Lời giới thiệu
Kể từ cuộc nội chiến dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Mao Trạch Đông, mà chiến
thắng đã dẫn đến sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, các
nhà lãnh đạo nước này đã không ngừng nỗ lực trải qua hàng loạt các giai đoạn quá
độ và chuyển hướng trong hoạch định chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN)
để nhằm hiện đại hóa hệ thống KH&CN. Ngày nay, Trung Quốc đã tạo nên được
một hệ thống công nghệ điển hình bao gồm các lĩnh vực công nghệ cao như công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng và công
nghệ vũ trụ, cũng như họ đã thiết lập được một đội ngũ các nhà khoa học đặt nền
móng cho sự phát triển công nghệ cao trong thế kỷ 21. Trong tất cả các nỗ lực cải
cách đó, Trung Quốc đang tuân theo một chiến lược phát triển KH&CN tiếp thu dần
dần để rồi cuối cùng tiến kịp, nếu không phải là vượt Mỹ và các nền kinh tế công
nghiệp hóa khác. Chiến lược KH&CN này đã giúp thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc
liên tục phát triển với tốc độ cao trong hơn 20 năm qua, đưa nước này trở thành một
trong những nền kinh tế mạnh nhất và một thị trường đang nổi lớn nhất thế giới.
Để giúp bạn đọc hiểu rõ về các động lực chính ẩn sau sự phát triển này và những
yếu tố nào đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển công nghệ cao ở Trung
Quốc, Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia xin giới thiệu cùng bạn đọc Tổng
quan: “Quá trình hình thành và phát triển các ngành công nghệ cao của Trung
Quốc”.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc. Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia 1
Quá trình hình thành và phát triển các ngành công nghệ cao của
Trung Quốc
Trung Quốc đang vươn lên để trở thành một cường quốc KH&CN toàn cầu.
1,5%, 1,6% và 1,5% GDP trong các năm tương ứng 1978, 1979, và 1980).
Song có một điều nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng, cách tiếp cận này không đem lại hiệu quả
trong tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và cần có một cách tiếp cận mang tính thực dụng hơn để gắn kết
KH&CN với nền kinh tế. Chương trình Quốc gia Khắc phục các Vấn đề Công nghệ Then chốt
trong Kế hoạch 5 năm lần thứ VI (1980-1985) đã xác định các lĩnh vực liên quan, trong đó chỉ còn
có nông nghiệp được coi là lĩnh vực then chốt cùng với 4 lĩnh vực quan trọng khác, đó là:
- Phát triển các nguồn năng lượng và tập trung năng lượng;
- Các ngành công nghiệp nguyên liệu thô và thăm dò địa chất;
- Thiết bị điện, cơ và giao thông vận tải;
- Các công nghệ mới và phát triển xã hội.
Sự hỗ trợ cho công nghệ cao vẫn tiếp tục được duy trì trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 7 được
thông qua năm 1981 và cả trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 8, với sự chú trọng ngày càng tăng đến các
2
biện pháp cải cách nhằm dẫn đến thương mại hóa các hoạt động công nghệ và tìm ra các mô hình
hợp tác mới giữa các nhà sáng tạo và người sử dụng công nghệ.
Các đặc điểm quan trọng trong hệ thống KH&CN cũ (bắt nguồn từ những năm 50) cần phải cải
cách, đó là:
- Tồn tại một số lượng lớn các viện nghiên cứu và nhân lực KH&CN trực thuộc các cấp Chính
phủ;
- Thiếu một sự tác động lẫn nhau giữa các viện nghiên cứu và dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt
động;
- Có sự ngăn cách với những người sử dụng tiềm năng trong các kết quả nghiên cứu.
Cụ thể là tại Trung Quốc vào thời điểm năm 1985, đã có tới hơn 4.900 các viện nghiên cứu R-D
độc lập trực thuộc các cấp chính quyền cao hơn cấp hạt (hạt là một đơn vị hành chính có khoảng 0,5
triệu dân) và khoảng hơn 3000 tổ chức trực thuộc các cấp hạt. Trong nhóm 4900, có hơn 2700 viện
nghiên cứu có các hoạt động liên quan đến công nghệ công nghiệp. Phần lớn các công việc thực
hiện tại các viện nghiên cứu này không phải là hoạt động R-D, mà chủ yếu được định hướng vào
việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước (SOE) vẫn còn yếu kém về phát triển năng
lực và ít có động cơ đổi mới.
Một nhóm lớn các viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) và
quy định vai trò giám sát vừa hạn chế hơn và vừa có hiệu quả hơn của chính quyền, trong khi cho
phép quyền ra quyết định lớn hơn ở các cấp địa phương và cấp viện. Vì vậy, vai trò của chính quyền
trung ương chủ yếu chỉ có tính “chỉ đạo”, chứ không còn là sự phân bổ một cách tự động các nguồn
lực tài chính cho R-D nữa. Điều này có nghĩa là, lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu dân sự và quân sự
sẽ phải cạnh tranh để có được nguồn tài trợ R-D của Chính phủ. Quyết định này cũng kêu gọi sự
hợp tác và phối hợp chặt chẽ hơn giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học với các xí nghiệp
công nghiệp và quốc phòng để nhằm thúc đẩy nhanh việc thương mại hóa và ứng dụng thực tiễn các
kết quả nghiên cứu KH&CN. Bên cạnh đó, chính sách cải cách cũng chủ trương cải thiện khả năng
của Trung Quốc trong việc tiếp thu bí quyết công nghệ nước ngoài bằng cách mở ra các kênh thu
hút các chuyên gia KH&CN và công nghệ của nước ngoài, cũng như bố trí lại một cách hợp lý số
nhân lực KH&CN trong nước (có nghĩa là bố trí các nhà nghiên cứu sao cho gần hơn với các xí
nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp hơn). Chiến lược cải cách và tăng cường phát triển công nghệ
này đã đặt Trung Quốc vào một tiến trình hướng tới một nền kinh tế công nghệ cao, hiện đại hơn.
Chủ trương cắt giảm chi tiêu của Nhà nước cho KH&CN tuân theo Quyết định năm 1985 chính
là một công cụ để thúc đẩy nhanh tiến trình cải cách các viện nghiên cứu. Tỷ lệ chi tiêu của Chính
phủ cho R-D từ ngân sách Nhà nước đã giảm 14% trong các năm 1985 và 1986. Như vậy, từ năm
1985 trở đi, Chính phủ đã giảm sự phân bố ngân sách cho các viện nghiên cứu và buộc họ phải tiếp
cận gần hơn với thị trường. Sự cắt giảm chi tiêu này không phải là đồng nhất và phụ thuộc vào thể
loại của viện nghiên cứu và các chi nhánh của nó:
- Trong trường hợp viện nghiên cứu tham gia vào hoạt động R-D “hàng hóa công” (chăm sóc
sức khỏe, y học và kiểm soát dân số), tức là khả năng tìm kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài bị hạn
chế, thì tỷ lệ cắt giảm chỉ từ 10-20% (tính trên cơ sở ngân sách năm 1987);
- Nếu là trong nông nghiệp, một lĩnh vực có mức độ ưu tiên cao của đất nước và trong đó cũng
có các thành phần thuộc về hàng hóa công, thì tỷ lệ cắt giảm chỉ là 10%;
- Đối với các viện nghiên cứu thuộc CAS, là nơi Chính phủ chỉ cần duy trì một lực lượng các nhà
nghiên cứu tinh túy và cốt lõi để tham gia vào các hoạt động nghiên cứu cơ bản, thì tỷ lệ cắt giảm có
thể áp dụng tới 70%;
- Đối với các viện công nghệ công nghiệp, đặc biệt là các viện trực thuộc cấp tỉnh, tỷ lệ cắt giảm
có thể lên tới 100%.
