LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm nâng cao vai
trò của kiểm toán nhà nước trong nền
kinh tế hiện nay
Lời Nói Đầu
Trong nền kinh tế chuyển đổi, vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các
hoạt động kinh tế và xã hội càng trở nên cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.
Trong hệ công cụ điều tiết nền kinh tế, kiểm toán Nhà nước được coi như là một công
cụ cần thiết phụ trợ đắc lực cho quá trình quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền
kinh tế-điều đó được thể hiện rất rõ qua chức năng, nhiệm vụ của cơ quan kiểm toán
Nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả, hiệu lực của việc sử dụng
các nguồn lực tài chính quốc gia.
Cơ quan kiểm toán Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam được thành
1- Quá trình vận hành nền kinh tế.
Kể từ khi Nhà nước thay đổi hướng phát triển của nền kinh tế, chuyển từ cơ
chế quản lý kế hoạch tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, hoạt động kinh tế có nhiều
chuyển biến rõ rệt, với chủ trương đa phương hoá đầu tư đa dạng hoá hình thức sở
hữu đã xuất hiện nhiều mối quan hệ phức tạp đan xen lẫn nhau, các thành phần kinh
tế cùng tồn tại trong một môi trường cạnh tranh và hợp tác theo pháp luật,hạch toán
kế toán đã trở thành công cụ cần thiết và quan trọng trong quá trình quản lý kinh tế.
Người quan tâm tới thông tin kế toán không chỉ trong nội bộ các doanh nghiệp,các tổ
chức kinh tế mà bao gồm cả các cơ quan Nhà nước,các nhà đầu tư và công chúng
Vì lẽ đó hệ thống thông tin kế toán chuẩn xác và đáng tin cậy phục vụ cho việc ra
quyết định đã trở thành xu hướng tất yếu của hoạt động quản lý.
2-Hoạt động kiểm toán ở Việt Nam.
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam được thành lập theo Nghị định 70/CP ngày
11/7/1994 của chính phủ và sau đó là Quyết định 61/TTg của Thủ tướng chính phủ
ban hành theo điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán Nhà nước. Từ đó đến nay
kiểm toán Nhà nước đã thực hiện được nhiều cuộc kiểm toán và thiết lập được 3
trung tâm kiểm toán đặt tại 3 khu vực: miền Bắc tại thủ đô Hà Nội, miền Nam tại
thành phố Hồ Chí Minh, miền Trung tại thành phố Đà Nẵng với số lượng 500 kiểm
toán viên. Đây mới chỉ là số lượng khiêm tốn so với nhu cầu đặt ra của nền kinh tế.
Bên cạnh hoạt động của kiểm toán Nhà nước các công ty kiểm toán độc lập cũng phát
triển mạnh trong đó có một công ty kiểm toán liên doanh giữa Việt Nam và nước
ngoài, 4 công ty kiểm toán có 100% vốn đầu tư nước ngoài, 4 công ty tư nhân. Như
vậy cho đến nay tại Việt Nam đã có 35 chi nhánh và văn phòng với số lượng 1268
người làm việc trong lĩnh vực kiểm toán vầ tư vấn tài chính kế toán tại Việt Nam.
II - Khái quát chung về kiểm toán Nhà nước.
1-Kiểm toán Nhà nước là gì?
hội lập ra nhưng không phụ thuộc vào quốc hội.
Cộng hoà Pháp có Toà thẩm kế Pháp, Toà này vừa thực hiện chức năng của
cơ quan kiểm toán Nhà nước vừa thực hiện chức năng cuả cơ quan xét xử,như một
toà án không phụ thuộc vào các cơ quan hành pháp tư pháp và lập pháp. Toà thẩm kế
Pháp có quyền kiểm tra tất cả các cơ quan chính quyền Nhà nước (trừ tài khoản của
tống thống,Quốc Hội,thượng viện và uỷ ban tư pháp). Các công sở quốc gia toà thẩm
kế Pháp có quyền xét xử như một toà án,bằng các phán quyết của mình toà có thể
quy kết trách nhiệm cá nhân và tiền bạc của các kế toán viên công và các thủ quỹ mà
họ nắm giữ. Có thể ra lệnh cho họ lấy tiền túi ra đền cho các khoản chi không hợp lệ.
