1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ……………………
TIỂU LUẬN
Phân tích phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
trong lĩnh vực hải quan
loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu miền Bắc, miền Trung, miền Nam được thành lập
theo Quyết định 32/2003/QĐ/BTC, ngày 17/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã
giải quyết được một phần lớn khó khăn trong công tác này. 3
Với thực trạng hiện nay, kim ngạch XNK của Việt Nam tăng bình quân từ 13%
đến 16% năm. Tổng kim ngạch XK hàng hóa và dịch vụ tới năm 2010 sẽ đạt khoảng
58 tỷ USD. Tổng kim ngạch nhập khẩu và dịch vụ tới năm 2010 là 57,14 tỷ USD, các
hoạt động XNK và xuất nhập cảnh tăng lên phong phú và đa dạng. Theo đó, các thủ
đoạn buôn lậu gian lận thương mại cũng tinh vi và phát triển lên rất nhiều.
Một trong các công cụ rất có hiệu lực, hiệu quả của ngành Hải quan sử dụng
nhằm phát hiện, ngăn chặn và góp phần giảm bớt các hiện tượng gian lận thương mại,
tránh thất thu thuế cho nhà nước là hoạt động phân tích phân loại hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu trong ngành Hải quan.
Các Trung tâm phân tích phân loại đã hỗ trợ đắc lực, thực sự trở thành một địa chỉ
đáng tin cậy cho Hải quan địa phương trong công tác kiểm tra thực tế hàng hóa và đã
tham mưu trách nhiệm, tích cực, có chất lượng trong việc phân loại mã số hàng hóa
xuất khẩu. nhập khẩu. Các Trung tâm còn góp phần chấn chỉnh lại một số kết quả giám
định không chính xác và trở thành đối trọng với các đơn vị giám định khác.
ỉ ti
êu
Đơn v
ị
K
ết luận
Ghi chú
1
Đ
ộ cứng
Mohs
72
Đ
ộ hút n
ư
ớc
%
3264/TCHQ/PTPLMB gửi chi cục Hải quan AH miền Bắc với nội dung như sau : Mẫu
phân tích phân loại là gạch lát nền bằng gốm Granit, đã nung tới nhiệt độ kết khối, bề
mặt gạch được mài và đánh bóng, mã số thuế 6907.90.10 với thuế suất 50%.Chi cục
Hải quan AH miền Bắc đã ra quyết định truy thu thuế với lô hàng nhập khẩu trên.
Doanh nghiệp không đồng ý với quyết định trên nên đã gửi đơn khiếu nại lên Cục Hải
quan AH miền Bắc, lên Tổng cục Hải quan, lên Bộ Tài chính về việc áp mã tính thuế
lô hàng Gạch lát nền bằng bột đá. Trong đơn khiếu nại doanh nghiệp có gửi kèm các
chứng thư giám định của các cơ quan giám định khác do doanh nghiệp tự đi trưng cầu
như sau :
a.Chứng thư giám định về chủng loại số 245/NĐ/2008E ngày 21/04/2008 của
HAVICONTROL :
Theo yêu cầu của công ty TNHH Thương mại Việt Thắng, chúng tôi
HAVICONTROL đã tiến hành xác định chủng loại của 01 viên gạch lát nền kích thức
(20x10) cm có dán niêm phong bằng giấy của chi cục Hải quan AH miền Bắc ký ngày
08/04/2008 ( do khách hàng đem đến ). Căn cứ kết quả kiểm tra thực tế và quy trình
sản xuất gạch Granit, chúng tôi xác định rằng :
- Viên gạch ốp lát (20x10)cm nêu trên được làm từ bột đá ép có nhuộm màu và
được qua công đoạn mài bóng bề mặt.