Thời gian thực hiện những cắt giảm trên có thể khác nhau, nhưng các biện pháp được áp dụng
tạo chủ yếu bằng nội lực trong nước (các thành phần nội địa chiếm từ 80% trở lên), có tiềm năng
xuất khẩu cao hoặc đạt tiêu chuẩn quốc tế.
- Chương trình Phổ biến KH&CN quốc gia (1990): Chương trình này hỗ trợ cho các SOE trong
việc ứng dụng các kết quả R-D KH&CN để có thể thương mại hóa được. Chương trình cung cấp tài
chính thông qua các khoản vay của Nhà nước, tài trợ của các chính quyền địa phương và vốn đầu tư
của các doanh nghiệp.
- Chương trình các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản ưu tiên quốc gia (1991): Chương trình này thúc
đẩy sự chú trọng hơn nữa đến nghiên cứu khoa học cơ bản.
- Chương trình phát triển các lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu cơ bản quốc gia/Chương trình 973
(1997): đây là một chương trình có cách tiếp cận chiến lược, đa ngành và định hướng tương lai,
nhằm xác định và thúc đẩy các nhu cầu về R-D cơ bản, khoa học và giáo dục trong các lĩnh vực
phát triển kinh tế, phát triển công nghệ cao, các công nghệ môi trường và thân thiện sinh thái, các
nguồn năng lượng cải tiến và chăm sóc sức khỏe.
Qua sự phản ánh của các chương trình KH&CN trong thời kỳ cải cách cho thấy, cộng đồng khoa
học của Trung Quốc đã bị thúc đẩy để chuyển định hướng các nỗ lực của họ sang các nghiên cứu
nhằm đáp ứng thị trường và mang định hướng kết quả hơn. Các chương trình phát triển KH&CN
trên sẽ giúp dẫn hướng cho sự chuyển đổi này bằng cách tạo ra các biện pháp khuyến khích đổi mới
và tinh thần khởi sự doanh nghiệp, cũng như bằng việc hạn chế bớt sự phân bổ tài trợ của Nhà nước
đối với hầu hết các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, qua đó buộc các nhà nghiên cứu và các tổ
chức R-D phải cạnh tranh để có được các nguồn tài trợ của Nhà nước. Cho đến nay, các Chương
trình 863 và Chương trình Ngọn đuốc là những chương trình thành công nhất và có ảnh hưởng rộng
lớn đến sự phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao. Hai chương trình này sẽ được đề cập
chi tiết hơn ở dưới đây.
2. Chương trình R-D Công nghệ Cao Quốc gia (Chương trình 863)
Chương trình 863 là chương trình R-D công nghệ cao có tính chiến lược của Trung Quốc, được
thiết kế để: (1) Tập trung các nguồn lực công nghệ tốt nhất ở Trung Quốc cho mục tiêu đuổi kịp
trình độ công nghệ cao của thế giới trong các lĩnh vực lựa chọn, (2) Xóa bỏ khoảng cách giữa Trung
Quốc và các nước khác và (3) Tạo các đột phá trong một số lĩnh vực quan trọng.
Các nguyên tắc chủ đạo của Chương trình 863 như sau: đề ra các mục tiêu có giới hạn, xác định
3. Chương trình Ngọn đuốc (1988) và sự hình thành các khu phát triển công nghệ cao
Được Hội đồng Nhà nước phê chuẩn tháng 8 năm 1988 và do Bộ KH&CN Trung Quốc
(MOST) thực hiện, Chương trình Ngọn đuốc là một chương trình chỉ đạo đối với sự phát triển
ngành công nghiệp công nghệ cao và mới của Trung Quốc. Nhiệm vụ cốt lõi của Chương trình là
phát huy tất cả các thế mạnh và tiềm năng của các lực lượng KH&CN của Trung Quốc và thúc đẩy
nhanh thương mại hóa các thành tựu công nghệ cao và mới, công nghiệp hóa các sản phẩm công
nghệ cao và mới và quốc tế hóa ngành công nghiệp công nghệ cao và mới với định hướng vào thị
trường. Trọng tâm của Chương trình Ngọn đuốc là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển
ngành công nghiệp công nghệ cao và mới, trong đó bao gồm các xúc tiến như hình thành các chính
sách, luật pháp và các quy định liên quan, thiết lập nên một hệ thống điều hành và quản lý thích hợp
đối với ngành công nghiệp công nghệ cao, khai thác các kênh cung cấp tài chính mới trong đó có cơ
chế đầu tư vốn mạo hiểm, phát triển các nguồn thông tin trong nước và nước ngoài, xây dựng các
mạng lưới thông tin và thiết kế các kế hoạch phát triển trung và dài hạn, cũng như các kế hoạch thực
hiện.
Chương trình Ngọn đuốc là một thành công về tăng cường xây dựng cơ sở công nghiệp công
nghệ cao của Trung Quốc và dường như đã thực hiện rất tốt việc tiến hành công nghiệp hóa một số
kết quả R-D thành công. Chương trình đã được bàn thảo nhiều vì sự phát triển các ngành công
nghiệp công nghệ cao ở Trung Quốc có thể có ảnh hưởng lớn đến cả Trung Quốc và nhiều đối tác
thương mại chính của nước này.
6
Chương trình Ngọn đuốc có mục tiêu tăng tốc thương mại hóa các kết quả R-D và công nghiệp
hóa công nghệ cao. Thông qua Chương trình Ngọn đuốc, 53 Khu Phát triển Công nghiệp Công
nghệ cao (HTIDZ) đã được thiết lập.
Các khu HTIDZ tuân theo 7 chức năng sau:
(1) Làm cơ sở cho sự phát triển các công nghệ cao/mới;
(2) Là nguồn cung cấp các sản phẩm và công nghệ cao/mới cho các ngành công nghiệp truyền
thống;
(3) Là cửa sổ mở ra thế giới bên ngoài;
(4) Các khu thử nghiệm về sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa KH&CN với nền kinh tế và thúc đẩy
sự chuyển hóa các thành tựu KH&CN và đổi mới kỹ thuật;
đổi mới theo khu vực trên cơ sở khung Hệ thống Đổi mới Quốc gia (NIS) để thúc đẩy thương mại
hóa các kết quả R-D và công nghiệp hóa các công nghệ cao. Tác dụng sức mạnh đòn bẩy của một
thị trường nội địa lớn và nguồn nhân lực dồi dào của Trung Quốc đã đóng góp đáng kể vào sự thành
công của cách tiếp cận này.
Một thập kỷ sau khi “Quyết định về cải cách hệ thống quản lý KH&CN” được công bố vào năm
1985, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã khẳng định lại các mục tiêu KH&CN của đất nước trong
một Quyết định chung của ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và Hội đồng Nhà nước
7
mang tên “Quyết định về việc thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ”, ban hành vào tháng 5
năm 1995 tại Hội nghị Toàn quốc về KH&CN. Văn kiện mới này đã đánh dấu sự khởi đầu của giai
đoạn hai trong nỗ lực cải tổ được thực hiện dựa trên các chương trình KH&CN hiện tại song song
với việc tiến hành “tiếp thêm sinh lực cho đất nước bằng khoa học và giáo dục”.
Văn kiện này được dựa trên 11 nguyên tắc chủ đạo chính như sau:
1. Thực hiện quan điểm cho rằng, KH&CN là lực lượng sản xuất chính trong mọi lĩnh vực;
2. Tích cực đẩy mạnh tiến bộ KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp và các vùng nông thôn;
3. Nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng công nghiệp bằng những tiến bộ về KH&CN;
4. Phát triển công nghệ cao và các ngành công nghiệp công nghệ cao;
5. Thúc đẩy tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển xã hội;
6. Kiên quyết đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản;
7. Tiếp tục cải tổ quản lý KH&CN và thiết lập một hệ thống quản lý KH&CN mới phù hợp
với hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và luật pháp về phát triển KH&CN;
8. Đào tạo một đội ngũ nhân lực KH&CN có trình độ cao và nâng cao trình độ KH&CN của
toàn bộ quốc gia;
9. Tăng đầu vào KH&CN thông qua các kênh khác nhau và ở các mức độ khác nhau;
10. Mở cửa hơn nữa Trung Quốc ra với thế giới bên ngoài và tích cực tham gia hợp tác và trao
đổi quốc tế về KH&CN;
11. Tăng cường một cách có hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ đối với công tác
KH&CN.
