TIỂU LUẬN:
Thực trạng hoạt động của ngân
hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện Ninh Giang LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi Việt Nam bước vào nền kinh tế toàn cầu và đã là thành viên thứ 150
của tổ chức thương mại mậu dịch WTO, nhìn lại chúng ta đã thấy được sự chuyển
mình đáng kể của kinh tế đất nước cùng với rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác.
Hoà mình với sự phát triển đó, Việt Nam đang dần bắt kịp với nền kinh tế Thế Giới.
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, hoạt động của các tổ chức
kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực Ngân hàng có vai trò quan trọng trong phát triển nền
kinh tế. Để có thể tồn tại, phát huy khả năng của mình trong việc định hướng và
phát triển nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đang đứng trước nhiều
thách thức và cơ hội phát triển trong điều kiện các Ngân hàng nước ngoài với tiềm
lực tài chính và công nghệ mạnh đã và đang tìm cách xâm nhập vào thị trường này
mà trước đây còn mới mẻ.
Là một Ngân hàng Quốc doanh, với lợi thế của một Ngân hàng có mạng lưới
chi nhánh lớn nhất trong nước, hoạt động nhiều năm, tiềm lực tài chính đủ lớn để tài
trợ cho nhu cầu vay vốn của nhiều thành phần kinh tế nhất là kinh tế nông thôn,
NHNo & PTNT Việt Nam vẫn đang tạo cho mình được vị trí xứng đáng với tầm cỡ
1.2 Quá trình ra đời và phát triển của ngân hàng
1.2.1 Lịch sử hình thành
Ngày 01/04/1996 Huyện Ninh Thanh tách ra làm 2 huyện là : Huyện Ninh
Giang và Huyện Thanh Miện, trước đây là Ngân hàng Nông nghiệp Ninh Thanh.
Theo quyết định 05/24 QĐ TTg ban hành ngày 01/04/1996 tách huyện Ninh Thanh
ra làm 2 huyện và cùng với sự phát triển của đất nước, cũng như công cuộc Công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhu cầu cấp bách những chủ chương chính sách
cuả Đảng và Chính phủ về phát triển nông thôn trong giai đoạn mới, cho nên đòi hỏi
cần có những Ngân hàng cấp huyện để đẩy nhanh việc giải ngân, cấp vốn, huy động
vốn,….vv, vì thế Agribank chi nhánh là bạn đồng hành không thể thiếu của các
thành phần kinh tế trong huyện.
1.2.2 Các giai đoạn phát triển
Năm 1996 được tách huyện và đổi tên thành Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Huyện Ninh Giang
Trong năm 1998, NHNo&PTNT Huyện Ninh Giang đã tập trung nâng cao
chất lượng tín dụng, xử lý tồn đọng cũ và quản lý chặt chẽ hơn công tác thẩm định,
xét duyệt các khoản cho vay mới, tiến hành các biện pháp phù hợp để giảm nợ quá
hạn.
Năm 1999,đẩy mạnh huy động vốn trong và ngoài nước, mở rộng cho vay hộ
sản xuất được coi là những biện pháp chú trọng của Ngân hàng nông nghiệp kế
hoạch tăng trưởng.
Năm 2001 là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với
nội dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hóa tài chính,nâng cao chất lượng
tài sản có, chuyển đổi hệ thống kế toán hiện hành theo chuẩn mực quốc tế đổi mới
sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại tăng cường đào tạo và đào
tạo lại cán bộ tập trung đổi mới công nghệ ngân hàng, xây dựng hệ thống thông tin
quản lý hiện đại.
Năm 2003, NHNo&PTNT huyện Ninh Gianh đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện
đề tài cơ cấu nhằm đưa hoạt động của NHNo&PTNT huyện Ninh Giang phát triển
Phòng
hành
chính
Phòng
nguồn
vốn
Phòng
thẩm định Phòng tín
dụng
Phó giám
đốc
dụng các quỹ chuyên dùng trên địa bàn theo quy định.Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài
liệu về hạch toán kế toán, quyết toán và các báo khác theo quy định.
Thực hiện các khoản nộp Ngân sách theo luật định.Quản lý, sử dụng thiết bị
thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh doanh.Tổ chức báo cáo, kiểm tra
chuyên đề và thực hiện một số công việc khác được Giám đốc giao.
Phòng tín dụng :
Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng
và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng đầu tư
tín dụng.Phân tích kinh tế theo ngành nghề, lập danh mục khách hàng, lựa chọn
biện pháp cho vay an toàn và hiệu quả cao.Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án
tín dụng theo phân cấp uỷ quyền.Thẩm định các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình Ngân
hàng cấp trên theo phân cấp uỷ quyền.