- Mã số thuế theo Quyết định số 110/2003/QĐ/BTC của Bộ Tài chính ban hành
ngày 25/07/2007 : 6810.19.10 6
b. Chứng thư của Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật số 132/KT2/K4-TBKQ , ngày
04/06/2008 :
Kết quả thử nghiệm
TT
Tên ch
ỉ ti
+ Chi
ều rộng
mm600+ Chi
ều d
ày
mm9,4
2
Đ
ộ hút n
ư
ớc
%
TCVN6355
-
3: 1995
nung ở t
o
= 1000
o
C Không b
ị biến dạng
6
Thành ph
ần hóa + SiO
2
%65,92+ Al
2
7
- Kết quả phân tích thành phần khoáng cho thấy thành phần chủ yếu của gạch là
SiO
2
và khoáng ( 3Al
2
O
3
.SiO
2
) đã hình thành trong quá trình nung tạo ra liên
kết bền vững và có độ cứng bề mặt cũng như độ bền cơ học cao.
Kết luận : Mẫu gạch đá lát nền đã được kiểm tra có kích thước (600x600)mm
không phải là đá Granit tự nhiên. Đây là mẫu đá Granit nhân tạo. Thuộc nhóm mã
hàng 6810.19.10 theo Quyết định số 110/2003/QĐ-BTC ban hành ngày 25 tháng 7
năm 2003.
Đơn khiếu nại cùng các chứng thư trên đã được Lãnh đạo Bộ Tài chính và Lãnh
đạo Tổng cục Hải quan chuyển cho Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc kiểm tra,
nghiên cứu, báo cáo và đề xuất Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Tổng cục Hải quan hướng giải
quyết.
B. PHÂN TÍCH XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
I/ Xác định mục tiêu xử lý tình huống
Hiện nay, có 3 loại hình hoạt động cơ bản liên quan trực tiếp đến việc phân tích
xác định bản chất hàng hóa XNK, đó là hoạt động giám định thương mại, hoạt động
kiểm tra chất lượng nhà nước đối với hàng hóa NK, hoạt động phân tích phân loại
hàng hóa của Hải quan. Ở đây có một số điểm đáng lưu ý như sau :
- Các tổ chức giám định thương mại chủ yếu phục vụ cho mục đích thương mại,
các đơn vị sự nghiệp kỹ thuật chủ yếu phục vụ cho mục đích quản lý chuyên
ngành của các Bộ, ngành. Các tổ chức giám định, đơn vị kiểm tra hàng hóa
chuyên ngành đều không có chức năng phân loại áp mã số hàng hóa XK, NK
II. Cơ sở lý luận
Thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế
khác nhau, chủ động hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, Việt nam đã có quan hệ
thương mại với nhiều nước trên Thế giới thông qua các Hiệp định song phương, đa
phương. Có thể nói, hiện nay tại các cửa khẩu hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam
từ nhiều nước, nhiều vùng khác nhau trên Thế giới, rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã,
đa tính năng sử dụng trên một sản phẩm. Vì vậy, phân tích phân loại hàng hóa nhập
khẩu trở nên phức tạp, khó khăn hơn nếu việc kiểm tra thực tế hàng hóa chỉ bằng 9
phương pháp trực quan. Là lực lượng “Gác cửa nền kinh tế” với nhiệm vụ thực hiện
kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải, phòng chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu ( Điều 11 – Luật Hải quan ) đòi hỏi nghành Hải quan phải lỗ lực
phấn đấu nâng cao năng lực, hiệu quả về phân tích phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu để thu đúng, thu đủ các loại thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, đảm bảo nguồn thu
cho ngân sách, chống gian lận thương mại qua áp mã; ngăn chặn, phát hiện kịp thời
hàng hóa cấm nhập khẩu, đồng thời đảm bảo quyền lợi chính đáng của cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Từ yêu cầu thực tiện khách quan, chủ quan, công tác phân tích phân loại hàng hóa
xuất nhập khẩu đã được coi là công cụ nghiệp vụ quan trọng, có tính đột phá trong xây
dựng lực lượng Hải quan hiện đại, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của ngành và góp
phần thực hiện những cam kết mà Việt Nam đã ký kết về Công ước HS của Tổ chức
Hải quan Thế giới ( WCO ). Chính vì vậy, Quốc hội Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng
cục Hải quan thực sự quan tâm, tạo điều kiện cho hoạt động phân tích phân loại hàng
hóa xuất khẩu với những hệ thống quy định pháp luật có tính pháp lý cao như :
- Điều 27, 72 Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/06/2001.