Hướng tới viễn cảnh năm 2010, Quyết định năm 1995 đã đề ra một loạt các mục tiêu, trong đó
chú trọng đến giáo dục và đào tạo; thành lập các liên doanh (với các đối tác trong nước hoặc nước
nghiệp dịch vụ công nghệ và bằng cách tạo điều kiện cho việc khởi sự các doanh nghiệp.
Tiến hành sâu hơn nữa công cuộc cải tổ hệ thống KH&CN và tối ưu hóa sự phân bổ nguồn lực
cho R-D:
- Chuyển các viện nghiên cứu ứng dụng và thiết kế công nghiệp thành các doanh nghiệp
KH&CN;
- Cải cách hành chính trong việc bổ nhiệm, phong chức danh và tuyển dụng nhân lực KH&CN
theo các nguyên tắc thị trường;
- áp dụng việc xét duyệt công bằng (peer review) và sử dụng các cơ quan thẩm định được công
nhận nhằm cải tiến việc đánh giá các kết quả KH&CN;
- Tăng cường quản lý và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đẩy mạnh cung cấp tài chính cho R-D:
- Tăng nguồn đầu vào KH&CN của Nhà nước từ mọi cấp chính quyền lên mức 1,5% GDP vào
năm 2005;
- Phát triển các thị trường vốn và cho phép khai thác các phương thức có hiệu quả cung cấp tài
chính cho các ngành công nghiệp công nghệ cao và các doanh nghiệp công nghệ;
- Thành lập Quỹ Đổi mới công nghệ của Chính phủ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp KH&CN
vừa và nhỏ;
- Sử dụng các biện pháp khuyến khích thuế và chính sách thu mua Nhà nước để hỗ trợ KH&CN
và cung cấp tín dụng xuất khẩu nhằm thúc đẩy xuất khẩu công nghệ cao.
Năm 2002, Chính phủ Trung Quốc đề ra mục tiêu dài hạn đầy hoài bão tăng GDP lên gấp 4 lần,
tức là đạt 4 000 tỷ USD, với GDP tính theo đầu người lên tới 3 000 USD vào năm 2020. Chính phủ
lập kế hoạch đạt mục tiêu này bằng cách "thực hiện con đường công nghiệp hóa mới” với KH&CN
và giáo dục là hai trụ cột phát triển nền kinh tế đất nước.
Báo cáo của Chủ tịch Giang Trạch Dân tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI năm
2002 vạch ra các hướng dẫn thực thi mục tiêu chiến lược trên như sau:
- Chú trọng hơn nữa cải thiện chất lượng và hiệu quả tăng trưởng kinh tế bằng cách dựa vào
KH&CN và nâng cao trình độ lực lượng lao động,
- Củng cố nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu công nghệ cao và thúc đẩy đổi mới các công nghệ
chủ chốt và tích hợp hệ thống để KH&CN Trung Quốc có thể phát triển với bước tiến lớn,
- Mua quyền sở hữu trí tuệ độc lập trong các lĩnh vực chủ chốt của KH&CN tiên tiến,
cứu được thực hiện chủ yếu tại các viện nghiên cứu trực thuộc CAS với các quá trình chế tạo và sản
xuất. Ngoài ra, các kỹ sư của NERC được kỳ vọng là sẽ nhập khẩu, lĩnh hội và tiếp thu các công
nghệ nước ngoài để sao cho có thể hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ và điều
chỉnh về cơ cấu. Chính vì mục tiêu này mà NERC có thể nhập khẩu miễn thuế các thiết bị và công
nghệ.
Mục tiêu chương trình tổng thể của NERC là nhằm chuyển hóa R-D một cách nhanh chóng hơn
nữa thành các sản phẩm đổi mới trong khi sử dụng các nỗ lực kết hợp và áp dụng các kỹ thuật quản
lý mới để đạt được mục tiêu này. Bộ Khoa học và Công nghệ (MOST) có vai trò giám sát các
chương trình của NERC và đánh giá theo chu kỳ sự tiến bộ của từng trung tâm, một số các trung
tâm này còn được nhận tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB). Các trung tâm này được tài trợ trong
3 năm đầu, sau thời hạn đó mỗi một trung tâm cần đạt được các mục tiêu đề ra theo kế hoạch phát
triển đã được Nhà nước phê chuẩn. Những trung tâm nào chưa thực hiện đúng theo tiến độ sẽ được
gia hạn để đạt bằng được các mục tiêu của mình. Nhưng không giống như thời gian trước cải tổ,
nếu các trung tâm không đạt được các mục tiêu chính của mình trong khoảng thời gian gia hạn đó,
hoặc là sau hai lần xét duyệt liên tục, thì danh định và cả nguồn tài trợ của trung tâm đó sẽ bị hủy
bỏ.
Tuy nhiên, trên thực tế quy trình đăng ký quá phức tạp và tệ quan liêu đã gây khó khăn cho các
nhà khoa học muốn xin tài trợ để thực hiện nghiên cứu của mình. Nhiều nhà khoa học phàn nàn
rằng chính quyền trung ương cung cấp kinh phí cho NERC không đúng thời hạn, buộc các trung
tâm này phải dựa vào các nguồn kinh phí khác để trang trải cho việc xây dựng các phòng thí nghiệm
hay các chi tiêu vận hành khác. Hay việc nhập khẩu thiết bị của nước ngoài cũng không được xuôn
sẻ do các thủ tục hải quan và những vấn đề kiểm soát xuất khẩu khác. Chính do hậu quả của những
khó khăn trên mà mức độ thành công của NERC không được đồng đều.
Trong thời gian gần đây, các trung tâm này đang được cải tổ để trở thành các doanh nghiệp tự
lập về tài chính, bằng con đường thương mại hóa các sản phẩm mới hay thu lệ phí từ các dịch vụ tư
vấn công nghệ. Những trung tâm nào được vay tiền có bảo lãnh của chính quyền sẽ phải hoàn trả
sau một thời hạn nhất định. Bằng biện pháp này, Chính phủ hy vọng rằng các trung tâm NERC sẽ
trở nên độc lập về tài chính bằng cách xuất khẩu các sản phẩm của mình. Ngoài ra các trung tâm
này còn được khuyến khích phát triển các tiêu chuẩn công nghiệp công nghệ cao mới và của bản xứ.
Ngoài việc thành lập các trung tâm NERC, Chính phủ Trung Quốc còn xây dựng hơn 150
Quốc. Thành lập năm 1949, Viện được coi tương đương với Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ
hoặc Hội Hoàng gia của Anh. Tuy nhiên, không giống như Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia và
Hội Hoàng gia, CAS điều hành các viện nghiên cứu riêng của mình, với chức năng là những công
cụ nghiên cứu của Chính phủ.
Giữa năm 1999 và 2000, CAS đã thực hiện một cuộc cải cách, gọi là Chương trình Đổi mới Tri
thức (KIP) để điều chỉnh lại trọng tâm nghiên cứu và tái cơ cấu tổ chức. Việc quản lý các cơ sở
nghiên cứu được hợp lý hóa; xóa bỏ nhiều ngành khoa học và lĩnh vực nghiên cứu lạc hậu lỗi thời;
chuyển đổi một số viện nghiên cứu thành doanh nghiệp hoặc các thực thể pháp nhân độc lập và bãi
bỏ chế độ đương nhiệm suốt đời.
