Báo cáo " Pháp luật tố tụng hành chính - quá trình hình thành và phát triển " - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi tạp chí luật học số 5/2007
49

ThS. Nguyễn Thị Thuỷ *
rong h thng phỏp lut Vit Nam, phỏp
lut t tng hnh chớnh c xỏc nh l
ngnh lut bao gm tng th nhng quy
phm phỏp lut iu chnh nhng quan h xó
hi phỏt sinh trong quỏ trỡnh gii quyt cỏc
v ỏn hnh chớnh nhm bo v quyn v li
ớch hp phỏp ca ng s, cng c v bo
v trt t phỏp lut ca Nh nc v xó hi.
Phỏp lut t tng hnh chớnh c hỡnh
thnh thi im vo gia thp k th 9 ca

Quc hi ó ban hnh Phỏp lnh th tc gii
quyt cỏc v ỏn hnh chớnh. Tranh chp
hnh chớnh t õy chớnh thc c gii
quyt bng quy trỡnh t tng bi to ỏn
nhõn dõn. õy l s kin phỏp lớ quan trng
bi t nay ngi dõn cú thờm mt phng
thc thc hin quyn khiu kin nhm
bo v quyn, li ớch hp phỏp cho mỡnh.
õy cng chớnh l khi im cho s hỡnh
thnh ca phỏp lut t tng hnh chớnh
trong h thng phỏp lut Vit Nam. S ra
i ca phỏp lut t tng hnh chớnh trong
bi cnh nh vy l c s chỳng ta xỏc
nh thi im hỡnh thnh ca ngnh lut t
tng hnh chớnh. Hn na, cỏc quy phm
phỏp lut t tng hnh chớnh luụn c sa
i, b sung c coi nh l quỏ trỡnh thit
lp c quan ti phỏn hnh chớnh Vit Nam,
va lm va hon thin cựng vi quỏ trỡnh
lónh o ci cỏch th tc hnh chớnh.
T

* Ging viờn Khoa hnh chớnh - nh nc
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
50
thủ theo quy định của Pháp lệnh khiếu nại
tố cáo năm 1991.
Bàn về quy định này của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính, các nhà khoa
học pháp lí có nhiều quan điểm khác nhau:
* Quan điểm thứ nhất: Đây là quy định
hoàn toàn phù hợp trong giai đoạn này khi
toà hành chính vừa mới thành lập, kinh
nghiệm xét xử chưa nhiều, thẩm phán hành
chính còn thiếu kiến thức về quản lí hành
chính nhà nước thì việc đặt ra điều kiện khởi
kiện là nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu sẽ thuận lợi hơn trong công
tác xét xử.
(1)

* Quan điểm thứ hai: Tán thành quy
trình tố tụng hành chính này xuất phát từ ý
nghĩa của thủ tục tiền tố tụng hành chính.
Thủ tục tiền tố tụng sẽ tạo điều kiện thuận
lợi để cơ quan nhà nước xem xét lại quyết
định hành chính, hành vi hành chính của
mình và nếu khiếu nại được giải quyết dứt
điểm tại giai đoạn tiền tố tụng thì sẽ hạn chế
được sự lãng phí về công sức cũng như thời
gian của công dân.
(2)

* Quan điểm thứ ba: Thủ tục tiền tố tụng
là phù hợp nhưng không nên quy định trước


t¹p chÝ luËt häc sè 5/2007
51

cản khi công dân khởi kiện.
- Về đối tượng khởi kiện
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính năm 1996 quy định đối tượng
khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: Quyết
định hành chính, hành vi hành chính. Theo
đó quyết định hành chính được nêu tại khoản
1 Điều 1 như sau: “Quyết định hành chính
trong Pháp lệnh này là quyết định bằng văn
bản của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, văn phòng Chủ tịch nước,
văn phòng Quốc hội, cơ quan nhà nước địa
phương, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân
dân các cấp được áp dụng một lần với một
hoặc một số đối tượng cụ thể”. Như vậy, đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính phải thoả
mãn đồng thời 3 điều kiện sau:

dạng và phức tạp nhưng lại phù hợp với giai
đoạn đầu của pháp luật tố tụng hành chính
khi mà chúng ta chưa có kinh nghiệm xét xử
tranh chấp hành chính tại toà án.
- Về thẩm quyền xét xử theo cấp (Điều
12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính)
Trong giai đoạn này do chưa có sự sửa
đổi Luật tổ chức toà án nhân dân, do vậy Tòa
án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử sơ
thẩm đồng thời chung thẩm những khiếu
kiện hành chính thuộc thẩm quyền của toà án
tỉnh mà Tòa án nhân dân tối cao lấy lên để
giải quyết. Tại Điều 13 Pháp lệnh cũng đã
phân định thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp hành chính giữa cơ quan nhà nước và
toà án như sau:
+ Nếu một người vừa khiếu nại lên cơ quan
cấp trên vừa khởi kiện ra toà án thì việc giải
quyết thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân.
+ Nếu nhiều người, trong đó có người
khiếu nại lên cơ quan nhà nước cấp trên trực
tiếp, có người khởi kiện ra toà án thì việc
giải quyết thuộc thẩm quyền của cơ quan
nhà nước cấp trên. nghiªn cøu - trao ®æi
52