3 - Đặc điểm của kiểm toán Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
a) Cơ quan kiểm toán Nhà nước Việt Nam là cơ quan thành lập và tổ chức
theo nguyên tắc tập trung thống nhất. Đặc điểm này được điều lệ tổ chức và hoạt
động cơ quan kiểm toán Nhà nước khẳng định là hoàn toàn đúng đắn. Thực tiễn cũng
chỉ ra rằng, chỉ có một cơ quan kiểm toán Nhà nước tập trung thống nhất là phù hợp
với tính thống nhất của quốc gia và chế độ kinh tế xã hội của Việt Nam đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng, sự thống nhất và tập trung cao của nền tài chính quốc gia đặc biệt
là nền tài chính công.
b) Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là cơ cấu trong bộ máy quản lý Nhà nước.
Trong thông báo số 18 /TB của thủ tướng chính phủ ngày 17 /12/1996 có nêu: “Kiểm
toán nhà nước Việt Nam là một cơ cấu mới trong bộ máy Nhà nước”. Như vậy kiểm
toán Nhà nước không phải là một tổ chức chuyên môn mà là một cơ quan Nhà nước
do vậy phải tuân thủ nguyên tắc tổ chức xây dựng bộ máy Nhà nước, thực hiện chức
năng nhiệm vụ được luật pháp quy định và chính phủ giao cho.
c) Cơ quan kiểm toán Nhà nước là cơ quan kiểm tra chuyên về tài chính công
từ bên ngoài các hoạt động tài chính của chính quyến Nhà nước, doanh nghiệp Nhà
nước các đơn vị có sử dụng vốn từ kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp.
d) Kiểm toán Nhà nước là cơ quan tối cao của nước Cộng Hoà xã hội chủ
là một thể chế độc lập về kiểm tra tài chính ” Điều 114 khoản 2 trong Hiến pháp
1992 (đã sửa đổi) quy định: “Cơ quan kiểm toán liên bang phải nộp báo cáo trực tiếp
cho Chính phủ Liên bang cũng như nghị viện liên bang & cho Hội đồng Liên bang sẽ
được điều chỉnh bằng luật Liên bang.” Những quy định trên cho thấy Kiểm toán Nhà
nước có vị trí rất cao, ngoài ra chúng ta còn thấy trong một số điều khoản luật ở
những nước này còn quy định cụ thể chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán
Nhà nước.
Một vấn đề mang tính nguyên tắc là kiểm toán Nhà nước hình thành và hoạt
động trên cơ sở pháp luật bảo đảm. Kiểm toán Nhà nước hoạt động độc lập chỉ tuân
theo pháp luật do đó đòi hỏi cần có địa vị pháp lí và luật đầy đủ, rõ ràng cụ thể. Có
như vậy mới đáp ứng được yêu cầu kiểm tra tài chính của tất cả các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức xã hội có sử dụng ngân sách Nhà nước. Mặt khác, trong tiến trình
hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi kiểm toán Nhà nước phải có một địa vị pháp lí đầy đủ
mà theo như chuẩn mực kiểm toán quốc tế và thông lệ quốc tế đều có.
