LUẬN VĂN: Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và vận dụng xem xét công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam pot - Pdf 12

LUẬN VĂN: Khoa học trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp và vận dụng xem xét
công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam
Mở Đầu

Trong phương thức sản xuất xã hội, sự vận động biến đổi của vật chất được thực hiện
thông qua các hệ thống công nghệ. Bởi vậy, bất kỳ một bước nhảy vọt nào của hệ thống
năng lượng cũng đều diễn ra với một cuộc cách mạng trong công nghệ. Thông tin- là
một dạng biểu hiện của vật chất đang vận động. Thông tin xã hội gắn liền với sự vận
động của dạng vật chất có tổ chức cao nhất - bộ óc con người.
Trong quá trình phát triển lịch sử của xã hội loài người đã từng diễn ra năm bước
nhảy vọt về chất của thông tin xã hội, được biểu hiện dưới năm hình thức thông tin điển
hình từ thấp đến cao: tiếng nói, chữ viết, kỹ thuật in ấn, các thiết bị truyền thông bằng
điện và điện tử, mạng internet. Cùng với đó là năm giai đoạn phát triển của công nghệ
với năm hệ thống công nghệ khác nhau về chất và phù hợp với chúng là những hệ thống
năng lượng đã và đang tồn tại trong lịch sử xã hội. Đó là giai đoạn một với hệ thống
công nghệ tự nhiên thô sơ, giai đoạn hai với hệ thống công nghệ cơ khí thủ công, giai
đoạn ba với hệ thống công nghệ cơ khí máy móc ở trình độ cơ khí hoá, giai đoạn bốn
với hệ thống công nghệ cơ khí máy móc ở trình độ điện khí hoá tự động hoá bậc thấp,
giai đoạn năm với hệ thống công nghệ trí tuệ, bao gồm công nghệ thông tin và các loại
công nghệ cao khác.
So sánh các giai đoạn phát triển cơ bản của thông tin và công nghệ, chúng ta thấy
chúng có mối quan hệ chặt chẽ và phù hợp với nhau cả về mặt thời gian và nội dung,
tính chất. Các cuộc cách mạng này biểu hiện trình độ phát triển ngày càng cao hơn của
vật chất.
Sự biến đổi phù hợp này là cơ sở để có thể gọi các cuộc cách mạng đó là cuộc
cách mạng thông tin - công nghệ. Thông qua các cuộc cách mạng này mối quan hệ khoa
học - công nghệ ngày càng bền chặt và sâu sắc hơn.
Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ với LLSX. Vấn đề khoa học trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Khoa học và công nghệ tham gia vào quá trình biến đổi, cải tạo thế giới tự nhiên
và phát triển xã hội vì chúng là những yếu tố quan trọng của LLSX xã hội, chúng có