cơ quan nhà nước, thủ trưởng, cán bộ, viên
chức nhà nước đã ra quyết định hành chính,
hành vi hành chính mà người khởi kiện cho
rằng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của họ… Trong khi đó Điều
10 Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo năm 1991 lại
quy định khiếu nại đối với nhân viên mà nội
dung liên quan đến trách nhiệm quản lí của
cơ quan nào thì thủ trưởng cơ quan đó có
trách nhiệm giải quyết Sự mâu thuẫn này
gây nhiều khó khăn cho việc xác định thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, nên theo quy
định của Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo hay
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính năm 1996?
- Về thời hiệu khởi kiện
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính năm 1996 quy định thời hiệu
khởi kiện là 30 ngày tính từ ngày có quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng pháp
luật lại không quy định thời hạn trả lời và
không có ràng buộc nào để cơ quan nhà
nước phải có trách nhiệm trả lời cho người
khiếu nại. Do vậy, trong nhiều trường hợp cá
nhân, tổ chức bị cản trở trong việc khởi kiện
vụ án hành chính hoặc không thể khởi kiện
được vì chưa nhận được quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu.
- Về giai đoạn xét xử sơ thẩm
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án

53

Chng II Lut t chc vin kim sỏt nhõn
dõn khỏng ngh vn bn núi trờn. Thit ngh
õy l ni dung cn c quy nh ti Phỏp
lnh th tc gii quyt cỏc v ỏn hnh chớnh
giỳp cỏc to ỏn cú c s phỏp lớ khi thc hin
hot ng xột x, gúp phn thỏo g nhng
khú khn, vng mc v mt phỏp lut m
cỏc to ỏn trong giai on ny ang gp phi.
2. Giai on t 25/12/1998 n nay
khc phc nhng khú khn vng
mc v th tc t tng c quy nh ti
Phỏp lnh th tc gii quyt cỏc v ỏn hnh
chớnh nm 1996, Quc hi khoỏ X kỡ hp th
4 ngy 02/12/1998 ó thụng qua Lut khiu
ni, t cỏo thay th Phỏp lnh khiu ni, t
cỏo nm 1991. S ra i ca lut ny ó to
ra s ng b khi gii quyt khiu kin hnh
chớnh bng con ng t tng v khiu ni
theo th tc hnh chớnh. Sau khi Lut khiu
ni, t cỏo c ban hnh Phỏp lnh th tc
gii quyt cỏc v ỏn hnh chớnh cng ó sa
i, b sung cho phự hp vi o lut ny.

mt phn vng mc trc õy, ú l: Nu
ht thi hn gii quyt khiu ni ln u m
c quan cú thm quyn khụng tr li thỡ t
chc, cỏ nhõn cú quyn khi kin v ỏn hnh
chớnh ra to ỏn.
- V i tng khi kin
Cng nh Phỏp lnh th tc gii quyt
cỏc v ỏn hnh chớnh nm 1996, ti Phỏp
lnh th tc gii quyt cỏc v ỏn hnh chớnh
sa i nm 1998 quy nh i tng khi
kin v ỏn hnh chớnh l quyt nh hnh
chớnh, hnh vi hnh chớnh. Tuy nhiờn, ngoi
hai i tng trờn Phỏp lnh cũn quy nh
thờm i tng khi kin l quyt nh k
lut buc thụi vic i vi cỏn b, cụng
chc. V quy nh mi ny chỳng tụi cho
rng khụng cn thit m ch cn coi ú l
mt loi vic xột x ca to ỏn quy nh ti
iu 11 Phỏp lnh l c. Bi l, xột v
mt lớ lun quyt nh k lut buc thụi vic nghiªn cøu - trao ®æi
54