- Bảo lãnh
- Chuyển tiền
- Mua bán ngoại tệ
1.5 Báo cáo kết quả kinh doanh BẢNG 1: BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KNH DOANH 3 NĂM 2007-
2008-2009
Đơn vị: đồng
Các chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
I. Tổng thu
28,298,000,000 30,560,000,000 35,860,000,000
1. Tổng thu về
hoạt động tín dụng
22,638,400,000 24,448,000,000 28,688,000,000
2. Thu về thanh
toán và ngân quỹ 1,980,860,000 2,139,200,000 2,510,200,000
3. Thu từ các hoạt
động khác 3,678,740,000 3,972,800,000 4,661,800,000
2,008 Chênh lệch tỉ lệ %
Tổng thu nhập
28,298,000,000 30,560,000,000 2,262,000,000 0.079935
Tổng chi
24,349,000,000 24,847,000,000 498,000,000 0.020453
Lãi
3,949,000,000
5,713,000,000
1,764,000,000 0.446695
1,847,000,000 0.323298Năm 2008 năm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng là nước chịu
ảnh hưởng nhiều từ vấn đề này. Hầu hết các doanh nghiệp trong nước đều chịu ảnh
hưởng, doanh thu giảm, giá cả tăng vọt làm cho chi phí tăng, lợi nhuân giảm, nhiều
doanh nghiệp đã không thể gượng dậy sau khủng hoảng và kết quả là phá sản. Đảng
và nhà nước đã đưa ra một chiến lược sáng suốt là hỗ trợ vốn bằng cách ngân hàng
nhà nước hỗ trợ các ngân hàng thực hiện chính sách tăng lãi suất tiền gửi, giảm lãi
suất cho vay nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất trong nước và xuất
nhập khẩu, cung cấp hàng hóa cho nền kinh tế. Vì vậy Ngành ngân hàng nói chung
và các ngân hàng tỉnh, huyện nói riêng luôn có thu nhập và lãi tăng dần theo các
năm với tỷ lệ 13%-33%, đây là mức tăng khá cao so với nền kinh tế Việt Nam khi
mà đất nươc đang trong thời kì trải qua năm khủng hoảng 2008, năm 2009 thâm hụt.
Phần 2 : Thực trạng hoạt động của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Ninh Giang
2.1 Nguồn nhân lực và chính sách nhân sự
2.1.1 Nguồn nhân lực
- Số lượng cán bộ công nhân viên đến ngày 31/12/2009 : 34 cán bộ
Bảng3: Số lượng công nhân viên ngân hàng nông nghiệp và phát triểm nông
thôn huyện Ninh Giang
Đơn vị: người
STT Chất lượng cán bộ công
nhân viên
Số lượng Phần trăm tăng
trưởng
Năm
với cán bộ công nhân viên là một phần quan trọng góp phần vào thành công chung
của toàn chi nhánh, bởi vậy mà hàng năm ngoài chế độ lương thưởng luôn được
đảm bảo và nâng cao, chi nhánh còn tổ chức các lớp tập huấn hoặc cử cán bộ theo
học các lớp nâng cao nghiệp vụ. Nhất là cán bộ tín dụng thường xuyên được tạo
điều kiện tham gia các khóa đào tạo về phân tích, thẩm định dự án, tất cả nhằm
hoàn thiện và ngày một nâng cao hiệu quả trong mọi hoạt động của chi nhánh
Tuyển dụng : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ninh
Giang không có quyền tuyển dụng cán bộ công nhân viên, chỉ đăng ký số lượng cán
bộ cần hàng năm và tập trung thi tại Ngân hàng nông nghiệp tỉnh sau đó phân về
các huyện.