Kiểm toán Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam được thành lập năm
1994 trên cơ sở Nghị Định số 70/CP ngày 11.7.1994 của chính phủ về việc thành lập
cơ quan kiểm toán Nhà nước,được hoạt động theo quyết định số 61/TTg ngày
24.1.1995 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của
kiểm toán Nhà nước. Từ kinh nghiệm các nước có kiểm toán Nhà nước phát triển ,địa
vị pháp lí của kiểm toán Nhà nước Việt nam đã và đang từng bước củng cố, hoàn
thiện và phát triển trong điều 73 Luật Ngân sách Nhà nước quy định “kiểm toán Nhà
nước là cơ quan thuộc Chính Phủ ”, cũng trong luật này điều 74 xác định tính độc
lập của kiểm toán Nhà nước,quy định về quyền kiểm toán Nhà nước khi thuộc nhiệm
vụ kiểm toán và trách nhiệm phải báo cáo kết quả kiểm toán với chính phủ,Quốc hội
và Uỷ ban thường vụ Quốc hội khi có yêu cầu.Tại điều 70 và điều 2 của Luật Ngân
sách Nhà nước mới chỉ giới hạn trách nhiệm kiểm toán Nhà nước trong trường hợp
cơ quan quyền lực chưa phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước và Ngân sách địa
kiểm toán Nhà nước thông qua kiểm toán hoạt động đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả
kinh tế xã hội, các mặt hoạt động của chủ thể kinh tế cũng đang là trọng điểm của
hoạt động kiểm toán Nhà nước.
* Chức năng của cơ quan kiểm toán Nhà nước:
Kiểm toán Nhà nước phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội trong những quyết
định của Quốc hội, không những ở chừng mực Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan
hành pháp mà cả trong việc thực hiện những nhiệm vụ của mình, với tư cách là cơ
quan ban hành luật ngân sách và các đạo luật chuyên môn có hiệu lực tài chính.
Kiểm toán Nhà nước cần phải báo cáo và tư vấn cho Chính phủ, cụ thể là báo
cáo cho cấp quản lí hành chính Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình,
đồng thời báo cáo cho cấp lãnh đạo trong công tác lãnh đạo cơ quan hành chính Nhà
nước,cũng như về tác động tài chính của biện pháp đề ra.
Kiểm toán Nhà nước thực hiện chức năng phòng ngừa và răn đe đối với bộ
máy hành chính Nhà nước, chống lại việc sử dụng phung phí và lạm dụng các
phương tiện tài chính của Nhà nước.
Kiểm toán Nhà nước cần phải thông báo cho công luận về việc sử dụng các
phương tiện tài chính Nhà nước,của Chính phủ và Quốc hội.
3/Nhiệm vụ của kiểm toán Nhà nước.
Trong một nhà nước pháp quyền hiện đại, với tư cách là cơ quan kiểm toán tối
cao của một nhà nước, kiểm toán nhà nước phải thực hiện những nhiệm vụ quan
trọng sau:
a/ Thực hiện nhiệm vụ và quyền kiểm toán tất cả các hoạt động kiểm toán của
đất nước và kiểm toán tài chính công đối với các cơ quan hành chính, các doanh
nghiệp và các dự án, các chương trình chính phủ. b/ Thực hiện nhiệm vụ hướng
dẫn, chỉ đạo công tác kiểm toán trong cả nước. Với tư cách là cơ quan kiểm toán tối
cao của một quốc gia mặc nhiên cơ quan kiểm toán Nhà nước phải đảm nhiệm trọng
kiểm toán Nhà nước.
Kể từ đó tới nay, sau 4 năm ổn định và phát triển bộ máy tổ chức và triển khai
hoạt động kiểm toán, kiểm toán Nhà nước đã bước đầu ổn định việc tổ chức và cơ
chế hoạt động. Trong 4 năm qua kiểm toán Nhà nước đã tích cực hoạt động và đã đạt
được những kết quả đáng khích lệ, góp phần ổn định nền tài chính quốc gia, đóng góp
tích cức vào công tác phòng chống tham ô và tham nhũng trong bộ máy kinh tế, tiết
kiệm chi và thu cho ngân sách Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng Bên cạnh những thành
tích đã đạt được, hoạt động kiểm toán Nhà nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn cũng
như những mặt hạn chế cần khắc phục. Song về cơ bản bằng những kết quả mà kiểm toán
Nhà nước đã đạt được, kiểm toán Nhà nước từng bước khẳng định vị trí cũng như vai trò
to lớn của mình trong quá trình ổn định nền tài chính làm ổn định và phát triển nền kinh
tế đất nước.
