LUẬN VĂN:Một vài kiến nghị xung quanh vấn đề đảm bảo cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam..MỞ ĐẦUSau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, nhà nước t - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Một vài kiến nghị xung quanh vấn đề
đảm bảo cho kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ở Việt Nam.

MỞ ĐẦU
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ
nghĩa xã hội, nhà nước ta đặc biệt nhấn mạnh và đề cao hai thành phần kinh tế
quốc doanh và tập thể (thực chất chỉ là một) mà không nói tới các thành phần
kinh tế khác. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá IV thừa nhận sự tồn tại
của 3 thành phần kinh tế: quốc doanh, tập thể và cá thể ở miền Bắc và 5 thành
phần kinh tế ở miền Nam. Có thể nói Nghị quyết Đại hội Đảng IV, Đại hội
Đảng V đều khẳng định sự tồn tại của 5 thành phần kinh tế ở nước ta trong đó

lý của Nhà nước với thành phần kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo, xin được
phép nêu một số vấn đề như sau:
Phần I: Nội dung thành phần kinh tế nhà nước
Phần II: Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam.
Phần III: Một vài kiến nghị xung quanh vấn đề đảm bảo cho kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt
Nam.

PHẦN I
NỘI DUNG THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
Cơ sở để xem xét một thành phần kinh tế với tư cách là quan hệ sản xuất
trong đó quan hệ sở hữu có vai trò quyết định, còn quan hệ tổ chức quản lý và
quan hệ phân phối có vai trò tác động tích cực. Trong nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần thì các quan hệ sở hữu không tồn tại dưới dạng thuần khiết cô
lập mà chúng đan xen lẫn nhau. Người ta dễ dàng nhận thấy trong một tổ chức
kinh tế có nhiều quan hệ sở hữu khác nhau như: sở hữu nhà nước, sở hữu tập
thể, sở hữu cá nhân Do đó thành phần kinh tế dù chỉ được biểu hiện ra dưới
các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể song lại không trùng khớp với
một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh xác định nào đó. Để xem xét một tổ
chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế nào cần phải xem xét cụ thể xem lực
lượng kinh tế nào kiểm soát và chi phối chúng. Chính dựa trên cơ sở xem xét
khoa học như thế, chúng ta mới có thể hiểu được tại sao cùng là các công ty cổ
phần mà công ty này thì thuộc thành phần kinh tế tư nhân, còn công ty kia lại
thuộc thành phần kinh tế nhà nước.
Thành phần kinh tế nhà nước dựa trên cơ sở quan trọng là sở hữu nhà nước
về tư liệu sản xuất. Để tránh những hiểu biết hạn chế, những quan niệm sai lầm

- Yếu tố thứ ba: là tất cả hệ thống dự trữ, tài nguyên, đất đai, vùng biển,
vùng trời thuộc sở hữu nhà nước.
Do đặc thù xã hội chủ nghĩa nên ở nước ta toàn bộ đất đai, mặt biển,
không phận đều thuộc sở hữu nhà nước. Có những bộ phận đất đai nhà nước
giao cho nhân dân sử dụng lâu dài, cũng có bộ phận đất đai, mặt biển, tài
nguyên, không phận nhà nước cho thuê và có thu nhập theo định kỳ. Thu
nhập đó có thể đem tái đầu tư, cũng có thể cho vay hoặc chuyển giao cho công
dân dưới hình thức nào đó. Dù mục đích sử dụng khác nhau, song không thể
phủ nhận rằng sở hữu đất đai, mặt biển, bầu trời cùng với dự trữ quốc gia đã

