tín dụng :
1.2.1. Khái nhiệm về rủi ro tín dụng :
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra là điều khó tránh
khỏi và là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra phá sản ngân hàng. Ngoài ra, rủi
ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn xảy ra ở các hoạt động mang
tính chất tín dụng khác ngân hàng : các hoạt động cam kết, bảo lãnh, tín dụng thuê mua,
cho vay đồng tài trợ … Cụ thể hơn, rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay không thực hiện
hoặc không có khả năng thực hiện đúng các cam kết như trong hợp đồng đã ký với ngân
hàng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra đều làm cho ngân hàng cho vay bị tổn thất về vốn, gây ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của toàn ngân hàng.
¾ Theo Thomas P.Fitch : “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không
thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ”.
¾ Theo Hennie van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic : “Rủi ro tín dụng được
định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so
với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động
ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả
được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới
khả năng thanh khoản của ngân hàng”.
- 16 -
NHTM càng thể hiện rõ nét.
1.2.3. Các hình thức của rủi ro tín dụng :
¾
Rủi ro do chậm trả nợ vay : Loại rủi ro này xảy ra khi khách hàng trả nợ chậm trễ
so với thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và thường xuất hiện khi khách hàng gặp khó
khăn về nguồn vốn tạm thời hoặc xảy ra những tình huống xấu ngoài ý muốn. Trong
trường hợp này ngân hàng vẫn có khả năng thu hồi được nợ thông qua các biện pháp gia
- 17 -
hạn nợ hoặc cấu trúc lại thời gian trả nợ cho khách hàng vì khách hàng vẫn có thiện chí trả
nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên ngân hàng nên có những biện pháp giám sát và theo dõi
khách hàng cũng như những khoản nợ một cách chặt chẽ để hạn chế rủi ro đến mức tối đa,
đó là rủi ro khách hàng không có khả năng trả được nợ.
¾
Rủi ro do nợ vay không được hoàn trả : Loại rủi ro này có thể gây cho ngân hàng
tổn thất lớn, có thể mất toàn bộ hoặc một phần vốn cho vay nếu cho vay không có tài sản
đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo không đủ để hoàn trả nợ vay. Thông thường xảy ra loại rủi
ro này cho ngân hàng khi khách hàng kinh doanh, làm ăn thất bại hoặc không có thiện chí
trả nợ và cố tình lừa bịp. Ngân hàng có thể bù đắp khoản nợ này bằng cách phát mãi tài sản
đảm bảo cho khoản vay.
1.2.4. Những biểu hiện của rủi ro tín dụng :
Rủi ro tín dụng bản thân nó thường ẩn chứa trong các khoản vay có vấn đề, không
xảy ra theo một mô hình nhất định nào mà diễn ra vô cùng phong phú và phức tạp. Các dấu
hiệu để nhận biết rủi ro tín dụng đôi khi phải trải qua một quá trình trong một thời gian dài
chứ không hẳn chỉ trong một thời điểm, nó không xảy ra theo một mô hình nhất định nào
cả mà rất đa dạng, phong phú. Do đó, các ngân hàng cần phải nhận biết chúng một cách có
hệ thống.
¾
luyện vào đảm nhận những vị trí then chốt.
♦ Các chi phí quản lý bất hợp lý : tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng thiết bị
văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, Ban Giám đốc có cuộc sống xa
hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân.
1.2.5. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng :
Một khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với một NHTM thì thiệt hại gây ra cho ngân hàng
cũng vô cùng lớn, không những ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng mà có
thể ảnh hưởng đến khả năng chi trả của ngân hàng cho các khoản tiền gửi đã ký thác, thậm
chí nguy hiểm hơn làm ảnh hưởng dây chuyền đến toàn hệ thống ngân hàng. Do đó, việc
tìm hiểu, phân tích nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng là vô cùng quan trọng và cần thiết
đối với mỗi một NHTM.
¾
Nhóm các nguyên nhân khách quan : Các NHTM cũng là một tổ chức kinh
doanh, do đó vẫn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan khác nhau.
♦ Các yếu tố về điều kiện tự nhiên (thời tiết, khí hậu …) : Những hiện
tượng xấu xảy ra trong tự nhiên như hạn hán, thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn … gây ảnh hưởng
rất nặng nề và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như ngân hàng.
- 19 -
♦ Các yếu tố về môi trường kinh doanh : Môi trường kinh doanh không ổn
định và không thuận lợi, các chính sách quản lý của Nhà nước chưa hoàn thiện … đã làm
cho việc hoat động kinh doanh của khách hàng vay vốn bị trở ngại, khó khăn và ảnh hưởng
đến khả năng thanh toán nợ vay cho ngân hàng. Ngoài ra, vai trò quản lý của Nhà nước còn
nhiều hạn chế, công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu kém đã không phát hiện và ngăn chặn
được các hành vi lừa đảo.
♦ Các yếu tố khách quan khác : Tình hình an ninh, chính trị hoặc khủng
hoảng kinh tế trong nước và trong khu vực không ổn định … cũng là một trong những
nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
ngân hàng vì sự cấu kết và cố ý làm trái pháp luật của cán bộ tín dụng và khách hàng.
♦ Các nguyên nhân khác : Do ngân hàng quản lý không chặt chẽ thanh
khoản, làm thiếu khả năng chi trả ; Việc cho vay và đầu tư quá liều lĩnh, cụ thể : Ngân hàng
cho vay tập trung vào một đơn vị kinh tế hoặc một ngành kinh tế nào đó hoặc chú trọng
đầu tư vào một loại chứng khoán có rủi ro cao … Những nguyên nhân này cũng tạo ra rủi
ro tín dụng và gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho NHTM.
