Công ty điện tử hà nội
________________________________________________
báo cáo tổng kết dự án kc 01.da04
hoàn thiện công nghệ chế tạo
và sản xuất thử nghiệm tv màu màn hình phẳng chủ nhiệm đề tài: Trịnh minh châu
Cơ quan chủ trì: cty điện tử hà nội
6319
16/03/2007
2.1.2. Đánh giá công nghệ và lựa chọn giải pháp hoàn thiện sản
phẩm 15
2.1.2.1. Nhược điểm của công nghệ cũ 15
2.1.2.2. Lựa chọn giải pháp hoàn thiện sản phẩm 16
2.1.2.3. Ứng dụng giải pháp One Chip của TOSHIBA 17
1. Cấu trúc One Chip TOSHIBA TMPA8821 17
2. Sơ đồ khối của TMP sử dựng giải pháp One Chip của
TOSHIBA 21
2.1.3. Phát triển phần mềm vận hành và điều khiển cho TMP 22
2.1.3.1. Lựa chọn ngôn ngữ lập trình 22
2.1.3.2. Phát triển phần mềm cho TMP dùng ngôn ngữ C-like 14
2
1. Đặc điểm của ngôn ngữ C-like 24
2. Qui trình và công cụ phát triển chương trình phần mềm 25
3. Nội dung phát triển phần mềm TMP 24
2.1.4. Hiệu chỉnh và hoàn thiện các sản phẩm mẫu 38
2.1.4.1. Hiệu chỉnh mạch điều khiển Tuner 38
2.1.4.2. Hiệu chỉnh phần quét dòng 39
1. Hiệu chỉnh mạch kích dòng 39
2. Xử lý hiện tượng transistor quét dòng nóng …………… 39
3. Xử lý hiện tượng trôi kích thước dòng và méo S 40
2.1.4.3. Hiệu chỉnh mạch quét mành 40
1. Hiệu chỉnh nhằm giảm công suất tổn hao cho IC mành 40
2. Xử lý hiện tượng IC mành nóng 41
2.1.4.4. Hiệu chỉnh âm thanh ………………………………… 42
1. Thay đổi mạch ngoài của sound processor …………… 42
2. Giảm biên độ đầu vào cho Sound Amplifier ……………. 42
3. Tăng hiệu quả nén âm thanh tại đầu ra loa 43
4. Hiệu chỉnh mạch lọc cho đường woofer 43
5. Xử lý hiện tưởng loa rè khi âm lượng lớn 44
y ……………………… 57
2.1.4.9. Xử lý kết cấu cơ khí 57
1. Các nhược điểm về kết cấu cơ khí 58
2. Biện pháp khắc phục và kết quả đạt được 58
2.2. X©y dùng quy tr×nh s¶n xuÊt và kiểm tra sản phẩm 59
2.2.1. Quy tr×nh s¶n xuÊt l¾p r¸p
59
2.2.2. X©y dùng quy tr×nh kiÓm tra ………………………………
65
2.2.2.1. Kiểm tra sau lắp ráp CKD 65
2.2.2.2. Kiểm tra sau lắp ráp hoàn chỉnh ………………………. 65
2.2.2.3. Ph©n lo¹i vµ xö lý c¸c s¶n phÈm sau kiÓm tra ………… 65
2.2.3. Căn chỉnh máy với chế độ Service …………………………. 66
2.2.3.1. Vào chế độ c
ăn chỉnh 66
2.2.3.2. Các thanh ghi điều khiển Chip TOSHIBA ……………. 66
2.2.3.3. Bảng các tham số điều chỉnh TMP trong chế độ service 67
2.2.3.4. Thiết lập chế độ và căn chỉnh 70
2.2.3.5. Căn chỉnh kích thước mành 71
2.2.3.6. Chỉnh kích thước dòng ……………………………… 72
2.2.3.7. Chỉnh cân bằng trắng 72
2.2.3.8. Chỉnh độ sáng (PAL/SECAM và NTSC) …………… 72
2.2.3.9. Chỉnh chế độ tương phản 73
2.2.3.10. Chỉnh chế độ màu (chỉnh Sub color) 73
4
2.2.3.11. Chỉnh tông màu NTSC (chỉnh Sub Tint) 74