Đào tạo : Ngoài các chương trình tỉnh tổ chức thì huyện thường xuyên tập
huấn các chế độ văn bản 1 năm/1 lần. Và mời các giáo viên có trình độ tại Hà Nội
về giảng theo chuyên đề , nâng cao trình độ nguồn nhân lực nhằm đáp ứng với thay
đổi của nền kinh tế nước nhà cũng như sự phát triển của nền kinh tế Tỉnh Hải
Dương nói chung và nền kinh tế huyện Ninh Giang nói riêng
Ngân hàng có chế độ khen thưởng nhắm khuyến khích lao động cho công
nhân viên.Các chế độ nghỉ lễ, phép ngân hàng thực hiện theo quy định của Bộ Lao
động Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm ý tế cho người lao động Ngân hàng thực hiện
đúng theo những quy định của pháp Luật. Thời gian làm việc hiện nay của ngân
hàng là: 5 ngày/tuần thời gian nghỉ giữa trưa một giờ.Thời gian làm việc cụ thể : Tai
trụ sở chính của ngân hàng : thời gian làm việc sáng từ 7h30 đến 11h30. Chiều từ
13h đến 17h
2.2 Điều kiện lao động
Trang bị cho công nhân viên : Ngân hàng nông nghiệp đã chuyển sang
giao dịch 1 cửa nên mỗi cán bộ công nhân viên trừ lái xe đều được trang bị
+ 1 quầy giao dịch
+ 1 máy đếm tiền ( ngoại tệ và VNĐ )
+ 1 máy soi tiền ( ngoại tệ và VNĐ )
+ 1 két sắt
hàng
3.5 4.1 5.3 17,14% 29,26%
(nguồn: Báo cáo tổng kết các năm nộp cho ngân hàng tỉnh của ngân hàng huyện
Ninh Giang)
Mức lương năm 2008 tăng 17,14% so với năm 2007 và năm 2009 tăng
29,26% so với năm 2008 do giá cả thị trường ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu
đời sống của nhân viên trong ngân hàng; ngân hàng huyện Ninh Giang đã đúng khi
chọn chính sách tăng lương , xây dựng nên lòng trung thành đối với ngân hàng của
công nhân viên cũng như sự tân tâm trong công việc của công nhân viên. Lương
cũng chính là đời sống của nhân viên, đời sống của họ có ổn định thì họ mới có thể
tập trung toàn tâm, toàn lực vào công việc. Mặc dù so với mức lương bình quân của
ngân hàng Tỉnh thì mức lương của ngân hàng huyện chưa phải là cao nhưng do tình
hình kinh tế ở huyện, tình hình đời sống của nhân viên ở huyện khác so với tỉnh ,
đồng thời mức độ công việc của nhân viên ngân hàng huyện nhẹ hơn mức độ công
việc của ngân hàng tỉnh nên mức lương hai nơi có sự chênh lệch
2.3 Các sản phẩm dịch vụ
Huy động vốn : Nhận các loại tiền gửi như tiền gửi không kì hạn, tiền
gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm ( tiền gửi tiết kiệm bằng vàng, tiền gửi tiết kiệm
bậc thang ), chứng chỉ tiền gửi có kì hạn, tài khoản tiền gửi có kì hạn, tiền gửi của
ngân hàng khác.
Sản phẩm tín dụng : căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay thì hiện
tại sản phẩm tín dụng của Agirbank chi nhánh huyện Ninh Giang gồm có : Cho vay
tiêu dùng ( mua xe, mua nhà trả bằng lương, bằng thu nhập, mua sắm vật dụng gia
đình, …), cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, cho
vay du học, cho vay đi lao động nước ngoài, cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất
kinh doanh, cho vay lưu vụ, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu cho vay mua sắm tài
sản cố định, đầu tư dự án.
Sản phẩm bảo lãnh trong nước : thực hiện đầy đủ các loại hình bảo
lãnh theo quy định nhưng hiện rất ít chủ yếu là : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực
Tổng chi 12.363 18.546 24.349 24.847 28.300
Lợi nhuận 2.987 3.352 3.949 5.713 7.560
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác tín dụng Agribank Ninh Giang năm 2005- 2009,
đã được kiểm toán)
Theo bảng số liệu trên cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh cũng như kết
quả tài chính của Agribank chi nhánh trong những năm qua là tốt, đây là xu hướng
chung của tất cả các NHTM trong thời kỳ hội nhập .Điều này sẽ giúp cho Agribank
chi nhánh nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong thời kỳ hội nhập .Ngoài ra
kết quả tài chính trên còn cho thấy một cách toàn diện hiệu quả hoat động kinh
doanh của Ngân hàng trong những năm gần đây đã tăng tối đa nguồn thu, giảm tối
đa nguồn chi phí trên cơ sở lợi nhuận hợp lý bằng biện pháp thích hợp.
Từ bảng số liệu ta thấy lợi nhuận tăng đều theo các năm .So với năm 2005 lợi
nhuận tăng 2.987 triệu đồng lên 7560 triệu đồng năm 2009 và dự kiến tăng lên 9.321
triệu đồng vào năm 2010, đây là biểu hiện tích cực cho thấy định hướng và chính
sách đúng đắn của Agribank chi nhánh phù hợp với yêu cầu của thị trường mặc dù
nền kinh tế thế giới đang suy giảm .
