Một số ý kiến về Dự thảo Luật Trọng tài thương mại - Pdf 12

Một số ý kiến về Dự thảo Luật
Trọng tài thương mại Ông Phạm Quốc Anh, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam - Trưởng Ban
soạn thảo Dự án Luật TTTM phát biểu tại hội thảo. Ảnh: St

Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 của Quốc hội
khóa XII, Dự án Luật Trọng tài thương mại sẽ được Quốc hội cho ý
kiến tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2009)

Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 của Quốc hội
khóa XII, Dự án Luật Trọng tài thương mại sẽ được Quốc hội cho ý
kiến tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2009). Đây là Dự án Luật có ý nghĩa rất
lớn trong việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng
và phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế thế giới; khuyến khích sử dụng Trọng tài trong
việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên, trước hết xuất phát từ nhu
cầu của các chủ thể kinh doanh, các thể nhân, pháp nhân muốn giải
quyết vụ việc của mình một cách thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu
quả. Tuy nhiên, Dự thảo Luật (1) vẫn cần thêm nhiều ý kiến đóng góp
để tiếp tục được hoàn thiện.
1. Phạm vi thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
thương mại
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài là một nội dung mà
trong cả quá trình soạn thảo cũng như tại các cuộc hội thảo khoa học về
Dự án Luật Trọng tài thương mại đang có hai quan điểm khác nhau.

đến quan hệ hôn nhân, gia đình và thừa kế theo quy định của pháp luật
dân sự và hôn nhân gia đình.
b) Tranh chấp liên quan đến việc phá sản theo quy định của pháp luật
về phá sản.
c) Tranh chấp về bất động sản.
d) Tranh chấp giữa các Chính phủ, trừ trường hợp các điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
đ) Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác theo quy
định của pháp luật”.
Phạm vi thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương
mại là một nội dung rất quan trọng của dự thảo Luật Trọng tài thương
mại, vì vậy, nội dung này cần phải được xem xét trên cơ sở kế thừa
những quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003; thực
tiễn về hoạt động trọng tài thương mại ở nước ta trong thời gian qua và
tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài. Đối với phương án 2, phạm vi
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài là rất rộng, bao
gồm các tranh chấp thương mại và cả các tranh chấp dân sự. Những ý
kiến đồng ý với phương án 2 cho rằng, trong thực tiễn có những trường
hợp tranh chấp ngoài hợp đồng như đền bù thiệt hại ngoài hợp đồng
trong lĩnh vực xây dựng, hàng hải, vận tải… cũng có thể được giải
quyết bằng Trọng tài theo ý chí của các bên có liên quan, mặc dù các
tranh chấp như vậy không xuất phát từ hoạt động thương mại theo Luật
Thương mại năm 2005. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp tại Tòa án
và Trọng tài ở Việt Nam vừa qua cho thấy, có một số vụ tranh chấp rất
khó xác định đó là tranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh doanh,
thương mại. Điều này có thể dẫn tới nhiều vụ việc kinh doanh thương
mại không được Trọng tài thụ lý, nhiều phán quyết Trọng tài có thể bị
Tòa án tuyên vô hiệu do không đúng thẩm quyền vì không xuất phát từ
hành vi thươmg mại. Do vậy, phạm vi thẩm quyền của Trọng tài quy
định theo phương án 2 thì sẽ giải quyết được những vướng mắc nêu

1. Những người có đủ các điều kiện sau đây có thể làm Trọng tài viên:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân
sự;
b) Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ
năm năm trở lên;
c) Trường hợp không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này,
các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm
thực tiễn có thể được Trung tâm Trọng tài tuyển chọn làm Trọng tài
viên.
Ngoài các tiêu chuẩn nêu trên, Trung tâm Trọng tài có thể quy định
thêm các tiêu chuẩn khác đối với Trọng tài viên của tổ chức mình.
2. Người chưa phải là Trọng tài viên nhưng đang là bị can, bị cáo hoặc
đang bị kết án mà chưa được xóa án tích thì không được làm Trọng tài
viên.
3. Người đang là Trọng tài viên nhưng đã bị kết án thì buộc phải thôi
làm Trọng tài viên.
4. Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành
viên, công chức thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ
quan Điều tra, Cơ quan Thi hành án thì không được làm Trọng tài
viên”.
Như vậy, tiêu chuẩn quy định ở các điểm a và b khoản 1 là những tiêu
chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên, ngoài ra các Trung tâm trọng tài
có thẩm quyền quy định thêm các tiêu chuẩn khác đối với Trọng tài
viên của tổ chức mình. Quy định này nhằm tạo cho các Trung tâm
Trọng tài có điều kiện xây dựng thương hiệu với đội ngũ Trọng tài viên
có uy tín để cạnh tranh với các trung tâm trọng tài khác trong việc giải
quyết các tranh chấp thương mại.
Đối với tiêu chuẩn quy định tại điểm c khoản 1 là quy định mới so với
Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. Quy định này nhằm đáp
ứng yêu cầu thực tế khi một người có trình độ chuyên môn cao và có