đã tham gia một cách tích cực và chủ động và trở thành yếu tố quan trọng nhất của quá
trình sản xuất.
Mặt khác, hiện nay, xu hướng phát triển của khoa học là thống hợp khoa học,
tổng hợp tri thức. Vì vậy khoa học đã phát triển đến một trình độ nhất định và đủ sức
giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Khoa học trở thành LLSX được biểu hiện dưới nhiều hình thức:
1.3.1. Tri thức khoahọc được vật thể hoá thành các công cụ, máy móc tinh vi hiện
đại như: máy vi tính, siêu tính, các loại công nghệ tự động hoá, rôbốt; các loại công
nghệ mới: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. điều này đã mang lại hiệu quả và
năng suất lao động cao, chất lượng tốt. Mặt khác tạo ra các loại vật liệu mới không có
sẵn trong tự nhiên, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết. Thực tế sản xuất ở các nước
công nghiệp phát triển, tri thức khoa học ngày càng chiếm một hàm lượng cao trong giá
trị sản phẩm. Lao động cơ bắp từng bước được thay thế bởi lao động trí tuệ. Cụ thể
những năm đầu của thế kỷ 20 khi sự phát triển của khoa học công nghệ chưa gắn chặt
với sản xuất thì lao động chân tay chiếm một tỷ lệ cao tới 9/10 giá trị sản phẩm. Đến
những năm 90 khi ở nhiều nước đang diễn ra cuộc CM KHKT thì tỷ lệ đó giảm xuống
còn 1/5 trong khi số lượng sản phẩm tăng 10 lần. Dự kiến tỷ lệ đó còn tiếp tục giảm
mạnh. Ngày nay, đối tượng lao động là sản phẩm của lao động, của khoa học công nghệ
trong đó hàm lượng vật liệu tự nhiên giảm. Vì vậy, nền kinh tế tiết kiệm được tài
nguyên, tài nguyên thiên nhiên không còn là điều kiện tiên quyết mà phụ thuộc chủ yếu
vào tài nguyên con người với năng lực trí tuệ cao. Hiện nay lợi thế về tài nguyên thiên
nhiên, lao động cơ bắp vì thế ngày càng mất giá.
Một tác nhân vô cùng quan trọng đối với sản xuất trong điều kiện nền kinh tế thị
trường hiện nay là thông tin, đặc biệt là thông tin khoa học công nghệ và thông tin thị
trường. Nhờ nắm bắt được thông tin mới có thể kịp thời thay đổi công nghệ để sản xuất
ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng giúp cho lưu
thông hàng hoá nhanh chóng. Trong thời đại thông tin, chỉ cần chậm một bước trong

thì ảnh hưởng của những cuộc cách mạng này nên sự phát triển của thế giới là vô cùng
mạnh mẽ, quyết liệt và cũng có thể nói là vô hạn.
Vậy, tại sao cuộc cách mạng KH-CN ngày nay lại có được sức mạnh kì diệu đó?
Một là, trong cuộc cách mạng KH-CN hiện đại, các yếu tố KH-CN và sản xuất
đã thâm nhập, gắn bó bền chặt với nhau với vai trò dẫn đường của khoa học. Nó không
chỉ được hiểu đơn thuần là kĩ thuật ( các phương tiện vật chất kĩ thuật) mà gồm 4 yếu tố
cơ bản: phần cứng của công nghệ( kĩ thuật) và 3 yếu tố của phần mềm là con người,
thông tin và tổ chức quản lý. Với việc KH-CN trở thành LLSX trực tiếp và việc khai
thác và sử dụng triệt để 3 yếu tố của phần mềm đã làm cho cuộc cách mạng của KH-CN
thực sự trở thành cuộc cách mạng về trí tuệ với vai trò quyết định của tri thức( kinh tế
tri thức, vốn tri thức, năng lượng tri thức hay trí năng, vật liệu tri thức ). sự khai thác
nguồn trí năng là đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng KH-CN hiện đại. đó chính là sự
biến đổi tận gốc LLSX xã hội - làm tiền đề, cơ sở cho mọi sự biến đổi khác trong xã
hội.
Hai là,với cuộc cách mạng khoa học_ công nghệ hiện đại , các yếu tố riêng biệt
của quá trình sản xuất được kết hợp chặt chẽ hưu cơ với nhau thành một hệ thống liên
hoàn : máy công tác - máy động lực - các phương tiện vận chuyển vừa tiết kiệm được
thời gian, công sức, vừa nâng cao hiệu quả và năng suất lao động.
Ba là, cuộc cách mạng KH-CN đã cho ra đời những hệ thống công nghệ mới với
bốn trụ cột chính:công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. Các
hệ thống công nghệ đã liên kết đồng bộ với nhau vơi vai trò dãn đầu là công nghệ thông
tin đẻ cùng tác động mạnh mẽ , có hiẹu quả cao lên nền sản xuất xã hội.
Bốn là, cuộc cách mạng KH-CN hiẹn đại đã làm thay đổi về chất quá trình sản
xuất. Con người ngày càng có vai trò quan trọng và quyết định đối với sản xuất. Con
người dược tách dần ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp. Trí năng- năng lực trí tuệ của
con người đã trở thành nguồn năng lượng mới của công nghệ và sản xuất và dã hình
thành nên nhưng con ngươi lao động kiểu mới, có tri thức, có kĩ năng,kĩ xảo và năng lực