Năm 2003, CAS có tổng số cán bộ hơn 50.000 người trong các cơ sở nghiên cứu và các cơ sở hỗ
trợ, trong số đó có khoảng 30000 là cán bộ nghiên cứu và 5000 người là cán bộ quản lý. Các nhà
nghiên cứu của CAS là các nhà khoa học và kỹ sư giỏi nhất ở Trung Quốc; năm 2002, có 5000 Tiến
sĩ, 5100 Thạc sĩ Khoa học và 6700 Cử nhân Khoa học. Tổng thu nhập của CAS năm 2003 là 10,04
tỷ NDT (1,21 tỷ USD). Tài trợ của Chính phủ Trung Quốc chiếm 52% thu nhập của CAS; 48% còn
lại là từ nguồn phi Chính phủ.
Với nguồn lực trí tuệ và các cơ sở của mình, CAS là lực lượng R-D chính. Năm 2003, CAS chịu
trách nhiệm 6 trong số 26 chương trình nghiên cứu cơ bản quốc gia mới được giao (chiếm 23%).
Trong số 333 dự án nghiên cứu cơ bản chủ chốt của quốc gia, CAS chịu trách nhiệm 92 dự án, bằng
27,6% tổng số dự án. Cũng trong năm này, 58 trong số 160 nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc của quốc gia
11
(36% tổng số) là các nhà nghiên cứu của CAS. CAS chiếm phần lớn (46%) nguồn tài trợ của Quỹ
Khoa học Tự nhiên Quốc gia (NSFC) cho các dự án chủ chốt năm 2003.
CAS cũng là cơ sở đào tạo sinh viên tốt nghiệp chính. Năm 2002, CAS có 22497 sinh viên tốt
nghiệp đăng ký, trong đó 9736 là ứng cử viên Tiến sĩ và 12761 là học viên Thạc sĩ Khoa học.
CAS với các phân ban khoa học là những tổ chức tư vấn cao nhất ở Trung Quốc về vấn đề chính
sách và phát triển KH&CN của quốc gia và có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề chính sách KH&CN.
Ví dụ, Chương trình R-D Công nghệ Cao 863 được bắt đầu năm 1986 có xuất xứ từ đề nghị của
CAS.
CAS cũng duy trì mối quan hệ hợp tác tích cực với khu vực công nghiệp. Đến cuối năm 2003,
CAS đã đầu tư vào 336 hãng, 158 trong số đó thuộc toàn quyền kiểm soát của CAS (tức là, CAS
có hiệu quả, 30% được coi là thành đạt, 30% ở mức độ khá tốt và số còn lại kém hiệu quả. Số doanh
nghiệp công nghệ này của CAS có số nhân lực khoảng 20.000 người, trong đó có khoảng 10.000
thuộc các viện của CAS, số còn lại làm việc theo chế độ hợp đồng. Đây chính là một chuyển biến
lớn trong việc điều động nhân lực, và sự thay đổi trong nền văn hóa nghiên cứu có thể được coi như
một kết quả thành công của quá trình đổi mới.
Để đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, CAS đã sớm sử dụng một phần trong nguồn kinh phí của mình
để thúc đẩy nghiên cứu cơ bản các trường đại học thông qua một loạt các biện pháp mà sau đó dẫn
12
đến sự thành lập NNSF (Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia) vào năm 1986. Bằng một hệ thống trợ
cấp nghiên cứu thông qua cạnh tranh công bằng, NNSF đã kích thích nghiên cứu tại các trường đại
học và còn tạo ra cơ chế buộc các nhà khoa học thuộc CAS muốn nhận được sự hỗ trợ từ NNSF thì
cũng phải được đánh giá công bằng trên một thị trường mở. Hiện tại, các nhà khoa học thuộc CAS
được nhận khoảng 30% trị giá các tài trợ.
Các phân viện nghiên cứu thuộc CAS tại một số tỉnh như Thượng Hải và Quảng Châu đã sớm
chuyển định hướng các nỗ lực của mình vào giải quyết các vấn đề của địa phương và hỗ trợ cho các
lĩnh vực ưu tiên của địa phương. Tại Quảng Châu, Viện Hàn lâm Khoa học Quảng Đông đã hợp
nhất 10 phân viện CAS ở địa phương để thành lập Chi nhánh CAS tại Quảng Đông cùng với các
viện nghiên cứu địa phương khác. Một sự hợp nhất như vậy là ví dụ điển hình cho các nơi khác, bởi
vì sự tồn tại một số lượng lớn các viện nghiên cứu độc lập có thể dẫn đến sự trùng lặp và sử dụng
kém hiệu quả các nguồn lực nghiên cứu. Cũng như vậy, Viện Hàn lâm Khoa học Thượng Hải, bao
gồm các viện nghiên cứu trực thuộc trung ương và chính quyền địa phương đã được thành lập để có
được một sự tiếp cận phối hợp chặt chẽ trong nghiên cứu.
6. Sự hình thành các doanh nghiệp công nghệ
Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc hình thành một nhóm các doanh nghiệp phát triển dựa
trên cơ sở công nghệ, hay còn gọi là các doanh nghiệp công nghệ. Số doanh nghiệp này chủ yếu là
các đơn vị khai thác và sử dụng các thành quả R-D (Spin-off) của các viện nghiên cứu công và các
doanh nghiệp mới được khởi sự bởi các cán bộ R-D. Các doanh nghiệp này được hình thành trước
hết do kết quả của việc thực hiện thí điểm các chính sách cải tổ các viện nghiên cứu công. Từ trước
khi diễn ra công cuộc cải tổ hệ thống KH&CN, vào những năm 1980 Chính phủ Trung Quốc đã tiến
R-D và thường có được các kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa được vào đúng thời điểm chúng
được hình thành. Sự định hướng công việc kinh doanh của họ tập trung vào giai đoạn cuối của đổi mới,
có nghĩa là phát triển sản phẩm mới và thương mại hóa. Các doanh nghiệp công nghệ còn được hưởng
quyền tự chủ cao hơn so với các doanh nghiệp truyền thống trong quá trình ra quyết định kinh doanh.
Hiện nay nhóm doanh nghiệp này đang ngày càng trở thành một lực lượng quan trọng trong hệ thống
đổi mới quốc gia của Trung Quốc.
Sự hình thành các trung tâm chuyển giao công nghệ quốc gia
Để tạo nên các mối quan hệ bền chặt hơn nữa giữa ngành công nghiệp, các trường đại học và các
viện nghiên cứu, thúc đẩy sự kết hợp các nguồn lực KH&CN của các trường đại học và ngành công
nghiệp, khuyến khích chuyển giao các công nghệ tiên tiến cho khối công nghiệp, một số đơn vị chuyển
giao công nghệ, được thành lập trước đây bởi các trường đại học có thế mạnh về KH&CN và có nguồn
kinh phí KH&CN dồi dào đã được lựa chọn để hình thành các trung tâm chuyển giao công nghệ quốc
gia. Các trung tâm này đóng một vai trò tích cực trong việc thúc đẩy xây dựng hệ thống đổi mới công
nghệ với cốt lõi là ngành công nghiệp, bên cạnh đó làm tối ưu hóa các cơ cấu công nghiệp và nâng cao
công nghệ sản xuất. Được coi là một cơ sở hạ tầng nhằm tổ chức và củng cố các nguồn lực KH&CN của
các trường đại học, một trung tâm chuyển giao công nghệ quốc gia thực hiện các nhiệm vụ như: phát
triển và phổ biến các công nghệ thông thường, thúc đẩy và cải tiến việc xây dựng các trung tâm công
nghệ công nghiệp, thúc đẩy việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu của các trường đại học và chuyển
giao công nghệ, đẩy mạnh hợp tác đổi mới công nghệ quốc tế và cung cấp các dịch vụ toàn diện cho
ngành công nghiệp. Bên cạnh đó là các công viên KH&CN được chính thức khởi xướng năm 2000,
được coi là đầu mối liên kết giữa những cải cách về KH&CN, giáo dục và kinh tế cũng đã đạt được
những bước tiến bộ đáng kể dưới sự hỗ trợ của chính quyền các cấp. Các công viên này chính là cơ sở
cho việc chuyển hóa các kết quả KH&CN của các trường đại học, các vườn ươm tạo các ngành công
nghệ cao và là một mũi nhọn phát triển kinh tế mới.