2.2.3.12. Chỉnh độ sắc nét (Sub Sharpness) hệ PAL/SECAM 74
2.2.3.13. Chỉnh SBY/ SRY (chỉ cho hệ SECAM) 75
2.3.5.6. Các hiện tượng khác ………………………………… 93
2.3.6. Kiểm tra nhiệt độ hoạt động của các linh kiện chính 93
2.3.7. Kiểm tra chất lượng hoạt động của nguồn 94
2.3.7.1. Điều kiện ngắt nguồn 94
5
2.3.7.2. iu kin khi ng ngun 95
2.3.7.3. Kim tra nhit hot ng 95
2.3.8. Kim tra mỏy thu ti cỏc a phng 97
2.3.8.1. iu kin o 97
2.3.8.2. Kt qu o nhy ti cỏc a phng 98
2.4. Cải tạo, sửa chữa nhà xởng; mua mới và lắp đặt thiết bị .
99
2.5. Hun luyn v o to chuyờn mụn v cụng ngh v sn phm
mi 99
2.5.1. Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề .
99
2.5.2. L
p k hoch v thc hin chng trỡnh gii thiu, hun
luyn o to v lp rỏp, cn chnh, bo hnh sn phm 100
2.6. Sản xuất lô thử nghiệm
102
2.7. Quảng bá sản phẩm
102
2.8. Cung cấp dịch vụ khách hàng
103
9. Chất lượng hoạt động của nguồn 114
10. Kết cấu cơ khí ………………………………………… 114
3.2.2.3. Kết quả đo l−êng vµ chøng chØ chøng nhËn tiªu chuÈn
chÊt l−îng s¶n phÈm
114
3.2.2.4. Quy tr×nh s¶n xuÊt c«ng nghiÖp cña s¶n phÈm …………… 114
3.2.2.5. Kết quả đào tạo ………………………………………… 115
Chương 4: Kết luận và kiến nghị 116
4.1. Kết luận 116
Lời cảm ơn 117
Tài liệu tham khảo - liên quan 118
Phụ lục 119
7 DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN DỰ ÁN
STT Họ và tên Học vị Chuyên môn
1. Trịnh Minh Châu Kỹ sư Điện tử – Viễn thông
2. Đinh Ngọc Hưng Kỹ sư Điện tử – Viễn thông
3. Lê Văn Tuy Kỹ sư Điện tử – Viễn thông
4. Lê Anh Tú Kỹ sư Điện tử – Viễn thông
5. Phan Tất Thành Kỹ sư Tự động hóa
6. Nguyễn Thành Chung Kỹ sư Điện tử – Viễn thông
7. Nguyễn Văn Phương Kỹ sư Điện tử – Viễn thông
8. Lê Thị Mùi Kỹ sư Điện tử – Viễn thông
9. Nguyễn Ngọc Hân Kỹ sư Điều khiển tự động
xuất thử nghiệm cấp Nhà nướ
c KC.01.DA.04 mang tên “Hoàn thiện công nghệ
chế tạo và sản xuất thử nghiệm Tivi màn hình phẳng”. Tuy nhiên, chỉ có thông
qua dự án sản xuất thử nghiệm này, công nghệ sản xuất các thiết bị điện tử nói
chung, TV màu màn hình phẳng nói riêng mới thực sự trở nên thuần thục, cho
phép tạo ra các sản phẩm đảm bảo hơn về chất lượng và giá thành rẻ hơn.
Do vậy, có thể nói, Dự án KC.01.DA.04 là bước kế tụ
c tất yếu của Đề tài
nghiên cứu trước đó. Nó là cầu nối giữa nghiên cứu, sản xuất với thị trường và
do đó có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Với Đề tài, sản phẩm mới chỉ hình thành
và còn mang nặng tính mô hình lý thuyết, còn với Dự án sản xuất thử nghiệm,
sản phẩm đã xuất hiện dưới dạng thương mại. Đây là bước tập dượt quan tr
ọng
cho các doanh nghiệp điện tử Việt Nam nghiên cứu – phát triển và tiến hành sản
xuất thương mại cho thị trường.