¾
Nhóm các nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn : Khách hàng sử dụng vốn
vay sai mục đích, lập hồ sơ giả để lừa đảo ngân hàng ; Khách hàng vay vốn thiếu năng lực
pháp lý, hoạt động kinh doanh thua lỗ liên tục ; Việc quản lý không hiệu quả, thiếu sự
thống nhất trong ban điều hành … Thực tế trong thời gian vừa qua, đã xảy ra rất nhiều
trường hợp cố ý lừa đảo ngân hàng, gây nên những hậy quả nghiêm trọng không những cho
chính bản thân ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam : Vụ
án Minh Phụng-Epco, Tamexco …
1.2.6. Hậu quả của rủi ro tín dụng :
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro tín dụng mang tính hệ thống, cho
nên một khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây nên thiệt hại không những cho chính bản thân
ngân hàng về lợi nhuận, tài sản, uy tín, danh tiếng … mà còn ảnh hưởng đến toàn hệ thống
ngân hàng và cả nền kinh tế.
¾
Đối với ngân hàng cho vay : Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro cơ bản gắn
liền với hoạt động kinh doanh gây nên những thiệt hại cho ngân hàng, cụ thể :
♦ Giảm lợi nhuận : Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng có thể sẽ không
thu hồi được vốn tín dụng và lãi đã cho vay, làm giảm thu nhập của ngân hàng. Ngoài ra,
có thu hồi được vốn và lãi vay hay không thì ngân hàng vẫn phải mất thêm phần chi phí để
- 21 -
quản lý khoản vốn vay trong suốt thời gian cho vay vốn hoặc các chi phí quản lý các loại
♦ Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và có khả năng thu hồi.
- 22 -
♦ Nợ quá hạn từ 361 ngày trở lên (những khoản nợ này được các NHTM đưa
vào danh sách các khoản nợ khó đòi).
Với cách phân loại nợ quá hạn tính theo thời gian như trên, nên đa số các khoản nợ
quá hạn ở các NHTM đều là nợ xấu.
¾ Nợ xấu : Là những khoản nợ quá hạn (ít nhất là 90 ngày) mà không đòi được
hoặc không được tái cơ cấu. Theo TS.Hồ Diệu, nợ xấu là các khoản nợ có đặc trưng :
♦ Khi đến hạn thanh toán, khách hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình ;
♦ Tài sản đảm bảo cho khoản vay được định giá thấp hơn giá trị khoản vay
Hiện nay các khoản nợ xấu ở các NHTM bao gồm :
♦ Nợ khó đòi (Đã quá hạn từ 361 ngày trở lên và không có khả năng thu hồi);
♦ Các khoản nợ liên quan đến các vụ án được khởi kiện, có tài sản đảm bảo
không hợp lý ;
♦ Những khoản nợ quá hạn, nợ trả thay nhưng không còn đối tượng để thu.
1.3.2. Các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng :
Đưa ra các biện pháp để hạn chế rủi ro tín dụng nhằm giúp các NHTM có thể kiểm
soát tốt hơn các khoản vốn tín dụng đã cho khách hàng vay.
¾
Phân tích khách hàng : Việc phân tích, sàn lọc và đưa ra những nhận định đúng
đắn về khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có cơ sở vững chắc khi quyết định cấp tín dụng.
Đây cũng là một trong những biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng quan trọng hàng đầu của
hoạt động tín dụng. Thông tin cần thu thập từ khách hàng phải kịp thời, đầy đủ và trung
thực trên một số khía cạnh : Uy tín của khách hàng trên thương trường, Mục đích vay, Tư
cách pháp lý, đạo đức, Sự lành mạnh về tài chính của khách hàng …
¾
Giới hạn cấp tín dụng : Giới hạn tín dụng đối với từng loại khách hàng được xác
♦ Khoản vay đạt tiêu chuẩn
♦ Khoản vay cần theo dõi hoặc cảnh giác
♦ Khoản vay dưới tiêu chuẩn
♦ Khoản vay khó thu hồi
♦ Khoản vay tổn thất
¾
Kiểm tra tín dụng : Là việc kiểm tra và giám sát các khoản tín dụng nhằm giảm
thiểu mức độ rủi ro xảy ra trong hoạt động cho vay của các NHTM. Việc kiểm tra tín dụng
được biểu hiện :
♦ Kiểm tra, quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản vay có vấn đề, chất
lượng xấu;
♦ Tăng cường kiểm tra các khoản vay khi ngành nghề sử dụng đa số vốn vay
có biểu hiện suy giảm;
♦ Kiểm tra định kỳ và thường xuyên tất cả các khoản vay, đặc biệt là các
khoản vay lớn. - 24 -
1.4. Kinh nghiệm trong việc hạn chế rủi ro tín dụng của các NHTM ở Thái Lan :
Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là tất yếu và luôn tạo ra những tổn
thất lớn cho NHTM cả về tài sản và uy tín. Vì vậy, hạn chế rủi ro tín dụng là mục tiêu hàng
đầu của các NHTM.
Mặc dù có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng nhưng hệ thống
ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo trước cơn khủng hoảng tài chính - tiền tệ vào năm
1997 – 1998. Trước tình hình này, các ngân hàng Thái Lan cũng đã có những biện pháp
phòng ngừa nhằm hạn chế những rủi ro xảy ra, cụ thể là đã có những thay đổi cơ bản trong
hệ thống tín dụng :
9 Thứ nhất : Các NH Thái Lan, cụ thể là Ngân hàng Bangkok và Siam Commercial
Bank (SCB) đã có sự tách bạch, phân công rõ chức năng của các bộ phận và tuân thủ các