7. Những cải tổ về luật pháp nhằm thúc đẩy KH&CN và thương mại hóa công nghệ
Một điểm đặc trưng khác của thời kỳ cải cách sau năm 1985 đó là sự cải cách về luật pháp.
Những cải tổ này đã giúp thúc đẩy đầu tư công nghệ cao của nước ngoài và tạo ra những sự bảo hộ
cần thiết về luật pháp đối với đổi mới của bản xứ. Trong vòng hai thập kỷ gần đây, Trung Quốc đã
ban hành (và cập nhật) nhiều bộ luật mới chi phối sự sản xuất, chuyển giao và bảo hộ đối với nghiên
8. Chiến lược phát triển công nghệ cao nhằm vào hiện đại hóa quân sự và định hướng đầu tư
trực tiếp nước ngoài
Chính phủ Trung Quốc có một tầm nhìn phát triển KH&CN bền vững và được phối hợp. Nhiều
phát triển công nghệ cao của Trung Quốc được thúc đẩy bằng các chính sách xuất phát từ chủ
trương của Chính phủ, chú trọng thúc đẩy tăng trưởng trong các lĩnh vực mà Chính phủ tin rằng qua
đó có thể hỗ trợ thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế.
Từ cuối những năm 1970, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng hiện đại hóa rộng khắp toàn bộ
nền kinh tế sẽ củng cố hiện đại hóa quân sự về lâu dài. "Tại Đại hội Đảng lần thứ 16 (năm 2002),
các nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định lại cam kết phát triển kinh tế và tiếp tục ủng hộ hiện đại
hóa quân sự". Trong thực tế, chính sách này được biến thành sự phát triển đồng thời giữa công nghệ
phục vụ dân sự và quân sự. Ví dụ, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc tiến hành nghiên cứu hợp
tác với các viện khác nhau về xây dựng, cảm biến từ xa, vật liệu bán dẫn và lade tại các thành phố
có cơ sở công nghiệp quốc phòng mạnh ở Trung Quốc. Kết quả là dẫn đến sự hợp tác chặt chẽ với
ngành quân sự về "nghiên cứu ứng dụng, với các sản phẩm được tài trợ hoặc phát triển để sử dụng
trong quân sự".
Tháng 3 năm 1986, Trung Quốc đề ra Chương trình Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ cao
Quốc gia (Chương trình 863). Nhiệm vụ của chương trình này tập trung vào công nghệ cao có tính
chiến lược, dự báo sẽ là các công nghệ mũi nhọn, hữu ích cho sự phát triển trung hạn và dài hạn của
Trung Quốc. Chương trình 863 tác động đến các lĩnh vực chính như công nghệ sinh học, công nghệ
hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ lade, công nghệ tự động hóa, công nghệ năng
lượng và vật liệu tiên tiến. Chương trình này ban đầu do các nhà khoa học về vũ khí chiến lược của
Trung Quốc đề xuất và nhấn mạnh trọng tâm tiếp tục là "phát triển công nghệ dân sự và quân sự có
tính chiến lược và mục tiêu được công bố là đạt sự ngang bằng về công nghệ với các quốc gia công
nghiệp hóa". Tài trợ R-D cho dự án thuộc Chương trình 863 thường từ các kênh khác nhau, như của
Chính phủ, ngành công nghiệp và các thực thể tư nhân.
Chương trình 863 tạo ra một dạng tài trợ mới thông thoáng hơn, cho phép Chính phủ Trung
Quốc đặt ra các mục tiêu cụ thể thông qua tài trợ cho R-D có chỉ đạo. Tài trợ theo Chương trình 863
được phân bổ trực tiếp cho các chuyên gia 863, không qua hệ thống quan liêu giấy tờ. Do vậy,
Chính phủ có thể giám sát nhanh các ưu tiên về KH&CN của mình. Ví dụ, các tiến bộ công nghệ
hàng không vũ trụ của các tiểu ban chuyên gia 863 đã đóng góp vào thành công mới đây của
Ví dụ như, ngành công nghiệp dược phẩm, theo một số đánh giá Trung Quốc hiện đang là nhà
sản xuất và cung cấp thành phần dược phẩm lớn thứ hai trên thế giới, tuy nhiên hầu hết các sản
phẩm này cho đến nay chỉ là các dược phẩm thông thường. Để tạo được tiến bộ đích thực trong lĩnh
vực dược phẩm, ngành công nghiệp dược phẩm của Trung Quốc cần mở rộng R-D để phát triển các
sản phẩm riêng của mình, nâng cao hiệu quả và tăng cường kiểm tra chất lượng. Trong khi các sản
phẩm do các hãng dược của Trung Quốc sản xuất chủ yếu là các dược phẩm thông thường, đầu tư
nước ngoài, chuyển giao công nghệ và hệ thống quản lý đi kèm theo đầu tư này đang thúc đẩy sự
tăng trưởng của ngành công nghiệp dược ngày một tinh tế hơn. Các nhà sản xuất dược phẩm nước
ngoài đang bắt đầu thiết lập các cơ sở R-D ở Trung Quốc. Sau Hồng Kông, Mỹ là nước đầu tư lớn
thứ hai vào ngành công nghiệp dược của Trung Quốc.
Ngành công nghệ sinh học của Trung Quốc cũng đang phát triển và Chính phủ Trung Quốc hỗ
trợ sự phát triển của ngành này. Một nhà điều hành của ngành công nghiệp công nghệ sinh học của
Mỹ cho biết, Chính phủ Trung Quốc hỗ trợ ngành công nghệ sinh học bằng việc đầu tư hàng năm
hơn 600 triệu USD cho các trường đại học, trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và khuyến
khích người Trung Quốc có bằng tiến sĩ về lĩnh vực các khoa học sự sống ở Mỹ trở về Trung Quốc,
thông qua các biện pháp khuyến khích họ, như làm giáo sư đại học, trao đổi hợp tác...
Trung Quốc cũng thu hút đầu tư R-D vào công nghệ sinh học từ Đài Loan. Trong lúc ngành
công nghiệp công nghệ sinh học của Đài Loan tương đối mạnh, ngày càng có nhiều đầu tư hơn của
Chính quyền và khu vực tư nhân của Đài Loan hiện đang chảy vào lục địa. Đầu tư này, cùng với
đầu tư của Chính phủ Trung Quốc vào công nghệ sinh học đã hỗ trợ ngành công nghiệp công nghệ
sinh học Trung Quốc phát triển mạnh với tỷ lệ tăng trưởng 30%/năm và tốc độ này ngày một gia
16
tăng, trong khi ngành công nghiệp công nghệ sinh học của Đài Loan tăng khoảng 25%/năm trong 5
năm qua và đang giảm dần.