2.5 Nguồn vốn huy động
2.5.1 Phương pháp huy động vốn
Xác định rõ chức năng của NHTM là: “ Đi vay để cho vay ” do đó không thể
trông chờ vào nguồn vốn cấp trên mà phải tìm mọi biện pháp để khai thác nguồn vốn
để đảm bảo hoạt động của mình thực hiện đa dạng hoá cả về hình thức huy động vốn,
cả về hình thức lãi suất huy động, kết hợp giữa huy động vốn trong huyện với huy động
vốn ngoài huyện, sử dụng các hình thức huy động vốn: Tiền gưỉ tiết kiệm các loại, kỳ
phiếu tiền gửi kho bạc, tiền gửi các tổ chức kinh tế … Với thời hạn và mức lãi suất
khác nhau .Vận động mở tài khoản cá nhân và thanh toán không dùng tiền mặt qua
Ngân hàng …vv, vừa qua Agribank chi nhánh áp dụng hình thức tiết kiệm bậc thang
với cách tính lãi linh hoạt đựợc khách hàng hưởng ứng .Ngoài ra Agribank chi nhánh
còn sử dụng hoạt động Marketing trong việc huy động vốn bằng các hình thức quà
tặng theo giá trị khoản tiền gửi vào ngân hàng, khen thưởng những đơn vị, tổ chức
động .Điều này cho thấy sự ổn định trong nguồn vốn huy động của Agribank chi
nhánh.
Trong khi đó, tỷ trọng nguồn vốn huy động có kỳ hạn > 12 tháng cũng luôn
tăng qua các năm, cụ thể là năm 2005 tỷ trọng nguồn vốn có kỳ hạn chiếm 37,78%
trong tổng nguồn vốn huy động thì năm 2009 tỷ lệ này là 44,86% .Bên cạnh đó, cơ
cấu nguồn vốn huy động theo đơn vị tiền tệ, thì đồng nội tệ luôn chiếm tỷ trọng cao
trên 86% trong tổng nguồn vốn huy động.
Với sự tăng trưởng nguồn vốn trung bình trên 23%/năm, cùng với cơ cấu
nguồn vốn ổn định cho thấy tình hình tăng trưởng nguồn vốn của Agribank chi
nhánh trong những năm qua là tốt, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, đáp ứng
nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Biểu đồ 1: NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA AGRIBANK
NINH GIANG GIAI ĐOẠN 2005 -2009
300 302.220
231.376
200 142.600 179.080
100 108.990 0
2005 2006 2007 2008 2009
Năm
Biểu đồ 2: TỶ LỆ DƯ NỢ CHO VAY THEO MỤC ĐÍCH CHO VAY
100%
80%
C/V thương mại
C/V ưu đãi
C/V chỉ định
20%
C/V vốn O
0
2005 2006 2007 2008 2009 Năm
(nguồn: phòng kế toán ngân hàng huyện Ninh Giang)
Cơ cấu cho vay
Có rất nhiều cách phân loại cơ cấu cho vay, với mỗi cách phân loại có thể
đánh giá thực trạng của Ngân hàng.
Bảng 8: Cơ cấu dư nợ theo thời hạn cho vay
Đơn vị : %
Năm Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn Tỷ trọng dư nợ trung – dài hạn
2005 47,22 52,78
2006 44,7 55,3
2007 48,7 51,3
2008 51,62 48,4
2009 54,47 45,6
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác tín dụng 5 năm)
giảm về dư nợ cũng như tỷ trọng. Vì đây là thành phần kinh tế được xem là hoạt
động không hiệu quả trong giai đọan vừa qua. Mặt khác, dư nợ cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua đã tăng trưởng khá nhanh, chiếm 35,04%
trong tổng dư nợ cho vay.
* Chất lượng tín dụng và vấn đề trích lập dự phòng , quản lý rủi ro
Trong những năm qua, chất lượng tín dụng của Agribank Ninh Giang đã
luôn được cải
thiện, cụ thể là năm 2009 tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,9% trong tổng dư nợ.
Về vấn đề phân lọai nợ và trích lập dự phòng rủi ro, Agribank chi nhánh luôn thực
hiện đúng qui định của Agribank Việt Nam và bám sát thông lệ quốc tế, tích cực xử
lý nợ tồn đọng của doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ và Agribank Việt
nam .Cụ thể là trong năm 2009 Agribank
chi nhánh Ninh Giang
đã trích quỹ dự
phòng và xử lý rủi ro.