03/HĐTPTANDTC năm 2003 còn quy định
quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện
phải là quyết định hành chính lần đầu.
- Về thẩm quyền xét xử theo loại việc của
toà án
Pháp lệnh sửa đổi năm 1998 vẫn sử
dụng phương pháp liệt kê khi xác định thẩm
quyền xét xử theo loại việc của toà án. Theo
quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính năm 1996 tòa án nhân
dân có thẩm quyền xét xử 8 loại việc còn
theo quy định tại Pháp lệnh sửa đổi 1998 thì
có 10 loại việc thuộc thẩm quyền xét xử của
tòa án nhân dân. Pháp lệnh sửa đổi năm
1998 mở rộng thêm các loại việc thuộc
thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân
song về nội dung thì không có sự thay đổi
mà ở đây người làm luật chỉ quy định thêm
về hành vi hành chính liên quan đến các
loại việc này. Như vậy, tại Pháp lệnh sửa
đổi năm 1998 vấn đề thẩm quyền xét xử của
toà án vẫn chưa khắc phục được nhược
điểm của Pháp lệnh cũ, cũng không có sự
phát triển hay đổi mới. Nghị quyết số
03/HĐTPTANDTC năm 2003 hướng dẫn
thi hành Pháp lệnh sửa đổi năm 1998 đã liệt
kê thêm 7 loại việc nữa thuộc thẩm quyền
xét xử của tòa án nhân dân. Chúng tôi cho
rằng việc mở rộng phạm vi thẩm quyền xét
xử là cần thiết vì đây chính là những tranh


55

tiễn xét xử không có sự đồng nhất khi xác
định người bị kiện. Đặc biệt là việc xác
định người bị kiện trong trường hợp nào là
tổ chức, trường hợp nào là cá nhân thì Pháp
lệnh không quy định cụ thể, do vậy rất khó
xác định. Theo Pháp lệnh sửa đổi năm 1998
người bị kiện trong vụ án hành chính là
người có quyết định hành chính, hành vi
hành chính bị kiện. Như vậy, người có
quyết định hành chính, hành vi hành chính
bị kiện có thể là người trực tiếp kí ban hành
quyết định hành chính, trực tiếp thực hiện
hành vi hành chính nhưng cũng có thể là
người có thẩm quyền ban hành quyết định
hành chính, có thẩm quyền tổ chức thực
hiện hành vi hành chính theo quy định của
pháp luật. Khắc phục tình trạng này Nghị
quyết số 03/HĐTPTANDTC năm 2003 đã
xác định người bị kiện trong vụ án hành
chính là cá nhân, cơ quan có thẩm quyền
ban hành quyết định hành chính, có thẩm
quyền thực hiện hành vi hành chính theo
quy định của pháp luật.
- Về thời hiệu khởi kiện
Pháp lệnh sửa đổi năm 1998 cũng quy
định thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là
30 ngày kể từ ngày cá nhân, tổ chức nhận

hoặc bất hợp pháp; tuyên vấn đề án phí, vấn
đề quyền kháng cáo và vấn đề bồi thường
thiệt hại (nếu có).
Tóm lại, trong giai đoạn này Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa
đổi năm 1998 có nhiều điều khoản mới về
quy trình tố tụng. Song, do Luật tổ chức toà
án nhân dân và Luật tổ chức viện kiểm sát
nhân dân ban hành năm 2003 có một số quy
định mới nên có nhiều điều khoản được quy
định tại Pháp lệnh sửa đổi năm 1998 đã mâu
thuẫn với các luật tổ chức. Chẳng hạn như:
Pháp lệnh sửa đổi năm 1998 vẫn quy định
Tòa án nhân dân tối cao có quyền xét xử sơ
thẩm đồng thời chung thẩm tuy nhiên theo nghiên cứu - trao đổi
56 tạp chí luật học số 5/2007

Lut t chc to ỏn nhõn dõn nm 2003 ó

kin thun li cỏ nhõn, t chc cú th
thc hin c quyn khiu kin hnh chớnh
ca mỡnh. Hn na, c Lut khiu ni, t cỏo
sa i nm 2006 v Phỏp lnh th tc gii
quyt cỏc v ỏn hnh chớnh sa i nm
2006 u th hin rt rừ tớnh minh bch,
khỏch quan, tớnh cụng khai ca phỏp lut.
õy chớnh l yờu cu ca Hip nh thng
mi Vit - M trong iu kin hin nay. Vic
sa i, b sung Phỏp lnh th tc gii quyt
cỏc v ỏn hnh chớnh trong giai on ny
cng to ra s phự hp vi hng lot cỏc vn
bn phỏp lut hin hnh khỏc nh: Lut t
ai, Lut t chc tũa ỏn nhõn dõn, Lut t
chc vin kim sỏt nhõn dõn Cú th núi
Phỏp lnh th tc gii quyt cỏc v ỏn hnh
chớnh ln ny ó cú quy nh rt mi so vi
Phỏp lnh c.
- V th tc tin t tng
Khỏc vi trc õy, theo quy nh ca
phỏp lut hin hnh cỏ nhõn, t chc hon
ton cú quyn khi kin v ỏn hnh chớnh ti
to sau khi ó thc hin khiu ni ln u,
nhn c quyt nh gii quyt khiu ni
ln u m khụng ng ý v khụng khiu ni
lờn c quan nh nc tip theo, hoc ht
thi hn gii quyt khiu ni ln u m
khụng c tr li khiu ni v khụng khiu
ni lờn c quan nh nc tip theo. Ngay c
khi cỏ nhõn, t chc ó khiu ni ln th 2,