Chính phủ Trung Quốc có vai trò quan trọng trong sự phát triển công nghệ cao của Trung Quốc
và chính sách công nghệ sử dụng các tiêu chuẩn làm đòn bẩy để xây dựng ngành công nghiệp này
nói chung. Trung Quốc đã "áp dụng các tiêu chuẩn công nghệ riêng để làm cho các điều khoản
cạnh tranh trở nên thuận lợi cho công nghệ Trung Quốc". Một khi các hãng nước ngoài chấp nhận
các tiêu chuẩn do Trung Quốc ban hành để tiếp cận vào thị trường đang gia tăng của Trung Quốc,
các hãng này sẽ hỗ trợ xây dựng một nền kinh tế thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu từ Trung Quốc với
1995, IBM cũng xây dựng một Phòng thí nghiệm nghiên cứu, với sự chú trọng ban đầu là phát triển
các phần mềm ứng dụng có liên quan đặc biệt tới Trung Quốc, bao gồm thư viện số, nhận dạng lời
nói, phiên dịch, xử lý tiếng Trung, đa phương tiện và Internet. Thường đi kèm theo các chương trình
R-D này và các loại hình đầu tư khác là các hình thức chuyển giao công nghệ truyền thống, chẳng
hạn như chương trình giáo dục và đào tạo, cấp phép sử dụng, hợp đồng nghiên cứu và cung cấp thiết
bị.
Nhưng điều gì đã tạo động lực cho các công ty đa quốc gia nước ngoài đầu tư vào R-D ở Trung
Quốc và hoạt động này có gì khác so với các thực tiễn đầu tư và chuyển giao công nghệ trước đây.
Việc xem xét quá trình tiến hoá của hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ và R-D do nước ngoài
17
đầu tư sẽ phản ánh được phần nào tác động của xu hướng gia tăng R-D có thể đem lại cho công
cuộc phát triển và quan hệ quốc tế của Trung Quốc.
R-D: Bước cuối cùng trong chuỗi giá trị đầu tư nước ngòai
Như các ví dụ ở trên cho thấy, chuyển giao công nghệ nếu xét ở một số hình thức thì không phải
là một hiện tượng hoàn toàn mới đối với Trung Quốc. Một thời gian không lâu sau những khoản
đầu tư ban đầu, IBM và các công ty máy tính khác cũng bắt đầu thành lập các trung tâm đào tạo để
hỗ trợ cho các chương trình cho các đối tác Trung Quốc. Đây là một hình thức phổ biến trong hoạt
động thâm nhập đầu tiên của các công ty công nghệ cao khi đầu tư ra nước ngoài.
Các trung tâm R-D hiện nay biểu thị một bước tiến tiếp theo trong quá trình tiến hoá của công
cuộc đầu tư công nghệ cao ở Trung Quốc. Như đã được mô tả bởi các nhà quản lý R-D, các chuyên
gia công nghiệp và các nhà nghiên cứu đã quen thuộc với thị trường Trung Quốc cũng như các thực
tiễn đầu tư công nghệ cao trên toàn cầu, sự tăng trưởng của việc đầu tư R-D nước ngoài ở Trung
Quốc chỉ là pha cuối cùng nằm trong một số pha thường có khi đầu tư công nghệ cao ra thị trường
nước ngoài. Do vậy, thị trường Trung Quốc cũng kinh qua những động thái đã từng xảy ra ở các nơi
khác trên thế giới dưới tác động của toàn cầu hoá. ở Trung Quốc, R-D là pha cuối cùng trong số 4
pha đầu tư công nghệ cao của nước ngoài (mặc dù tất cả các pha này diễn ra liên tiếp khi một nhà
đầu tư mới thâm nhập vào thị trường):
Pha I: Bán hàng, Marketing, cấp giấy phép sử dụng và hỗ trợ dịch vụ kỹ thuật.
Pha đầu, bao gồm việc mở văn phòng đại diện hoặc kinh doanh, thường ở các thành phố lớn
hoặc trung tâm công nghiệp thích hợp. Mục đích đặt ra là tạo sự có mặt ở thị trường, tạo ra một địa
Theo thời gian, các nhà đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc và những nơi khác cần phải nâng cấp
dây chuyền sản xuất để tiến kịp với thị trường và duy trì được khả năng cạnh tranh, do những sản
phẩm bán ra lúc đầu đã trở thành lạc hậu. Ngoài ra, khi các công ty đa quốc gia tiếp tục mở rộng
hoạt động kinh doanh ra khắp toàn cầu thì các công ty con của họ sẽ trở nên tự lập hơn và đóng góp
nhiều hơn vào xí nghiệp toàn cầu của công ty mẹ- không chỉ xét về mặt lợi nhuận, mà còn về đổi
mới (đặc biệt là ở ngành MT-TT). Chính ở pha này, các trung tâm R-D của nước ngoài được mở
mang hoặc củng cố để cho phép tiến hành tại chỗ các hoạt động R-D tiên tiến; sự việc này hiện đang
bắt đầu được chứng kiến ở Trung Quốc.
Theo sự mô tả ở trên, R-D công nghệ cao ở Trung Quốc cũng diễn ra theo tiến trình thông
thường của chu trình đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mô hình tổng quát này vẫn còn thiếu một số
khâu và động lực quan trọng đặc thù đối với thị trường Trung Quốc, như được đề cập ở dưới đây.
Sự năng động trong đầu tư công nghệ cao ở thị trường Trung Quốc
Kể từ khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố Chính sách “Mở cửa” vào cuối thập kỷ 70, Trung Quốc đã
hoan nghênh sự đầu tư, chuyển giao công nghệ và bí quyết nước ngoài vào Trung Quốc. Đặc biệt,
các quan chức và doanh nghiệp hàng đầu của Trung Quốc quan tâm thu hút nhiều nhất những công
ty công nghệ cao hàng đầu và nằm trong số 500 công ty được Tạp chí Fortune bình chọn. Cho đến
nay, họ đã đạt được sự thành công to lớn: 400 trong số 500 công ty được nêu trong Tạp chí Fortune
đã có mặt ở thị trường Trung Quốc. Lợi ích mà Trung Quốc đạt được không chỉ là dòng vốn chảy
vào, mà còn học được những gì tốt nhất của thế giới để giúp Trung Quốc đi tắt, đón đầu trong sự
nghiệp hiện đại hoá. Quả thật, các quan chức và giám đốc điều hành doanh nghiệp Trung Quốc đã
không ngại ngần khi công bố đây chính là mục tiêu của họ. Do tiềm năng thị trường và các nhà đầu
tư liên tục lao vào Trung Quốc nên các nước khác trong khu vực chỉ có thể “ghen tỵ” với vị thế
mạnh của cường quốc này. Tuy nhiên, cũng vào thời gian này, Trung Quốc cũng đã học được bài
học rằng nếu chỉ đơn giản tiếp nhận công nghệ nước ngoài thì không có nghĩa là biến được chúng
thành các know-how công nghệ cần thiết phục vụ cho sự phát triển công nghệ dân sự và quân sự
tiên tiến và lâu dài. Đây là lý do chủ yếu đem lại sự chú trọng mới đây đối với R-D công nghệ cao
của Trung Quốc, kể cả ở các chương trình KH&CN trong nước lẫn ở các hình thức đầu tư nước
ngoài và chuyển giao công nghệ.
Sự chú trọng đến R-D đã đặc biệt rõ rệt ở hai ngành MT-TT, những lĩnh vực được Trung Quốc
coi là các ngành trụ cột (Pillar Industries). Ví dụ, chính sách công nghiệp phần mềm mới đây (giai
do nước ngoài sở hữu toàn bộ. Đây cũng là chiến lược mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài theo đuổi
khi thành lập các cơ sở R-D ở Trung Quốc: những cơ sở này ngày càng do nước ngoài sở hữu hoặc
quản lý toàn bộ.