Bảng 9 : Số liệu nguồn dự phòng rủi ro tín dụng 2009
(31/12/2009)
Đơn vị : Nghìn đồng
TT
Diễn giải Dự phòng cụ thể Dự phòng chung
TS
C
Chi Nhánh CL
N
N
TS
(Nguồn : Phòng Tài chính kế toán cung cấp)
2.6 Năng lực cạnh tranh
2.6.1 Điểm mạnh
- Mạng lưới rộng khắp ,các điểm giao dịch phát triển về các xã, các khu vực
trong huyện, thị phần ổn định, số lượng khách hàng dồi dào, bên cạnh đó nó còn tạo
điều kiện thuận lợi cho chi nhánh dễ dàng phát triển thị trường bán lẻ .
- Thương hiệu được xem là điểm mạnh thứ 2 mà Agribank có được so với các
TCTD khác trong nước. Ngày nay, thương hiệu được xem như là một trong những
công cụ quan trọng trong việc thiết lập quan hệ, tạo dựng niềm tin đối với khách hàng
trong và ngòai nước.
- Có sự hỗ trợ của Chính phủ và quỹ hỗ trợ phát triển của các tổ chức quốc tế
như: ODA, AFD, ADB tài trợ cho những dự án phát triển nông nghiệp nông thôn,
công nghiệp hóa ngành nông _lâm_ ngư nghiệp .Cụ thể là đến cuối năm 2009,
Agribank chi nhánh đã tiếp nhận, quản lý và triển khai có hiệu quả 11 dự án của cá
tổ chức quốc tế, đặc biệt là WB, ADB tài trợ với số vốn trên 268 triệu USD. Các dự
án tiếp tục hướng vào mục tiêu mở rộng tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn,
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống
người dân tại các vùng nông thôn H.Ninh Giang.
2.6.2 Điểm yếu
- Chịu sự chi phối nhiều từ phía Chính phủ, hoạt động hoàn toàn không vì
mục đích thương mại.
- Cơ chế quản lý hiện tại chưa đựơc phù hợp với tình hình hiện tại, vẫn còn
tư tưởng của cơ chế xin - cho.
- Sản phẩm chưa đa dạng, còn nghèo nàn về sản phẩm, chất lượng dịch vụ chưa
được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người tiêu dùng.
- Năng lực tài chính còn yếu so với chuẩn mực quốc tế .
- Ngành nghề mà Agribank chi nhánh đầu tư chủ yếu là lĩnh vực nông - lâm -
ngư nghiệp, đây là thị trừơng chịu nhiều tác động của yếu tố tự nhiên (thiên tai, hạn
hán, lũ lụt) nên rủi ro thất thóat là rất lớn. Bên cạnh đó, doanh số cho trong lĩnh vực
chính của Reuteurs dùng để cung cấp thông tin trực tuyến mua bán ngoại tệ .
Phần 3 : Nhận xét
3.1 Thuận lợi và khó khăn
3.1.1 Thuận lợi
Nền kinh tế của tỉnh trong những năm vừa qua liên tục tăng trưởng với tốc
độ khả quan: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 10%, riêng năm 2009 đã đạt
14,9%, đứng thứ 2 trên 11 huyện. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực,
tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ năm 2009 đạt 43%;
34,1%; 22,9% (so với kế hoạch: 45%;37,2%; 17,8%), kim ngạch xuất khẩu năm
2009 đạt kế hoạch 218 triệu USD. Bên cạnh đó đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được đảm
bảo.
Huyện có nhiều chính sách, cơ chế mở cửa khuyến khích, thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài. Tính đến hết năm 2009 trên địa bàn Huyện có 186 dự án đầu tư
(vốn đăng kí tương đương 1.124 triệu USD), đã có 124 dự án đi vào hoạt động tạo
ra giá trị sản xuất hàng ngàn tỷ đồng/năm, đóng góp gần 70% số thu ngân sách hàng
năm của tỉnh, tạo việc làm thường xuyên cho 11,3 vạn lao động.
Ngân hàng đã có những biện pháp, chiến lược kinh doanh nhạy bén trước sự
thay đổi của kinh tế xã hội. Tập thể cán bộ, lãnh đạo trong chi nhánh luôn hướng tới
mục tiêu và lợi ích chung. Môi trường làm việc năng động với đội ngũ cán bộ trẻ
hoá đã tạo ra những chuyển biến tích cực và đem lại niềm tin đối với khách hàng.
3.1.2 Khó khăn
Ninh Giang là một huyện thuần nông, xuất phát điểm từ nền kinh tế còn thấp.
Việc triển khai xây dựng các cụm công nghiệp, làng nghề tập trung còn chậm, năm
2009 trong số 487 dự án đăng kí chỉ có 226 dự án được cấp phép hoạt động, đạt tỷ
lệ 46%. Đặc biệt, trong năm 2009 chỉ số giá tiêu dùng và giá cả một số mặt hàng