Chúng tôi hy vọng sự thành công của Dự án sẽ góp phần thúc đẩy các sản
phẩm điện tử Việt Nam phát triển, sản phẩm sẽ được sản xuất hàng loạt để
chứng tỏ năng lực của Công nghiệp Điện tử Việt Nam có thể làm ra các s
ản
phẩm chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện tử nước ngoài.
9
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu và triển khai truyền hình tương tự ở
nước ngoài:
Tivi mầu màn hình phẳng (TMP) hiện nay đã trở thành một sản phẩm tiêu
dùng khá được ưa chuộng trên thế giới và trong nước, do chỗ kiểu dáng đẹp,
chất lượng tốt mà lại không quá đắt như LCD, Plasma. Cho tới nay, giải pháp
công nghệ cho dòng sản phẩm này đã tương đối ổn định và đang ở vào giai đoạn
bằng công nghệ mạch in một hoặc hai lớp (chủ yếu là một lớp); linh kiện xuyên
lỗ; có phần mềm xử lý nhúng trên chip; kích thước, công suất tiêu thụ lớn; màn
hình CRT truyền thống… C
ũng cần lưu ý rằng, hiện nay TMP thường dùng giải
pháp một chíp thay vì các loại giải pháp hai chíp trước kia. Trong xu thế đang
chuyển hướng mạnh mẽ của công nghệ truyền hình tương tự sang truyền hình
số, thì TMP là một sản phẩm trung gian cho phép xem truyền hình tương tự và
làm một thiết bị cuối dùng để xem truyền hình số.
10
1.2. Tình hình nghiên cứu và triển khai truyền hình tương tự ở
trong nước:
Tất cả các sản phẩm TV mầu màn hình phẳng (TMP) được sản xuất tại Việt
Nam đều chỉ là các sản phẩm lắp ráp CKD, SKD. Các công ty liên doanh khi
sản xuất, lắp ráp đều mang thương hiệu của nước ngoài (hãng nước ngoài đầu tư
vào liên doanh như SONY, SAMSUNG, LG, TOSHIBA, PHILIPS ). Các
Công ty trong nước tuy có sản phẩm mang thương hiệu của mình nhưng thực ra
đều chỉ là các sản phẩm chuyển giao công nghệ sản xuất, lắp ráp với hàm lượng
ch
ất xám rất thấp. Và hầu hết các công ty sản xuất TMP đều có đầu tư cho công
tác nghiên cứu, thiết kế chế tạo; tuy nhiên, với xuất phát điểm thấp, hạ tầng cơ
sở thiết bị và truyền thống, kinh nghiệm, con người còn rất nhiều hạn chế cho
nên thành tựu đạt được cơ bản chỉ ở mức hiểu biết về nguyên lý, hiệu chỉnh và
chỉnh sử
a một số phần.
Công ty Điện tử Hà Nội (HANEL) là công ty điện tử có bề dày kinh
nghiệm trong sản xuất TV. Việc lắp ráp, chế tạo TV theo các thiết kế của nước
ngoài đã được HANEL tiến hành từ đầu những năm 1980. Với đội ngũ kỹ sư
nhiều kinh nghiệm và hạ tầng sản xuất khá hoàn chỉnh, từ nhiều năm nay
HANEL đã đầu tư cho nghiên cứ
u – phát triển nhằm tự thiết kế chế tạo các loại
việc tự chủ đào tạo, xây dựng các quy trình và chiến lược phát triển sản phẩm
mới. Những tính năng kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng cao và lợi thế về giá thành
của sản phẩm do chính người Việt Nam thiết kế chế tạo trong nước cũng như
chính sách bảo hộ và khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước sẽ tạo ra
năng lực cạnh tranh mạnh mẽ của sản phẩm đang rất được ưa chuộng này trên
thị trường nội địa, đồng thời tạo lực cho xuất khẩu sản phẩm điện tử của Việt
Nam, xây dựng và quảng bá thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Đồng th
ời cũng để góp phần tăng thêm sự tự tin, nhiệt tình đóng góp vào sự
nghiệp khoa học, sản xuất thực tiễn của đội ngũ khoa học kỹ thuật trẻ; đẩy mạnh
phát huy chất xám nội lực và thực hiện tái đầu tư cho các đề tài, dự án của nhà
nước.