Từ nhận thức và thực tiễn trên ,một lần nữa có thể nhấn mạnh :khoa học dang là
LLSX trực tiếp.Khoa học được vật hoá ,được kết tinh trong mọi nhân tố của LLSX:đối
tượng lao động ,tư liệu lao động ,kĩ thuật ,phương pháp công nghệ đến người lao động.
Những cuộc cách mạng vẫn đang diễn ra ,bên cạnh những mặt tích cực còn có
những tiêu cực .Đó là việc các thành tựu của nó được áp dụng vào trong chiến tranh ,các
cuộc khủng bốđang lan tràn khoa họcắp thế giới ,cuộc chiến con người ngày càng khốc
liệt và thiệt hại nặng nề .bên cạnh đó là nguy cơ cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu
.Vì vậy ,KHCN phải hướng vào mục tiêu chung :vì sự sống của con người ,về sự tiến bộ
và phát triển của xã hội .KHCN phải giữ vai trò chủ đạo trong chiến lược phát triển bền
vững (công nghệ xanh ,công nghệ sạch),khcn phải gắn với những giá trị nhân văn
,nhân đạo .Chỉ khi đó ,khcn mới thực sự trở thành chiếc chìa khoá vang của mọi sự biến
đổi ,phát triển của xã hội .
4. khoa học với sự phát triển kinh tế Việt Nam
4.1 .thực trạng chung về LLSX và nhận định mới của Đảng về khoa học.
Nước ta còn nghèo ,tư liêu lao động còn giản đơn ,thủ công ;khoa học còn kém
phát triển so với thế giớí và khu vực ;một số kết quả nghên cứu được đánh giá tốt nhưng
lại chưa phù hợp với hoàn cảnh thực tại của đất nước .Đối tượng lao động chủ yếu từ tự
nhiên yéu tố đang mất dần lợi thế trong nền kinh tế tri thức .Đặc biệt ,con người với tư
cách là chủ thể cao nhất của quá trình sản xuất :thông minh ,sáng tạo ,dễ nắm bắt cái
mới nhưng còn kém về trình độ chuyên môn nghiệp vụ ,chưa đáp ứng được yêu cầu mới
của nền kinh tế do chất lượng giáo dục và đào tạo còn kém .Mặtkhác,trong công tác tổ
chức quản lý chưa thực sự gắn bó với khoa học ,với đào tạo chuyên nghiệp .
Nhận thức được điều đó ,Đảng và Nhà nướcđã có sự thay đổi trong tư duy ,quan
niệm về phát triển khoa học nước ta đang trong thời kì mới - thời kì CNH-HĐH đất
nước .Nghị quyếthội nghị trung ương 2 BTCkhoá 8 xác định : CNH- HĐH phải bằng và
dựa vào KHCN và KHCN là động lực ,nền tảng cho CNH- HĐH đất nước.
Đại hội 9 tiếp tục nhận định :gắn sự phát triển khcn với con người ,phải phát huy