I - Những kết quả đạt được sau bốn năm xây dựng tổ chức và hoạt động.
1- Xây dựng, tổ chức bộ máy.
Việc tổ chức và quản lý kiểm toán Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc
tập trung thống nhất. Theo nguyên tắc này, cơ quan kiểm toán Nhà nước Việt Nam
được tổ chức thống nhất từ trên xuống, là một cơ quan của Chính phủ và thực hiện
chế độ một thủ trưởng trong suốt quá trình xây dựng, tổ chức và phát triển bộ máy
kiểm toán Nhà nước.
1.1. Bộ máy lãnh đạo.
Đã bổ nhiệm Tổng Kiểm toán Nhà nước và các phó tổng kiểm toán giúp việc.
Tổng kiểm toán Nhà nước do thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, có vị trí cao nhất trong
bộ máy lãnh đạo, với cương vị lãnh đạo cao nhất, tổng kiểm toán phân giao nhiệm vụ,
quyết định về nhân sự, xây dựng kế hoạch và dự thảo trình Chính phủ đồng thời trên
cơ sở nhiệm vụ do Chính phủ giao cho, Tổng kiểm toán lên kế hoạch xây dựng cơ
chế hoạt động, tổ chức các đoàn kiểm toán, báo cáo kết quả kiểm toán lên Chính phủ.
1.2. Bộ máy giúp việc.
2 - Hoạt động của kiểm toán Nhà nước Việt Nam.
Kiểm toán Nhà nước sau bốn năm hoạt động đã bước đầu ổn định về tổ chức
và cơ chế hoạt động (như đã trình bày ở phần trước). Chính vì vậy kiểm toán Nhà nước
đã được xã hội thừa nhận và nhận được nhiều sự hợp tác và ủng hộ của các cấp, các
ngành, các tổ chức trong và ngoài nước.
Trong bốn năm qua kiểm toán Nhà nước đã tiến hành được gần 1500 cuộc
kiểm toán đối với hầu hết các tỉnh, thành, nhiều bộ ngành và hàng trăm doanh nghiệp
lớn của Nhà nước, các công trình XDCB trọng điểm, qua hoạt động đó đã giúp tiết
kiệm và tăng thu cho ngân sách Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, kịp thời ngăn chặn và
xử lý các hiện tượng tiêu cực, những hành vi sai trái, gian lận trong quản lý và sử
dụng các nguồn lực của đất nước.
Kiểm toán Nhà nước đã góp phần thiết lập trật tự và kỷ cương quản lý nền
kinh tế tài chính trong tình hình mới, tạo ra tiền đề hết sức quan trọng trong việc nhận
thức vấn đề “từ nay các cơ quan đơn vị tổ chức có hoạt động thu chi ngân sách Nhà
nước đến phải được kiểm tra bắt buộc bởi cơ quan kiểm toán Nhà nước”. Giúp các
đơn vị kinh tế chấn chính công tác quản lý, hướng tới mục tiệu hiệu quả, điều chỉnh
các biện pháp quản lý, tư vấn cho các ban ngành xem xét và hoàn chỉnh các cơ chế
chính sách cho phù hợp với thực tiễn.
3. Chuẩn bị hướng phát triển lâu dài.
Hội đồng khoa học của kiểm toán Nhà nước đã xúc tiến việc nghiên cứu các
đề tài khoa học liên quan đến địa vị pháp lý của cơ quan kiểm toán tối cao, cơ chế
hoạt động kiểm toán Nhà nước, chuẩn mực kiểm toán Nhà nước qui trình kiểm toán,
những vấn đề cơ bản của cuộc kiểm toán v.v
Hoạt động của Hội đồng khoa học, Trung tâm khoa học đã và đang bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ kiểm toán, bám sát vào những định hướng phát triển lâu dài của ngành
để tổ chức công tác nghiên cứu, bồi dưỡng kiểm toán viên.