làm cho nhà nước thực sự trở thành chủ thể kinh tế mạnh, không những có khả
năng tham gia vào các quá trình kinh tế mà có thể đóng vai trò điều tiết, định
hướng và kiểm soát các quá trình kinh tế đó.
- Yếu tố thứ tư: là hệ thống dịch vụ nhà nước kể cả dịch vụ thu phí và
dịch vụ không thu phí.
Khác với quan niệm sai lầm trước kia cho rằng của cải chỉ đơn thuần tồn
tại dưới dạng vật chất hàng hoá hữu hình, ngày nay kinh tế học hiện đại khẳng
định thêm rằng của cải còn là những dịch vụ với tư cách hàng hoá vô hình
nhưng có vai trò làm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và làm tăng chất
lượng của cuộc sống cũng được tính vào GDP. Một số dịch vụ nhà nước có thể
kể ra như sau: dịch vụ ngân hàng nhà nước, dịch vụ hải quan, dịch vụ thủ tục
hành chính cho hoạt động kinh tế như kiểm soát thị trường tiền, thị trường
chứng khoán, thị trường vốn Với việc cung cấp các dịch vụ này nhà nước có
thể tác động vào thị trường đồng thời qua thị trường tác động tới nền kinh tế.
Có thể thấy rằng yếu tố này đã góp phần làm cho tiềm lực kinh tế của nhà nước
tăng lên gấp bội.
Như vậy, thành phần kinh tế nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng rãi hơn