- Nghị định số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001.
- Nghị định 06 /2003/NĐ-CP ngày 22/12//01/2003 của Chính phủ.
- Đối với mặt hàng khó phân biệt giữa dược phẩm và mỹ phẩm, giữa dược phẩm
và chất bổ dưỡng thường phát sinh tranh chấp giữa cơ quan hải quan và đối
tượng nộp thuế. Tình trạng này cũng diễn ra phổ biến đối với các mặt hàng hóa
chất, giấy, sắt thép… Đối với, các mặt hàng dược phẩm, tình trạng áp mã chưa
thống nhất một phần cũng do việc xác nhận của Bộ Y tế chưa nhất quán. Chẳng
hạn, như trường hợp viên sủi HASS và viên PLUS có thành phần tương tự
nhưng viên sủi PLUS được Cục Dược – Bộ Y tế xác nhận là dược phẩm, còn
viên sủi HASS lại được Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm xác nhận là thực phẩm. 11
Có rất nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khiến cho công tác phân tích
phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu còn nhiều bất cập. Chúng ta có thể đề cập
đến một số nguyên nhân cơ bản sau :
- Trong Biểu thuế xuất nhập khẩu Việt Nam hiện nay còn có nhiều mức thuế suất
khác nhau trong một nhóm hàng do nhu cầu bảo hộ khác nhau, chênh lệch giữa
các mức thuế trong biểu thuế còn rất lớn làm cho các doanh nghiệp luôn tìm
cách gian lận trong khai báo. Một số mặt hàng vẫn được phân theo mục đích sử
dụng ( chẳng hạn loại sử dụng trong gia đình hay không sử dụng trong gia đình
…. ), đây cũng là một khó khăn cho công tác phân tích phân loại.
Trong vụ việc Gạch lát nền bằng bột đát ép trên nguyên nhân của việc khiếu kiện
cũng là do chênh lệch mức thuế của nhóm hàng gạch lát nền qua lớn như mã số thuế
681019.10 có thuế suất 30%, còn mã số thuế 6907.90.10 có thuế suất 50% ( so sánh
Thái Lan là nước trong nhóm các nước ASEAN trong biểu thuế XNK chỉ còn chủ yếu
2 mức thuế là 0% và 5% ).
- Việc biên dịch, phát hành các tài liệu, chú giải giải thích của Danh mục HS còn
chưa chính xác, đầy đủ, kịp thời gây khó khăn cho công tác phân tích phân loại
hàng hóa XNK.
- Hệ thống thông tin nối mạng trong toàn ngành Hải quan còn chưa có dẫn đến
các thông tin về kết quả phân tích phân loại chưa được trao đổi, cập nhật giữa
của các tổ chức giám định với thông báo kết quả của Trung tâm phân tích phân loại
miền Bắc, Trung tâm đã có công văn số 3986/TCHQ/PTPLMB ngày 25/08/2008 trình
Lãnh đạo Tổng cục Hải quan và gửi Vụ GSQL, cục Hải quan AH miền Bắc, chi cục
Hải quan Ah miền Bắc, Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng, Havicontrrol
và Viện Khoa học Vật liệu Xây dựng biết để phối hợp.
Nội dung Công văn như sau :
1.Về kết quả phân tích và phân loại áp mã hàng hóa
- Qua phân tích mẫu hàng nêu trên, kết quả của Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật, của Viện
Vật liệu Bộ Xây dựng và của Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc đều thống nhất 13
kết luận : mẫu hàng là loại sản phẩm đã được nung kết khối rắn chắc và không phải là
đá bột ép chưa qua nung. Tuy nhiên tịa chứng thư 245 nêu trên ; HVICONTROL lại
chỉ kết luận gạch này “được làm từ bột đá ép có nhuộm màu và được qua công đoạn
mài bón bề mặt” xin đề nghị Havicontrol xem xét lại kết luận này.