4. Các hoạt động đối ngoại của cơ quan kiểm toán Nhà nước Việt Nam.
chiếm khoảng 29%, là số cán bộ được đào tạo trong các trường đại học trong kỳ đổi
mới số này cần được kèm cặp, bồi dưỡng nhiều về kiến thức và kinh nghiệm kiểm
toán, song họ lại được trang bị những kiến thức hiện đại của nền kinh tế thị trường, là
những cán bộ có ưu thế tiếp cận nhanh với những thành tựu khoa học - kỹ thuật mới.
Thực trạng đào tạo đội ngũ kiểm toán viên Nhà nước: Từ những yêu cầu đặt ra
của nền kinh tế thị trường, nhu cầu về đào tạo kiểm toán là rất lớn. Trong quá trình
xây dựng tổ chức và hoạt động, kiểm toán Nhà nước đã mở được 4 khoá tập huấn
nghiệp vụ kiểm toán cho kiểm toán Nhà nước từ Trung ương và các khu vực nhằm
trang bị những kiến thức về luật pháp, chính sách tài chính kế toán, kiểm toán, đào
tạo hai khoá quản lý Nhà nước về ngạch chuyên viên.
Đã phối hợp với dự án ADB và dự án ODA của cộng hoà Liên bang Đức,
kiểm toán Nhà nước đã cử nhiều đoàn cán bộ đi khảo sát, nghiên cứu chuyên đề ở
nước ngoài, cử thực tập sinh đi học ở nước ngoài, bồi dưỡng thêm về tin học, ngoại
ngữ cho kiểm toán viên Nhà nước.
II - Mặt hạn chế.
1. Trong quá trình xây dựng, tổ chức.
1.1. Tổ chức các vụ kiểm toán chuyên ngành chưa hợp lý
Qua việc nghiên cứu các mô hình tổ chức kiểm toán Nhà nước của các nước
có thể tìm thấy điểm chung là:
Không thể căn cứ vào chức năng chuyên trách của các hoạt động kiểm toán để
tổ chức các Vụ kiểm toán mà cần phải căn cứ vào tính chất, phạm vi công việc để tổ
chức ra các Vụ, các cấp Vụ kiểm toán, và được điều tiết bởi kế hoạch công tác kiểm
toán của Nhà nước.
Việt Nam, chức năng nhiệm vụ của các Vụ kiểm toán chuyên ngành là quá
rộng lớn, có nhiều mối liên hệ đan xen nhau trong hoạt động kiểm toán. Xin đơn cử
một số vấn đề về ngân sách Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, ngân sách Nhà nước
gắn liền với hệ thống bộ máy Nhà nước các cấp từ Trung ương xuống địa phương,
1.3. Hội đồng kiểm toán Nhà nước được thành lập chưa mang tính thường
trực.
Hội đồng kiểm toán Nhà nước Việt Nam như hiện nay được xác định là Hội
đồng tư vấn cho tổng kiểm toán Nhà nước, Hội đồng này được lập ra và hoạt động
không mang tính thường trực, chỉ được lập ra khi cần thiết để thẩm định lại kết quả
và báo cáo kiểm toán của các cuộc kiểm toán đã thực hiện.
ở Nhật Bản, Hội đồng kiểm toán được lập ra nhằm thực hiện việc kiểm tra lại
kết quả và báo cáo kiểm toán của các cuộc kiểm toán đã thực hiện. Hội đồng kiểm
toán này cùng với Chủ tịch Uỷ ban kiểm toán Nhà nước gánh vác trách nhiệm đồng
thời bảo đảm cho các quyết định của Chủ tịch Uỷ ban kiểm toán có cơ sở và mang
tính khách quan, chúng ta cũng có thể thấy ở một số nước khác cũng tương tự như
vậy.