nghĩa do dân và vì dân mà nhân dân lao động có thể tiến hành kiểm soát các
quá trình tổ chức quản lý và phân phối của nền kinh tế. Có nghĩa là ẩn giấu
đằng sau hình thái sở hữu nhà nước, thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta vẫn
là chế độ sở hữu toàn dân, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa. Đây là đặc trưng
cần phải được nhận thức rõ và quán triệt đầy đủ trong cán bộ quản lý và nhân
dân lao động, nhất là người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước để mỗi
người đều có thể nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của bản thân trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển vững mạnh thành phần kinh tế nhà nước.
Mặt khác, cũng cần phải lưu ý hai điểm sau đây:
- Thứ nhất, thành phần kinh tế nhà nước được hiểu theo nội dung trên là
giai đoạn thấy, giai đoạn khởi đầu của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Trước kia chúng ta đã thất bại khi đẩy quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đi quá
xa, ngay lập tức thiết lập sở hữu toàn dân trực tiếp với quan hệ bao cấp và trao
đổi bằng hiện vật. Trong mô hình cũ, chúng ta đã thiết lập nhà nước như một tổ
chức tự quản với giả định rằng người lao động có đủ khả năng để kiểm tra,
giám sát mọi hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua chế độ bầu cử, bãi
miễn trực tiếp. Ngày nay, với việc thừa nhận cơ chế thị trường, thừa nhận sự
trao đổi sản phẩm thông qua giá trị như là hành vi phổ biến thì thiết chế nhà
nước cũng trở nên xa cách với người dân hơn, có tính độc lập tương đối hơn và
người dân không thể “tự quản nhà nước” mà chỉ có thể tiến hành kiểm tra giám
sát theo luật, theo hình thức chính trị của nhà nước (bầu cử) hay cũng có thể
đóng góp ý kiến để những người đại diện làm tốt hơn công việc của mình.
Chính vì thế, tính sở hữu toàn dân thể hiện rõ ở sở hữu nhà nước và được thể
hiện một cách gián tiếp hơn qua một số khâu trung gian mang tính chính trị
trực tiếp nhiều hơn tính kinh tế trực tiếp. Tính gián tiếp của sở hữu toàn dân đó
được thể hiện rõ ở giai đoạn thấp của quan hệ sản xuất XHCN.
PHẦN II
VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ
NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN
Ở VIỆT NAM
Việc đề ra quan điểm: “thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và
cùng với các thành phần kinh tế hợp tác dần dần trở thành nền tảng của nền
kinh tế quốc dân” là một trong những thành tựu to lớn của Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam, nó đánh dấu một sự chuyển
biến căn bản trong nhận thức của Đảng và nhà nước ta về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội cũng như về các yếu tố cơ bản cấu thành nền kinh tế đó.
Về mặt lý luận, vai trò chủ đạo do thành phần kinh tế đại diện cho phương
thức sản xuất mới đang dần thay thế phương thức sản xuất cũ để đảm nhiệm vai
trò đó. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta, vai trò chủ đạo đó tất yếu được đặt lên vai thành phần
kinh tế nhà nước. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng cộng sản
Việt Nam đã khẳng định: “tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà
nước để làm tốt vai trò chủ đạo đồng thời trở thành đòn bẩy đẩy nhanh sự tăng
trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ
để các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để nhà
nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế; tạo nền tảng
cho chế độ xã hội mới”. Và tư tưởng này một lần nữa được khẳng định và nhấn
mạnh tại Hội nghị trung ương 4 (khoá VIII). Tuy nhiên cho đến nay vẫn không
ít ý kiến cho rằng vai trò chủ đạo này nên đặt cho hệ thống doanh nghiệp nhà
nước hơn là cho thành phần kinh tế nhà nước. Nhưng nếu chỉ riêng hệ thống
doanh nghiệp nhà nước thôi thì sẽ gặp phải những khó khăn khi đảm đương vai Về thực tiễn, điểm qua vai trò của các thành phần kinh tế ở nước ta hiện
nay chúng ta thấy:
1. Trước hết, nói về kinh tế hợp tác xã: Kinh tế hợp tác xã trước đây gồm
những loại hình sau:
 Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
 Hợp tác xã sản xuất tiểu thủ công nghiệp
 Các hợp tác xã khác mà phần lớn là hợp tác xã nông
nghiệp.
Những hợp tác xã trên đây có đặc trưng là tập thể hoá tư liệu sản xuất và
tập thể hoá lao động. Nó cũng bị chi phối bởi nhiều cơ chế đặc biệt là cơ chế kế
hoạch hoá tập trung lạc hậu trước đây. Kinh tế hộ gia đình bị “hoà tan” vào
kinh tế tập thể. Trong nông nghiệp, chỉ từ sau chỉ thị 100 của Ban bí thư trung
ương Đảng (1981) và nghị quyết 10/Bộ chính trị, ban chấp hành trung ương
Đảng (4/1988), kinh tế hộ nông dân mới được thừa nhận, hộ gia đình được coi
là đơn vị kinh tế tự chủ. Còn trong công nghiệp phần lớn hình thức hợp tác xã
đã được thay thế bằng hình thức hộ gia đình.
Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ và hướng dẫn các loại hình hợp tác xã trong các
ngành và các lĩnh vực của nền kinh tế trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi,
quản lý dân chủ. Việc hợp tác như vậy sẽ kết hợp được sức mạnh của tập thể và
sức mạnh của hộ xã viên.
Bên cạnh vốn cổ phần do xã viên đóng góp và tài sản không chia của tập
thể, hợp tác xã có thể huy động vốn và sức lao động ngoài các thành viên của
mình. Xã viên được hưởng thu nhập từ hợp tác xã theo lao động và theo cổ
phần đã đóng góp. Hợp tác xã có thể kinh doanh tổng hợp nhiều nghành nghề
trên nhiều địa bàn mà không bị ràng buộc bởi ranh giới hành chính. động lực để người lao động gắn bó lâu dài với sự phát triển của doanh nghiệp,
coi lợi ích của doanh nghiệp là lợi ích của bản thân.
Một mặt nhà nước khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển, mặt
khác phải tăng cường các biện pháp quản lý vĩ mô đồng thời phải luôn điều tiết,
kiểm kê, kiểm soát cũng như định hướng để các doanh nghiệp này cùng phát
triển.
Như vậy, kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta hoạt động trong điều kiện, trong
môi trường kinh tế_xã hội; trong khuôn khổ các luật kinh tế nhà nước xã hội
chủ nghĩa tạo ra và chỉ được hoạt động trong những nghành, những lĩnh vực
nhà nước cho phép không dễ gì tự phát lên tư bản chủ nghĩa và nó chỉ có thể
được coi là một mắt xích để cấu thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
nước ta. Tuy thành phần kinh tế này cũng nắm giữ một vị trí quan trọng nhưng
không thể giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
4. Thành phần kinh tế tư bản nhà nước và thành phần kinh tế có vốn
nước ngoài (tại Đại hội Đảng IX đã tách ra thành một thành phần kinh tế độc
lập): Theo Lênin, kinh tế tư bản nhà nước được coi là hình thái kinh tế quá độ
trung gian nhằm đưa những cơ sở sản xuất nhỏ, lạc hậu lên sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa. Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với điểm xuất phát thấp, thiếu thốn
về mọi mặt: thiếu vốn, thiếu kỹ thuật công nghệ, thiếu kinh nghiệm để có thể
xây dựng một nền sản xuất lớn, hơn nữa chúng ta lại tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội mà bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nên gặp rất nhiều khó khăn. Và tư
bản nhà nước là hình thức kinh tế trong đó có sự liên doanh giữa nhà nước với
tư nhân. Ở nước ta chủ yếu là nhà nước liên doanh với tư nhân nước ngoài.
Theo luật đầu tư nước ngoài của ta, tuỳ theo từng lĩnh vực mà người nước
ngoài có thể chọn một trong 3 hình thức đầu tư ở Việt Nam, đó là những hình
thức sau:

5. Thành phần kinh tế nhà nước là thành phần mà nội dung đã được nêu
ở mục: “Nội dung thành phần kinh tế nhà nước”. Thông qua những vấn đề đã
nêu ở mục trên chúng ta có thể tự tin mà khẳng định rằng: đây là thành phần
kinh tế đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất so với các thành phần
kinh tế khác, về mặt hình thức, quan hệ sản xuất cũng cao hơn và bình đẳng
hơn. Nó đại diện cho lợi ích quốc gia và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động.
Thành phần này nắm những khâu, những ngành, những cơ sở, những lĩnh vực
then chốt và quan trọng nhất của nền kinh tế đất nước. Đồng thời kinh tế nhà
nước còn gắn trực tiếp với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nó
cùng với kinh tế tập thể hợp thành nền tảng kinh tế cho chế độ xã hội mới.
Hơn thế nữa kinh tế nhà nước còn mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa
cho nền kinh tế quốc dân, là chỗ dựa kinh tế của nhà nước. Vì thế, kinh tế nhà
nước chính là thành phần nắm giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Sau đây là một số biểu hiện về vai trò chủ đạo của thành phần này có thể kể
đến là:
 Thông qua việc cung cấp điều kiện gắn với đầu vào hoặc
đầu ra của sản xuất thuộc thành phần kinh tế khác mà kinh tế nhà nước hỗ trợ
các thành phần kinh tế này hoạt động theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
 Kinh tế nhà nước thông qua vai trò gương mẫu của mình
trong việc chấp hành các chính sách và luật pháp từ đó nêu một tấm gương để
hướng các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế khác làm theo.
 Kinh tế nhà nước không ngừng đổi mới kỹ thuật công
nghệ dựa trên quy mô vừa và lớn do đó có điều kiện để kinh doanh có lãi mà
vẫn chấp hành đúng việc nộp thuế vào ngân sách nhà nước đồng thời định
hướng cho các thành phần kinh tế khác trên 3 phương diện: nộp thuế đầy đủ,
đúng thời hạn; hiệu quả kinh tế cao; coi trọng việc đổi mới thị trường công
nghệ


làm tốt vai trò chủ đạo của nó đồng thời trở thành đòn bẩy đẩy mạnh tăng
trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn, tạo cơ
hội, điều kiện và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển; làm lực lượng
vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền
tảng cho chế độ xã hội mới phát triển.
Thêm vào đó phải tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong
những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng kinh tế_xã hội, hệ
thống tài chính_ngân hàng, bảo hiểm những cơ sơ sản xuất, thương mại, dịch
vụ quan trọng, một số doanh nghiệp liên quan đến quốc phòng an ninh.
Đồng thời phải tiếp tục đổi mới trong cách quản lý của doanh nghiệp nhà
nước, phát huy cao độ quyền tự chủ của doanh nghiệp trong sản xuất_kinh
doanh.
Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước
để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả, làm cho tài sản thuộc sở hữu nhà nước ngày càng tăng, đồng thời có
thể giảm bớt một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có hiệu quả, không
phải để tư nhân hoá như một số người quan niệm.
Phải tổ chức hợp lý các tổng công ty đảm bảo vừa tránh tình trạng phân
tán và tình trạng cục bộ vừa chống được tình trạng độc quyền trong sản
xuất_kinh doanh hoặc đơn thuần trở thành cấp hành chính trung gian vừa không
mang lại lợi ích thiết thực vừa thêm cồng kềng nặng nề và tốn kém.
Thực hiện tốt chủ trương trên đã đủ đảm bảo cho kinh tế nhà nước giữ
vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta
hiện nay.
Về cá nhân chỉ xin nêu thêm một số vấn đề nhỏ trong việc làm thế nào để
doanh nghiệp nhà nước (là một bộ phận trong thành phần kinh tế nhà nước)