Ngoài ra, chiến lược thu hút nhiều đối tác nước ngoài đã đem lại lợi ích cho một số doanh nghiệp
Trung Quốc, đặc biệt là một số doanh nghiệp công nghệ mới (NTE) thành công nhất. Ví dụ, chiến
lược này đã đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển và lớn mạnh nhanh chóng của 4 doanh nghiệp
công nghệ cao thành công nhất, bao gồm Legend, Stone, Founder và Great Wall. Thông qua quan
hệ với nhiều đối tác, những doanh nghiệp này không chỉ thịnh vượng mà còn học tập được nhiều về
cách thức quản lý, cũng như các phương pháp tiếp thị, tài chính- là những lĩnh vực mà các doanh
nghiệp Trung Quốc thường yếu kém. Mặc dù các nhà đầu tư nước ngoài hiển nhiên là có được lợi
ích nhờ lập quan hệ đối tác với doanh nghiệp Trung Quốc, nhưng phía Trung Quốc có thể nhận
được nhiều hơn khi có quan hệ với nhiều đối tác cùng một lúc. Điều này càng đặc biệt đúng với
trường hợp R-D. Như một Báo cáo gần đây của Chính phủ Mỹ về toàn cầu hoá R-D đã nhận xét:
“Mặc dù R-D của Mỹ ở nước ngoài có thể chuyển giao công nghệ trở lại cho công ty mẹ của Mỹ,
nhưng phần lớn những lợi ích trực tiếp mà chi phí R-D ở nước ngoài mang lại- việc làm và hiệu ứng
lan toả- lại có tác dụng cho các nước sở tại”.
Vai trò của các nhà tài trợ Chính phủ và trường đại học
Khu vực Chính phủ và trường đại học của Trung Quốc cũng đóng vai trò nổi bật trong việc thu
hút đầu tư công nghệ cao của nước ngoài, kể cả R-D. Như Adam Segal đã nêu trong một công trình
khảo sát chi tiết gần đây về các doanh nghiệp CNC của Trung Quốc, thì mối quan hệ giữa Chính
phủ và những doanh nghiệp công nghệ cao trong nước này thường có tính chất cộng sinh. Những
nhà đầu tư nước ngoài nếu lập đối tác với các doanh nghiệp mà được sự hậu thuẫn hoặc có mối
quen biết với những quan chức Chính phủ thì có được lợi ích đáng kể về mặt quan hệ. Họ cũng có
thể nhận được thông tin về các chính sách chiến lược công nghiệp, chính trị, pháp lý và công nghệ
mà trước đây khó biết được do sự thiếu minh bạch trong việc hoạch định chính sách ở Trung Quốc.
Việc định vị này cũng có thể hữu ích để đảm bảo những hợp đồng ký kết với các bộ khác nhau,
trong đó mỗi bộ được uỷ nhiệm mua sắm các hạng mục nhất định. Bởi vậy, các đối tác công nghiệp
trên cơ sở đã được lựa chọn kỹ lưỡng có thể có tác dụng để giúp tận dụng các cơ hội đang nổi lên,
cũng như để nắm bắt được những động thái về chính sách và công nghệ ở Trung Quốc. Một số
trường hợp, các nhà đầu tư nước ngoài cũng lựa chọn những đối tác có các chương trình R-D được
như Harbour Networks, cùng với những công ty lớn của Phương Tây như Microsoft, Oracle và
Siemens, tập trung trên một khu đất mà cho mãi tới gần đây chỉ là nơi có một vườn ươm thực vật và
một làng nhỏ.
Khu ươm tạo doanh nghiệp phần mềm này chỉ là một phần nhỏ của Công viên Khoa học
Zhongguancun có tuổi đời 6 năm và có diện tích rộng hơn. Đây là một liên hợp rộng lớn dành cho
các ngành khoa học về sự sống, công nghệ nano và 14 chuyên ngành khác. Quan tâm tới tiềm năng
của việc liên kết những đổi mới công nghệ khi các doanh nghiệp công nghệ cao hoạt động với vị trí
kề cận nhau, Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích các công ty nước ngoài lẫn các công ty trong
nước mở các cơ sở R-D ngay trong công viên bằng cách áp dụng các biện pháp khuyến khích như
các khoản trợ cấp tiền thuê đất, những mức thuế thấp và nới lỏng việc kiểm soát tiền tệ.
Quan trọng nhất, vị trí nằm ngay cạnh các trường Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa, hai trung tâm
đào tạo giáo dục bậc cao nổi tiếng của Trung Quốc, cùng với 37 trường Đại học khác ở khu vực
xung quanh, đã mang lại cho Công viên Khoa học Zongguancun một nguồn cung cấp những nhân
tài hầu như vô tận. Hàng năm, có khoảng 70.000 nam và nữ thanh niên tốt nghiệp cử nhân chuyên
ngành khoa học và kỹ thuật ở các trường Đại học này. Yingqui Xia, Phó Giám đốc của ủy ban quản
lý công viên cho rằng công viên khoa học nên nằm chung quanh các trường Đại học. Đó là một
nguồn cung vững chắc.
21
Không chỉ đơn thuần là một nỗ lực nhằm phát triển doanh nghiệp ở địa phương, Zhongguancun
phản ánh ước vọng muốn trở thành một siêu cường công nghệ cao của Trung Quốc. Trong bài phát
biểu vào tháng 4, Thủ tướng Trung Quốc, Ôn Gia Bảo đã thể hiện tham vọng lâu dài của đất nước
này qua tuyên bố “Khoa học và công nghệ là những nhân tố quyết định tạo ra sức cạnh tranh cho
sức mạnh toàn diện của đất nước”.
Kathleen Walsh, cố vấn thuộc Trung tâm tư vấn Stimson có trụ sở tại Washington và là tác giả
của một ấn phẩm mới được xuất bản gần đây về R-D công nghệ cao của Trung Quốc cho biết, mục
tiêu của chính phủ Trung Quốc là nhằm chuyển đổi nền kinh tế của Trung Quốc từ một nền kinh tế
được biết tới dưới cái nhãn là “Sản xuất tại Trung Quốc” (Made in China) thành một nền kinh tế
được biết đến với khái niệm “Do Trung Quốc sản xuất” (Made by China).
Trung Quốc đã có rất nhiều bước tiến hướng tới mục tiêu đó. Trong thập kỷ vừa qua, Trung
Quốc đã dành hơn gấp đôi chi tiêu của nước này cho R-D. Tới cuối thập kỷ này, các trường Đại học
này đang xây dựng được một sức mạnh quốc gia ngày càng lớn mạnh trong lĩnh vực khoa học và kỹ
thuật để tạo ra những thách thức cạnh tranh lớn đối với Mỹ.
Sự chuyển đổi nhanh chóng từ một nước dựa vào nhân công thành một nước dựa vào công nghệ
cao của Trung Quốc thể hiện rõ ràng trên thị trường toàn cầu. Theo số liệu của Tổ chức Hợp tác và
22
Phát triển Kinh tế (OECD), năm 1992, Mỹ là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu công nghệ cao.
Xuất khẩu công nghệ cao của Trung Quốc chỉ tương đương với khoảng 8% tổng xuất khẩu của Mỹ.
Theo số liệu thống kê của Preeg, chỉ 12 năm sau, tới năm 2004, xuất khẩu công nghệ cao của Trung
Quốc đã tương đương với một nửa tổng xuất khẩu của Mỹ. Mặc dù máy tính và thiết bị viễn thông
chiếm phần lớn thương mại xuất khẩu, nhưng đáng lưu ý rằng xuất khẩu điện tử và khoa học sự
sống (các công nghệ và thiết bị y tế) của Trung Quốc đã tăng gấp đôi và xuất khẩu quang-điện tử
(các máy in laze, các máy quay đĩa quang học) tăng gấp 3 lần trong giai đoạn từ 2000 đến 2004.
Preeg dự đoán “Việc tái cơ cấu hướng lên trên cùng với mức tăng trưởng nhanh hơn của Trung
Quốc trong tổng xuất khẩu hàng chế tạo công nghiệp, sẽ đẩy Trung Quốc lên ngang hàng với Mỹ
và Liên minh châu Âu trong lĩnh vực xuất khẩu công nghệ cao chỉ trong vòng 5 tới 10 năm”.