quyết các tranh chấp trong hoạt động của nền kinh tế thị trường, nhất là
cho các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có khuynh hướng phát
triển mạnh mẽ hiện nay. Loại hình này có lợi thế là thỏa mãn sự tự lựa
chọn một cách linh hoạt của các bên tranh chấp. Còn theo quy định tại
khoản 7 Điều 3 Dự thảo Luật thì “Trọng tài quy chế là hình thức Trọng
tài được tiến hành tại một Trung tâm Trọng tài và theo quy tắc tố tụng
của Trung tâm Trọng tài”. Thực tế trong 6 năm thi hành Pháp lệnh
Trọng tài thương mại, các vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài
đều theo hình thức Trọng tài quy chế, không có một vụ việc nào được
giải quyết bằng hình thức Trọng tài vụ việc. Với thực trạng như vậy,
nên trong các cuộc hội thảo về dự án Luật Trọng tài thương mại đã có ý
kiến đề nghị bỏ hình thức Trọng tài vụ việc, không quy định trong dự
thảo Luật.
Chúng tôi tán thành với Ban soạn thảo cần quy định hai hình thức trọng
tài đó là Trọng tài quy chế và Trọng tài vụ việc trong Dự thảo Luật.
Tuy nhiên, để hình thức Trọng tài vụ việc phát triển như Trọng tài quy
chế đề nghị cần bổ sung vào Dự thảo Luật những quy định mang tính
đặc thù của Trọng tài vụ việc để bảo đảm* cho Trọng tài vụ việc hoạt
động có hiệu quả, những quyết định của Trọng tài vụ việc phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành.
4. Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 quy định, trong quá trình
Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp
pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì các
bên có quyền làm đơn đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Hội đồng
trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện
pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong Pháp lệnh Trọng tài
thương mại. Quy định trên đây đã bộc lộ một số hạn chế trong thực tiễn
áp dụng, đó là do bản chất của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời mang tính nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời, vì vậy biện pháp

thương mại. Có ý kiến cho rằng, cần phải có quy định về đăng ký phán
quyết trọng tài vụ việc, nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho rằng,
không cần phải đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc trong Dự án Luật
Trọng tài thương mại. Do đang còn có những ý kiến khác nhau nên Ban
soạn thảo đã đưa ra hai phương án để Quốc hội xem xét, quyết định.
Phương án 1: không có Điều 62 về đăng ký phán quyết trọng tài vụ
việc. Phương án 2 có Điều 62 về đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc
và quy định như sau:
*“1. Theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp, phán quyết của
Trọng tài vụ việc được đăng ký tại tòa án có thẩm quyền quy định* tại
Điều 7 của luật này để hỗ trợ việc thi hành phán quyết trọng tài đó.
2. Bên yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc phải gửi đơn xin
đăng ký phán quyết trọng tài tới Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài
liệu sau đây:
a. Phán quyết trọng tài do Hội đồng trọng tài vụ việc ban hành;
b. Biên bản phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài vụ
việc;
c. Thỏa thuận trọng tài.
3. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn xin đăng
ký phán quyết trọng tài vụ việc cùng các tài liệu kèm theo quy định tại
khoản 2 điều này, Tòa án có thẩm quyền phải thông báo cho bên có yêu
cầu biết về việc đăng ký hoặc từ chối đăng ký phán quyết trọng tài vụ
việc. Trong trường hợp từ chối đăng ký phán quyết trọng tài thì Tòa án
phải nêu rõ lý do cho bên có yêu cầu biết”.
Chúng tôi tán thành với phương án 2 trong Dự thảo Luật Trọng tài
thương mại về đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, vì Trọng tài vụ
việc có điểm đặc thù khác với Trọng tài quy chế. Trọng tài quy chế
được thành lập tại các Trung tâm Trọng tài đã được cấp phép và đăng
ký hoạt động, là pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng. Các
Trọng tài viên là những người đã được Trung tâm Trọng tài tuyển chọn,

trong trường hợp có yếu tố nước ngoài Việc quy định hoạt động của
Trọng tài thương mại có yếu tố nước ngoài trong Dự thảo Luật nên kế
thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (đã có một điều quy
định về giải quyết vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài bằng Trọng tài).
Luật Luật sư năm 2006 cũng có một chương riêng quy định về hành
nghề của Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, Luật sư nước ngoài tại
Việt Nam; Luật Trọng tài của nhiều nước cũng có những quy định
riêng, đặc thù đối với các trường hợp có yếu tố nước ngoài; một số
nước, ngoài việc ban hành Luật Trọng tài trong nước còn ban hành một
luật riêng điều chỉnh các trường hợp Trọng tài có yếu tố nước ngoài. Vì
vậy, Dự thảo Luật Trọng tài thương mại cần bổ sung một chương riêng
quy định các trường hợp có yếu tố nước ngoài.
(1) Dự thảo Luật tháng 9/2009.
(Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 157-thang-11-2009
ngày 10/11/2009) TS Phạm Quý Tỵ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp
của Quốc hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status