yếu hiện nay là khắc phục bằng được tình trạng vô chủ, làm cho mỗi tài sản nhà
nước đều có chủ trực tiếp là những người hoạt động trong doanh nghiệp với
việc sử dụng có hiệu quả tài sản, tiền vốn của nhà nước và sự phát triển của
doanh nghiệp.
Muốn thực hiện được những vấn đề trên cần phải đổi mới tổ chức và cơ
chế doanh nghiệp nhà nước theo hướng:
 Tiếp tục thực hiện các hình thức cổ phần hoá có mức độ
phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất_kinh doanh nhằm thu hút thêm các
nguồn vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, đồng thời làm
xuất hiện cơ sở kinh tế để tổ chức hội đông quản trị_một hình thức tổ chức
quản lý gắn liền trách nhiệm của người chủ sở hữu với việc sử dụng có hiệu
quả tài sản của mình. Đây là việc làm cần thiết và cấp bách nhưng cũng rất khó
khăn, phức tạp. Vì vậy phải thận trọng nghiên cứu xác định rõ những loại
doanh nghiệp nào cần phải giữ 100% vốn nhà nước, loại nào chuyển sang
doanh nghiệp nhà nước cổ phần. Trong khi thực hiện chủ trương cổ phần hoá
đối với doanh nghiệp nhà nước, phải hết sức chú trọng ngăn ngừa những hiện
tượng tiêu cực, lợi dụng, xâm phạm tài sản của nhà nước vì những lợi ích cá
nhân.
 Áp dụng từng bước vững chắc phương thức chia lợi
nhuận theo lương cơ bản và bán một tỷ lệ cổ phần với điều kiện ưu đãi của
doanh nghiệp nhà nước cho công nhân, cán bộ nhân viên trực tiếp làm việc tại
doanh nghiệp. Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp và mục tiêu phát triển từng thời
kỳ mà có các biện pháp thích hợp.
 Nhà nước đại diện cho toàn xã hội vẫn nắm giữ phần lớn
cổ phần thông qua việc phân phố lại những lợi ích thu được từ các hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà đảm bảo lợi ích chung cho xã hội.
Đó là cách giải quyết tương tự đối với vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp. Là

Đối với những doanh nghiệp phục vụ lợi ích chung về kinh tế_xã hội
nhưng mức sinh lợi trực tiếp thấp hoặc thua lỗ thì nhà nước cần phải có những
chính sách ưu đãi, động viên cũng như hỗ trợ hợp lý để hệ thống các doanh
nghiệp này có thể tiếp tục hoạt động với hiệu quả cao hơn nữa.
Thêm vào dó, nhà nước cần phải đảm bảo sự kiểm soát theo đúng chức
năng đồng thời khắc phục tình trạng thanh tra, kiểm tra tùy tiện không những
gây hậu quả cho doanh nghiệp mà còn làm mất thời gian và tiền của của nhà
nước.
KẾT LUẬN
Hiện nay, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
phát triển theo định hướng XHCN, có sự quản lý của nhà nước. Trong việc xây
dựng hình thái kinh tế_xã hội mới không phải mọi thành phần kinh tế đều có
vai trò như nhau mà thành phần kinh tế nhà nước nắm giữ một vị trí quan trọng

và được chú ý vì nó là hạt nhân của quan hệ sản xuất mới đồng thời là một lực
lượng kinh tế, một công cụ có sức mạnh vật chất để nhà nước điều tiết, hướng
dẫn nền hinh tế nhiều thành phần phát triển đúng hướng. Nói như vậy không có
nghĩa là xem nhẹ các thành phần kinh tế khác mà một mặt chúng ta phải tạo

MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế chính trị tập 2 (ĐHKTQD).
2. Văn kiện Đại hội Đảng VIII.
3. Một số vấn đề về kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta.
- NXB Ch ính trị quốc gia -
4. Một số quan điểm và giải pháp chuyển sang kinh tế thị trừơng theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
- NXB Ch ính trị quốc gia -
5. Tạp chí cộng sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status