Sự biến đổi rõ rệt tương tự còn thể hiện rõ trong thương mại của Trung Quốc với Mỹ. Các sản
phẩm công nghệ tiên tiến chiếm 27,2% nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc trong 3 tháng đầu năm
2005, tăng từ 16,1% của cả năm 2002, mốc đầu tiên thể hiện những cú đột phá như vậy.
Nhập khẩu công nghệ cao của Mỹ tăng lên đã dẫn tới khoản thâm hụt thương mại trị giá 36 tỷ
USD của Mỹ với Trung Quốc ở những hàng hóa nêu trên trong năm 2004. Và sự thâm hụt công
nghệ này chiếm tới gần toàn bộ sự mất cân đối công nghệ tiên tiến của Mỹ với toàn bộ thế giới.
Trong quý đầu của năm 2005, thâm hụt công nghệ cao của Mỹ tăng thêm tới 34% và nó có thể tăng
tới 50 tỷ USD năm 2005. Sự suy giảm rõ nét trong cán cân thương mại của Mỹ trong lĩnh vực công
nghệ tiên tiến là một tín hiệu báo động cho một hệ quả lớn mà không thể làm ngơ được.
Có thể nói, những tiến bộ của Trung Quốc đặc biệt là trong những công nghệ đỉnh cao, nhạy cảm
cũng gây ra những báo động đỏ. Bản báo cáo gần đây về nguồn cung ứng microchip hiệu suất cao
của Lực lượng Đặc nhiệm Hội đồng Khoa học Quốc Phòng, Mỹ, kết luận rằng, sự di chuyển rõ rệt
của việc sản xuất vi điện tử chủ chốt từ Mỹ tới các nước khác đang và sẽ tiếp tục diễn ra. Mức độ
của việc di chuyển công nghệ này rất đáng báo động do tầm quan trọng chiến lược của công nghệ
này đối với nền kinh tế của nước Mỹ. Trong hai thập kỷ vừa qua, Mỹ đã từng trong trạng thái đề cao
ích lợi thiết thực, cho phép công ty bán công nghệ có ích với đúng giá trị.
Theo nhiều nhận định, thách thức thật sự mà ngành công nghiệp bán dẫn của Trung Quốc tạo ra
đó là “sức hút ngày càng lớn của Trung Quốc sẽ thu hút vốn, nhân tài và cuối cùng là những hoạt
động thiết kế và R-D đỉnh cao ra khỏi Mỹ”. Trong bản báo cáo của mình, Howell đã viết: “Mỹ đang
phải đương đầu với sự mai một của cơ sở hạ tầng gồm nhân tài và cơ quan nghiên cứu cần thiết để
duy trì vị thế đứng đầu thế giới trong lĩnh vực điện tử (nano)”.
Công nghệ nano-công nghệ sử dụng những nguyên tử hoặc phân tử đơn để chế tạo ra các linh
kiện và mạch điện tử-được coi là khối đơn vị kiến tạo điện tử của tương lai. Yu cho biết họ không
có sức mạnh tài chính hay bí quyết công nghệ để tạo nên những cú đột phá trong lĩnh vực công nghệ
nano. Nhưng Trung Quốc đã đi trước Mỹ trong một số lĩnh vực nano chủ chốt. Hiện nay, các nhà
khoa học Trung Quốc có thể sản xuất ra các ống nano cácbon nhanh gấp 60 lần so với các nhà khoa
học Mỹ thực hiện. Những ống này, thực chất là những phân tử hình trụ cácbon, có thể hình thành
nên một chất cứng hơn thép và dẫn điện tốt hơn đồng. Mặc dù còn cần nhiều năm nữa để thương
mại hóa, nhưng các ống nano cácbon có thể được sử dụng để tạo ra những hình ảnh vô tuyến sáng
và màu sắc sống động hơn hoặc tạo ra các thiết bị cảm ứng sinh học cấy ghép được, có thể thực hiện
được những phép đo ngay tức thì về các thành phần trong máu.
Trung Quốc cũng nhanh chóng tạo ra được những tiến bộ mới trong lĩnh vực dược phẩm và công
nghệ sinh học. Mặc dù ngành công nghiệp bào chế dược phẩm công nghệ sinh của Trung Quốc vẫn
còn rất non trẻ, nhưng chúng đã phát triển rất nhanh. Và những nhà bào chế dược phẩm Trung Quốc
đang mở rộng sản xuất của họ lên tới 20% một năm. Thậm chí khi các hãng dược phẩm của Mỹ
đang để mắt cảnh giác tới các địch thủ từ ấn Độ, thì các chuyên gia ở những hãng này cũng kín đáo
thừa nhận rằng họ rất lo sợ về một cuộc cạnh tranh trong tương lai với Trung Quốc. Những cuộc
xâm nhập của nước này vào thị trường đang được thể hiện rõ trong số liệu thương mại của Mỹ.
Nhập khẩu các sản phẩm công nghệ sinh học từ Trung Quốc của Mỹ đã tăng 23 % trong vòng 4
năm qua và nhập khẩu các sản phẩm khoa học sự sống cũng tăng lên 33%.
James C. Hsiao, một nhà công nghệ nano và Kenneth Fong, nhà tư bản đầu tư viết trên một bài
báo đăng trên tạp chí Nature năm 2004, cho rằng, họ tin rằng Trung Quốc sẽ dẫn đầu thế giới trong
lĩnh vực công nghệ nano lẫn công nghệ sinh học.
Tạo ra một môi trường đổi mới
Những thay đổi trong số liệu cán cân thương mại đối với các sản phẩm công nghệ cao là một
hoạt động kỹ thuật và R-D sẽ đi theo, cụ thể trong trường hợp này là tới Trung Quốc. Hơn nữa, hiện
nay sản xuất phụ thuộc vào sự đổi mới liên tục. Nếu các xí nghiệp công nghệ cao ở Trung Quốc, thì
năng lực sản xuất mới sẽ được lĩnh hội ở đó trước tiên.
Quan trọng nhất vẫn là các công ty công nghệ cao thu hút những người có tham vọng với những
ý tưởng mới. Nếu những công ty này ở Trung Quốc, thì những nhà kinh doanh này cũng sẽ là người
Trung Quốc và những xí nghiệp mới mà họ thành lập cũng sẽ ở Trung Quốc. Vì R-D và các bộ
phận khác của sản xuất chuyển ra hải ngoại, nên hiệu ứng lan tỏa cũng xảy ra ở hải ngoại. Thể hiện
rõ xu hướng này, Trung Quốc đang nhanh chóng trở thành một điểm đến thu hút mới của các nhà
đầu tư công nghệ cao. Phần đầu tư trực tiếp lớn nhất gần đây của Mỹ vào Trung Quốc là vào các
công ty chế tạo máy tính, các bộ phận và trang thiết bị điện tử.
Tăng cường đầu tư cho R-D
Tuy vậy, thị trường nội địa phát triển và thậm chí lượng vốn đầu tư được tăng lên sẽ chẳng có
nghĩa mấy nếu không có những sản phẩm mới. Và những sản phẩm mới thì đòi hỏi phải có R-D.
Năm 2005, Bắc Kinh dự tính chi 1,5% GDP cho R-D, tăng từ một mức khiêm tốn là 0,6% năm
1996. (Năm 2003, Mỹ chi 2,6% GDP vào R-D). Theo ước tính, ngay cả khi nếu mức tăng trưởng
trong chi tiêu cho R-D của Trung Quốc giảm xuống chỉ bằng 2/3 của mức tăng này trong những
năm trước đây, thì Trung Quốc cũng sẽ đạt mức chi 2,1% GDP cho nghiên cứu vào năm 2010. Tính
theo đôla, số lượng này sẽ chiếm chỉ bằng một nửa chi tiêu của Mỹ, nhưng nó sẽ bằng 80% mức chi
tiêu R-D của Liên minh châu Âu và cao hơn 40% chi tiêu R-D của Nhật Bản. Trung Quốc có lẽ