Từ việc tham khảo kinh nghiệm tổ chức bộ máy kiểm toán Nhà nước ở một
số nước trên thế giới chúng ta nên có Hội đồng kiểm toán mang tính thường trực,
cùng chia xẻ trách nhiệm với tổng kiểm toán Nhà nước, đảm bảo cho các quyết định
của tổng kiểm toán Nhà nước có cơ sở và mang tính khách quan.
2. Hạn chế trong quá trình hoạt động.
2.1. Địa vị pháp lý của kiểm toán Nhà nước.
Địa vị pháp lý là một trong những yếu tố góp phần tích cực nâng cao hiệu quả
và tính năng hoạt động của kiểm toán Nhà nước, tuy nhiên địa vị pháp lý của kiểm
toán Nhà nước Việt Nam mới chỉ giới hạn trong một số văn bản pháp quy và trong
một số điều khoản của luật ngân sách Nhà nước. Theo thông lệ quốc tế hoạt động của
cơ quan kiểm toán Nhà nước chỉ tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật, rõ ràng trong
sự sánh quốc tế, địa vị pháp lý của kiểm toán Nhà nước Việt Nam là chưa tương
xứng, chưa cao và chưa rõ ràng cụ thể, điều đó đã gây ảnh hưởng không ít đến hiệu
quả hoạt động của kiểm toán mà biểu hiện là tính độc lập khách quan của hoạt động
Phần III
Những ý kiến, giải pháp nhằm nâng cao vai trò kiểm toán Nhà nước
Từ những yêu cầu bức thiết của nền kinh tế đặt ra đối với hoạt động kiểm
toán, cần thiết phải nâng cao hơn nữa vai trò của kiểm toán Nhà nước trong hoạt
động quản lý vĩ mô của Nhà nước, từng bước xây dựng củng cố và hoàn thiện hệ
thống là bộ máy kiểm toán Nhà nước từng trung ương đến khu vực. Để thực hiện
được những điều đó trước hết kiểm toán Nhà nước cần thực hiện đồng bộ các chức
năng cơ bản đã được Chính phủ quy định, tiếp tục hoàn thiện địa vị pháp lý của kiểm
toán Nhà nước phù hợp với chức năng nhiệm vụ quan trọng mà nền kinh tế đặt ra,
đồng thời phải có biện pháp nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ kiểm toán cập nhật
thông tin, kiến thức hiện đại, hướng tới những mục tiêu, nội dung và phương pháp
kiểm toán quốc tế. Bên cạnh đó Nhà nước cần có những chính sách đầu tư và
khuyến khích đúng mức cho kiểm toán phát triển, cuối cùng là xác định rõ quyền
hạn và trách nhiệm của kiểm toán Nhà nước.
Với phương hướng nêu trên, để nâng cao hơn nữa vai trò của kiểm toán Nhà
nước chúng ta cần phải cụ thể hoá và tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
I. Chức năng của kiểm toán Nhà nước.
Kiểm toán Nhà nước cần thực hiện đồng bộ các chức năng cơ bản đã được
Chính phủ qui định trong đó cần làm tốt chức năng quản lý các hoạt động kiểm
toán Nhà nước cụ thể là:
Xác định đúng các mục tiêu phương hướng, kế toán ngắn hạn, hàng năm về
các hoạt động của kiểm toán Nhà nước đối với các ngành, các lĩnh vực, các tỉnh
nước chưa tương xứng với chức năng , vai trò cũng như nhiệm vụ của kiểm toán Nhà
nước hiện nay.