- Về phân loại áp mã số hàng hóa, cả Havicontrol và cả Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật
tuy có kết quả phân tích khác nhau; nhưng lại kết luận giống nhau về mã số hàng là
6810.19.10; Trong khi đó, Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc lại phân lọai mặt
hàng này vào mã số 6907.90.10.
Việc phân loại hàng hóa phải căn cứ vào Biểu thuế xuất nhập khẩu ban hành theo
Quyết định số 110/2003/QĐ-BTC của Bộ Tài chính và chú giải HS. Trong trường hợp
cụ thể này, Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc đã dựa vào các căn cứ sau :
+ Mẫu gạch này đã được qua nung kết khối rắn chắc và khi giám định, mẫu đã được
nung tới 1000
o
C mà không bị phá hủy và không biến dạng. Về mặt lý thuyết, quá trình
nung là quá trình gia nhiệt phải đạt tới nhiệt độ bằng hoặc lớn hơn 800
o
C; sau khi
nung như đã nêu trên đây.
Với những căn cứ đó, Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc xác định mã hàng là
6907.90.10. Việc Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật, HAVICONTROL phân loại mặt hàng
nêu trên vào chương 68 ( mã 6810.19.10 ) là không phù hợp với quy định HS, của
Biểu thuế về phân loại đối với mặt hàng này và không đúng với bản chất của mặt hàng.
2.Về chức năng phân loại áp mã số hàng hóa :
Tại Công văn số 109 /TĐC-THPC ngày 12/02/2006 của Tổng cụ Tiêu chuẩn Đo
lường Chất lượng về việc áp mã HS cho hàng hóa đã nêu rõ : “ Việc áp mã HS để tính
thuế đối với hàng hóa nhập khẩu không thuộc chức năng của các Trung tâm kỹ thuật
và các chi cục TCĐLCL” và “Khi cấp kết quả kiểm tra hàng hóa, các đơn vị không xác
định mã số HS hàng hóa, kể cả đề xuất ý kiến có tính chất tham khảo “ ( trích nguyên
văn ). Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật đưa ra mã số nêu trên đây của mặt hàng này là
không phù hợp với qui định của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng.
Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc gửi kèm theo đây các văn bản liên quan,
xin đề nghị Quý cơ quan xem xét lại các vấn đề trên đây và mong tiếp tục nhận được
sự công tác.
Bước II : Ngày 05/01/2009 Trung tâm đã viết tờ trình xin làm rõ thêm những vấn
đề được nêu tại đơn khiếu nại số 56/KN/BĐ ngày 26/12/2008 của Công ty TNHH 15
Thương mại Việt Thắng và trình bảy quan điểm của mình xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh
đạo Bộ và Lãnh đạo Tổng cục Hải quan như sau :
a. Trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi năm 2003 ban hành theo Quyết định
110/QĐ/BTC có chi tiết như sau :
69
07.10
-
Các mảnh vụn, bột đá Granit thu được từ quá trình khai thác và chế biến được đem
xay, nghiền thành bột dùng để sản xuất 2 loại sản phẩm sau :
- Gạch lát nền bằng bột ép từ Granit không nung : Sản phẩm này thu được bằng
cách trộn bột đá Granit với một số chất kết dính như vôi, xi măng…đem đúc
khuôn, ép hoặc phương pháp ly tâm. Loại gạch này được xếp vào nhóm 6810. 16
- Gạch lát nền bằng bột ép từ Granit đã nung đến nhiệt độ kết khối ( khoảng
100
o
C ) – Loại gạch này còn được gọi là Gạch lát nền bằng gốm Granit và được
xếp vào nhóm 69.07
Như vậy, tên hàng “Gạch lát nền 600x600 mm bằng đá Granit nhân tạo” mà công ty
viện dẫn chưa đủ thông tin để xác định mặt hàng này thuộc loại nào trong ba loại trên
và rất khác với tên hàng do chính chủ hàng tự khai báo : “ Gạch lát nền 600x600 mm(
bằng bột đá ép )”.