- Nghiên cứu ,ứng dụng một số lĩnh vực chọn lọc ;công nghệ na nô, linh
kiện điện tử, ứng dụng tin học.
- Phổ cập kiến thức và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và
đào tạo ,trong hệ thông cac trương hiện nay đều có trang bị máy vi tinh dáp ứng nhu
cầu công nghệ thông tin .
- Về việc ứng dụng công nghệ sinh học :
ứng dụng công nghệ en-zim,protein vào công nghiệp thực phẩm .
ứng dụng công nghệ vi sinh vào chọn giống và tạo giống mứi trong nông ,lâm
,thuỷ sản. Phát triển các xí nghiệp nhân giống cây, sản xuất hạt giống chất lượng cao,
tập trung vào nhóm cây lương thực , rau , hoa quả , lâm nghiệp ,vật nuôi , thuỷ sản.
úng dụng công nghệ vạt liệu tiên tiến vào việc xử lý môi trường ,sử dụng vật liệu
nhiệt dẻo cho kĩ thuật điện và điện tử .
ứng dụng công nghệ cơ khí chế tạo máy vào việc tạo phôi ,công nghệ gia công .
công nghệ sơ chế được ứng dụng vào trong sơ chế ,phân loại ,lam sạch sản phẩm.
Công nghệ chế biến được ứng dụng trong những ngành sản xuất ra những sản phẩm có
lợi thế và triển vọng xuất khẩu như: gạo, thuỷ sản ,cà phê vv.
công nghệ bảo quản được ứng dụng trong công nghệ làm khô lúa và hoa màu
,đạc biệt là công nghiệp bảo quản lạnh rau quả và sản phẩm chăn nuôi. kết quả nổi
4.2.3 . Những kêt quả nổi bật của hoạt động KHCN nưóc ta.
- KHCN đã góp phần phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước thông
qua việc cung cấp dữ liệu, căn cứ khoa học để đổi mới nhận thức và tư duy trong
việc xác định rõ con đường đi lên CNXH. Thí dụ ,70 đề tài thuộc các chương trình
khoa học xã họi cấp Nhà nước đã cung cấp 485 nhóm ý kiến ,kiến nghị khoa học cho
trung ương và các cơ quan Nhà nước .
- Khoa học đã cung cấp căn cớ cho việc xác định phương hướng chiến
lược phát triển kinh tế xã hội đến 2010, xác định những ngành sản xuất, lĩnh vực
hoạt động và những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao, tạo điều kiện cho sự tăng
Kết luận
Như vậy, khoa học công nghệ đã, đang và sẽ là lực lượng sản xuất trực tiếp. Vì
vậy, đầu tư cho khoa học công nghệ chính là đầu tư cho tương lai của mỗi quốc gia. Tuy
nhiên khoa học công nghệ cũng có mặt trái của nó, đó là nguy cơcác cuốc chiến tranh
công nghệ cao, nguy cơ về cuộc khủng hoảng môi trường sinh thái ;nguy cơ phân hoá
xã hội gay gắt Vì vậy trong hoạt đông nghiên cứu và ứng dụng khoa học cần có sự
quản lý mang tính quốc gia quốc tế. Bên cạnh đó là chinhs sách đãi ngộ hợp lý cán bộ
khoa học ;nâng cao chất lượng giaó dục đào tạo tao ra nhưng con người mới vừa là chủ
thể của lao đông vừa là đối tượng cửa lao dộng . Đối với Việt Nam trong thời kì kội
nhập cần có chiến lược đúng đắn cho khoa hoc công nghệ tiên tới hoàn thành mục tiêu
trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Ngay từ bây giờ phải thực hiện đồng bộ các
giải pháp để phát triển LLSX,đó là :
-Tiếp tục coi giáo dục đào tạo là quốc sách.
-Khai thác hợp lí và có hiệu quả diều kiện tự nhiên.
-ứng dụng nhanh và có hiệu quả thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ .
-Mở rộng hợp tác quốc tếvề kinh tế :đơn phương và đa phương.

1.3.1 Biểu hiện trong TLSX
1.3.2 kết tinh trong người lao động
1.3.3 trong tổ chức ,quản lý
2 . Tại sao KH-CN lai có được sức mạnh đó ?
3. Thực tế KH-CN ở các nước
4.KH với sự phát triển kinh tế VN
4.1 Thực trạng chung về LLSXvà nhanl định mới
4.2 Bước đổi mới
Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status