không đồng ý với quyết định đó.
- Về thời hiệu khởi kiện
Pháp lệnh sửa đổi năm 2006 ngoài việc
quy định thời hiệu chung cho mọi vụ án
hành chính là 30 ngày hoặc 45 ngày, Pháp
lệnh còn quy định thời hiệu riêng cho từng
trường hợp cụ thể nhằm đảm bảo sự phù
hợp với pháp luật hiện hành. Quy định
nhiều loại thời hiệu khởi kiện như vậy tạo
ra sự phức tạp khi cá nhân, tổ chức chấp
hành pháp luật. Nên chăng chỉ quy định một
loại thời hiệu khởi kiện thì sẽ thuận lợi hơn
trong việc chấp hành pháp luật của công
dân. Điều này cũng thể hiện tính khoa học
của pháp luật tố tụng hành chính.
- Về thẩm quyền xét xử các loại việc
Pháp lệnh đã liệt kê 22 loại việc khác
nhau thuộc thẩm quyền xét xử của toà án.
Việc mở rộng phạm vi thẩm quyền xét xử
của tòa án nhân dân là bước phát triển mới
của luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, đã
đến lúc chúng ta không nên liệt kê các loại
việc, bởi các tranh chấp hành chính ngày
càng xảy ra nhiều trong quản lí hành chính
nhà nước. Chính vì vậy, pháp luật tố tụng
hành chính nên quy định thẩm quyền xét xử
của tòa án nhân dân bằng cách loại trừ các
loại việc không thuộc thẩm quyền xét xử
hành chính của toà án. Trên thế giới rất nhiều
quốc gia đã sử dụng phương pháp loại trừ để

hiện tượng quy định quá nhiều khoảng thời
hiệu cho các loại việc khác nhau như hiện
nay gây ra sự phức tạp trong hoạt động áp
dụng pháp luật.
Thứ tư: Về tổ chức, hiện nay thẩm
quyền xét xử các vụ án hành chính thuộc
toà hành chính và thẩm phán hành chính
trong hệ thống tòa án nhân dân. Điều này đã
tạo ra sự không khách quan khi xét xử hành
chính. Bởi tòa án nhân dân địa phương bao nghiªn cøu - trao ®æi
58 t¹p chÝ luËt häc sè 5/2007

giờ cũng chịu sự lệ thuộc nhất định về quản
lí hành chính nhà nước với cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương. Do vậy, phán
quyết của các thẩm phán hành chính sẽ bị
chi phối bởi quan hệ quản lí hành chính nhà
nước. Khắc phục tình trạng này chúng ta

hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính. Nhìn chung Nghị quyết số 04
đã có những quy định tương đối cụ thể, tạo
điều kiện thuận lợi cho các thẩm phán khi
giải quyết vụ án hành chính như: Vấn đề
đối tượng khởi kiện, vấn đề xác định người
bị kiện trong trường hợp nào là cá nhân,
trường hợp nào là tổ chức, vấn đề phân định
thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành
chính giữa toà án và cơ quan nhà nước, vấn
đề trả lại đơn khởi kiện, vấn đề đình chỉ giải
quyết vụ án hành chính khi toà án thụ lí vụ
án hành chính sai, vấn đề quyền hạn của hội
đồng xét xử, vấn đề thẩm quyền xét xử
hành chính và nhiều vấn đề khác. Những
vấn đề mà Nghị quyết số 04 năm 2006 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn là những vấn đề vốn phức
tạp trong quá trình giải quyết các vụ án
hành chính trong thực tiễn. Tuy nhiên, với
những quy định hiện hành thực sự đã giúp
các thẩm phán hành chính nhận thức chính
xác các quy định của pháp luật tố tụng hành
chính và vận dụng đúng trong từng vụ án
hành chính cụ thể. Đây cũng chính là những
bảo đảm pháp lí thiết thực đối với quyền
khiếu kiện hành chính của công dân./.

(1).Xem: Luật gia Nguyễn Thanh Bình (1997), “Tìm
hiểu pháp luật tố tụng hành chính”, Nxb. Thành phố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status