c. Chức năng, tư cách của Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc được qui định
tại khoản 2.2, điều 2, mục III, phần B, của Thông tư số 85/2003/TT-BTC ngày
29/08/2003 Hướng dẫn thực hiện việc phân loại hàng hóa theo Biểu thuế nhập
khẩu ưu đãi, Biểu thuế xuất khẩu như sau :
- Trường hợp có căn cứ cho rằng việc phân loại của người khai hải quan không chính
xác nhưng Chi cục Hải quan cũng không có khả năng phân loại thì đề nghị Trung tâm
phân tích phân loại hàng hóa trực thuộc Tổng cục Hải quan thực hiện việc phân loại
hàng hóa. Thủ tục trưng cầu Trung tâm phân tích phân loại thực hiện theo Quy chế
phân tích, phân loại hàng hóa do Tổng cục Hải quan ban hành”.
Điểm b, c điều 9, nghị định 101/2001/NĐ-CP qui địn chi tiết thi hành một số điều
của Luật Hải quan qui định quyền của người khai hải quan như sau :
- Trường hợp người khai hải quan không nhất trí kết quả kiểm tra, phân tích hoặc
giám định do cơ quan hải quan kết luận thì được lựa chọn một cơ quan, tổ chức
nung.
Với kết quả tái giám định như thế cơ quan hải quan không thể sử dụng làm căn cứ
để áp mã được.
d. Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc không phải là cơ quan giám định mà là
đơn vị sự nghiệp vụ của ngành Hải quan tiến hành phân tích phân loại hàng hóa
xuất nhập khẩu phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về hải quan.
Theo điều 27 luật Hải quan : “Khi làm thủ tục Hải quan công chức hải quan có
nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Lấy mẫu hàng hóa với sự có mặt của người khai hải
quan để cơ quan hải quan phân tích hoặc trưng cầu giám định phục vụ kiểm tra hàng
hóa, sử dụng kết quả phân tích, kết quả giám định để xác định đúng mã số và chất
lượng hàng hóa…”.
Như vậy, việc phân tích phân loại hàng hóa là quyền đương nhiên của mọi công
chức hải quan chứ không phải của riêng Trung tâm phân tích phân loại miền Bắc. Việc
Trung tâm ra thông báo 2960/TCHQ/PTPLMB tạm thời dừng chưa tiếp nhận một số
loại mẫu do kinh phí cấp phát và biên chế chưa đủ để tiếp nhận giải quyết một số loại
mẫu. 18
e. Chứng thư giám định số 245/NĐ/2008E ngày 21/04/2004 của Havicontrol kết
luận : Viên gạch ốp lát (20x10)cm nêu trên được làm từ bột đá ép có nhuộm màu và
được qua công đoạn màu đánh bóng bề mặt. Mã số thuế 6810.18.10
Kết quả giám định trên của Havicontrol là không đúng với bản chất của hàng hóa vì
đây là loại gạch làm từ bột đá ép được nung đến nhiệt độ tạo kết khối và trái với kết
quả phân tích của Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật do chính Doanh nghiệp trưng cầu lần2.
g. Việc phân loại hàng hóa căn cứ vào bản chất hàng hóa, Biểu thuế nhập khẩu,
chú giải HS và các qui định khác nếu có. Chương 69 qui định cho các mặt hàng đồ
gốm, sứ nên chỉ có các loại gạch được tạo hình và nung đến nhiệt độ kết khối ( còn gọi
là những sản phẩm đồ gốm, sứ ). Tên hàng “ Đá Granit nhân tạo mà công ty viện dẫn
trong công văn thực chất là tên gọi thương mại ( không nói lên được bản chất của hàng
bề mặt đã được mài và đánh bóng thuộc nhóm 6970, mã số 6907.90.10.
Mặt hàng gạch lát nền bằng đá Granit nhân tạo ( gạch làm bằng phương pháp ép
bột đá granit ), đã hoặc chưa mài hoặc đánh bóng thuộc nhóm 6810, mã số 6810.19.10
Tổng cục Hải quan yêu cầu Cục hải quan các tỉnh, thành phố kiểm tra lại việc phân
loại mặt hàng nên trên nhập khẩu tại đơn vị. Nếu đã thu thuế nhập khẩu khác với
hướng dẫn trên thì tổng hợp báo cáo về Tổng cục để Tổng cục nghiên cứu hướng dẫn
xử lý.