Từ thực tế đó cơ quan Kiểm toán Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện hệ thống các văn bản pháp luật, sửa đổi và bổ sung một số điều khoản đã quy
định trước đây đã không còn hợp lý với tình hình mới, xúc tiến xây dựng luật kiểm
toán pháp lệnh kiểm toán để trình Chính phủ và ban thường vụ Quốc hội xem xét và
phê duyệt, sớm ban hành chuẩn mực kiểm toán Nhà nước (đã dự thảo), sớm ban hàng
pháp lệnh kiểm toán Nhà nước để tạo cơ sở pháp lý cho kiểm toán Nhà nước hoạt
động.
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện địa vị pháp lý của kiểm toán Nhà
nước cần tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm qua việc tham khảo địa vị pháp lý
của kiểm toán Nhà nước của một số quốc gia có hoạt động kiểm toán phát triển tham
khảo các điều luật của luật kiểm toán của các quốc gia đó. Đặc biệt trong tình hình
hiện nay với xu hướng hội nhập, nhất thiết cần phải có căn cứ vào tuyên bố LiMa
làm thước đo chuẩn mực.
III. Tổ chức nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ kiểm toán.
Một vấn đề có tính ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kiểm toán đó là
năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên, chính vì vậy công
tác đào tạo cán bộ kiểm toán Nhà nước là một trong những hoạt động cực kỳ quan
trọng của cơ quan kiểm toán Nhà nước, hoạt động đó không chỉ phục vụ cho mục
đích và hiệu quả hoạt động hiện tại mà còn tạo nguồn lực bổ sung - những cán bộ
kiểm toán Nhà nước có chất lượng cao cho tương lai.
Để thực hiện tốt công tác đào tạo cần giải quyết một số công việc sau:
Xây dựng một chiến lược đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức kiểm toán Nhà
nước, đội ngũ kiểm toán viên Nhà nước để tạo ra một đội ngũ có đủ về số lượng và
mạnh về chất lượng (đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên, kiến thức hiện đại trình
độ phương pháp kiểm toán và có đủ sức khoẻ để phục vụ lâu dài). Trong kế hoạch
Để phát triển ngành kiểm toán Nhà nước lên một tầm cao mới, Nhà nước cần
quan tâm tới một số vấn đề sau:
. Đầu tư ngân sách đúng mức cho ngành kiểm toán tạo điều kiện phát triển cơ
sở vật chất, phương tiện hỗ trợ cho hoạt động kiểm toán.
. Có chính sách tiền lương và tiền thưởng hợp lý, đúng mức để cán bộ làm
việc có chất có chất lượng hiệu quả, đảm bảo khách quan trung thực, đúng đắn về
những kết luận của kiểm toán Nhà nước.
. Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác giữa kiểm toán Nhà nước Việt Nam
với các tổ chức cùng hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và các tổ chức khác để
tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức đối với ngành kiểm toán Nhà nước về đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, phương tiện điều kiện, kinh nghiệm làm việc.
. Phát triển các hoạt động có thu trong lĩnh vực chuyên môn của mình để tăng thêm
nguồn thu hỗ trợ cho sự phát triển của tổ chức kiểm toán.
V. Xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của kiểm toán Nhà nước.
Từ thực trạng hoạt động kiểm toán Nhà nước trong bốn năm qua, và những
vấn đề tồn tại cần giải quyết trong quá trình xây dựng, tổ chức và hoạt động kiểm
toán, cần làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của kiểm toán Nhà nước trong các văn
bản qui phạm pháp luật.
1. Quyền hạn:
Về quyền hạn của kiểm toán Nhà nước có thể xác định ở một số vấn đề cụ thể
sau:
Quyền độc lập trong xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động kiểm toán bao gồm cả
quyền đình chỉ, gia hạn hoặc thay đổi kế hoạch kiểm toán.
Quyền yêu cầu cán bộ các ngành, các đơn vị được kiểm toán và cá nhân, tổ
chức có liên quan cung cấp báo cáo quyết toán và các thông tin tài liệu cần thiết để
thực hiện kiểm toán.
Trong trường hợp cần thiết có quyền yêu cầu các cá nhân hoặc tổ chức cung