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN
Phó tổng cục trưởng
C. KIẾN NGHỊ
Công tác phân tích phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu là một lĩnh vực rất quan
trọng nó liên quan trực tiếp đến Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
và Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
phân tích phân loại hàng hóa XNK chính là làm cho Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò quản lý vĩ mô toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu,
huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho việc
thực hiện các cam kết quốc tế. Việc xây dựng, hoàn thiện Danh mục và Biểu thuế 20
CNK Việt nam, việc ban hành các văn bản, quy phạm pháp luật hướng dẫn việc phân
loại áp mã hàng hóa XNK là các yếu tố quyết định đảm bảo cho công tác phân tích
phân loại đạt hiệu quả cao trong thực tế.
Những giải pháp nhằm hỗ trợ cho công tác phân tích phân loại ở giác độ chính
sách là :
Thứ nhất : Biểu thuế nhập khẩu
- Rà soát toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu, giảm thiểu việc quy định mức thuế chênh
lệch lớn giữa những mặt hàng có tính chất gần giống nhau để hạn chế tình trạng
cố tình khai báo vào dòng thuế có mức thuế suất thấp hơn…Phát hiện những bất
Củng cố tăng cường mối quan hệ phối thuộc giữa các đơn vị trong ngành hải quan
về phân loại hàng hóa XNK, quy chế về phân tích phân loại hàng hóa XNK, rà soát
sửa đổi các qui định không phù hợp với thực tiễn. Xây dựng kế hoạch thường xuyên
mở các lớp tập huấn về nguyên tắc phân loại hàng hóa đối với một số mặt hàng nhạy
cảm, khó phân tích phân loại cho hải quan các địa phương. Cần có kế hoạch phối thuộc
chặt chẽ giữa các Trung tâm phân tích phân loại với các đơn vị sự nghiệp kỹ thuật
chuyên ngành để đáp ứng các yêu cầu phân tích phân loại hàng hóa XNK của hải quan
các cửa khẩu.
Thứ năm : Hiện đại hóa ngành Hải quan
Thực hiện kế hoạch hiện đại hóa ngành Hải quan, Tổng cục Hải quan cần đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc và đội ngũ kỹ thuật viên có trình độ cao cho các
Trung tâm; phân theo chương trình ngắn hạn, dài hạn tiến tới đáp ứng tiểu chuẩn
Phòng thí nghiệm của Tổ chức Hải quan Thế giới ( WCO). Tăng cương năng lực, khả
năng phân tích phân loại hàng hóa, thực sự là chỗ dựa vững chắc cho công tác kiểm tra
thực tế hàng hóa tại cửa khẩu, là nhân tố đẩy nhanh thông quan hàng hóa. 22
KẾT LUẬN
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động phân tích phân loại hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu trong ngành Hải quan sẽ đóng góp phần tạo nên những hiệu quả to
lớn trên nhiều phương diện
I. Hiệu quả về quản lý nhà nước
Chủ động trong việc trực tiếp giải quyết cơ bản các khó khăn về phân loại xác
định tên gọi và mã số hàng hóa cho hải quan và doanh nghiệp bằng việc ứng dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại trong phòng thí nghiệm hải quan và việc vận dụng
các quy tắc phân loại hết sức khoa học của Hệ thống hài hòa về mô tả và mã hóa hàng
mong sự đóng góp của các thầy cô và đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!.
24
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu…………………………………………………………………… …… . 2
A TÌNH HUỐNG ……… ………………………….………………………… …… 4
I. Hoàn cảnh ra đời ………….………………………….…………………………… 4
II. Diễn biến tình huống ……………………………………….…………….……….4
B, PHÂN TÍCH XỬ LÝ TÌNH HUỐNG … ………………………….…………… 7
I. Xác định mục tiêu xử lý tình huống …………………………………………… 7
II. Cơ sở lý luận …………………………………………………… ………………. 9