Việc cung cấp các sản phẩm cao cấp cho thị trường có ý nghĩa rất lớn kích
thích phát triển các nghiên cứu theo h
ướng công nghệ cao, chất lượng cao, để
nâng cao uy tín thương hiệu cho nhà sản xuất.
Ngay trước mắt, sản phẩm TMP thực hiện trong dự án sẽ dần dần thay thế
các sản phẩm TV mà HANEL đang sản xuất, lắp ráp theo thiết kế nước ngoài.
Việc thực hiện dự án này bởi chính nhóm thực hiện đề tài tiền thân của dự
án là một điều kiện tốt nhất đảm bảo cho s
ự thành công và tính hiệu quả của dự
án. Đồng thời thông qua đó, xây dựng được một quy trình khép kín từ nghiên
cứu thiết kế tới làm chủ công nghệ chế tạo và sản xuất thử nghiệm đưa ra thị
trường sản phẩm điện tử cao cấp với hình thức, chất lượng và dịch vụ cao tương
đương hàng ngoại nhập nhưng giá thành và chi phí hạ. Việc thực hiện thành
công dự
án này cũng sẽ nâng lên tầm cao mới về thế và lực của Việt Nam trong
bước đầu hết sức quan trọng của quá trình hội nhập quốc tế, tự chủ về công nghệ
thiết kế chế tạo các sản phẩm điện tử cao cấp, theo kịp với trào lưu chung của
cỡ lớn, chất lượng cao; kích cỡ màn hình từ 21” trở lên và đi kèm thêm một hay
nhiều các tính năng mở rộng:
+ Về hình ảnh như PIP, Combfilter, Picture Improvement
+ Về âm thanh như các hiệu ứng Surround, Woofer với hệ thống âm
thanh 2.1; 3.1; 4.1 hoặc 5.1.
Các thương hiệu TV có xuất xứ từ Hàn Quốc như: LG, Samsung,
Daewoo tập trung vào mảng thị trường rộng hơn bao gồ
m cả thành phố và các
vùng nông thôn với các chủng loại TV rất đa dạng trải khắp phạm vi từ 14” đến
32”, tính năng rất phong phú và đa dạng từ đơn giản nhất không có tính năng mở
rộng nào cho đến những loại có tính năng cao cấp đầy đủ như các TV xuất xứ từ
Nhật Bản.
Các thương hiệu TV có xuất xứ từ Trung Quốc như: TCL, Konka,
Changhong tập trung vào mảng thị tr
ường máy chất lượng thấp và trung bình;
chủ yếu phục vụ thị trường các vùng nông thôn với các chủng loại TV cũng rất
đa dạng trải khắp phạm vi từ 14” đến 32”, tính năng rất phong phú và đa dạng từ
đơn giản nhất không có tính năng mở rộng nào cho đến những loại có tính năng
cao cấp đầy đủ như các TV xuất xứ từ Nhật Bản.
Các thương hiệu TV có nguồn g
ốc trong nước như: HANEL, VTB,
Nikko cũng đều chủ yếu tập trung vào mảng thị trường máy chất lượng trung
bình và thấp; chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại các thành phố nhỏ và các vùng
nông thôn. Chủng loại TV khá hạn chế chủ yếu chỉ trong phạm vi từ 14” đến
13
29”; các TV màn hình cỡ lớn (>29 ”) gần như không sản xuất do không có thị
trường.
Về tính năng bên trong máy:
+ Máy cao cấp: (thường chỉ các máy có kích thước màn hình từ 21” trở
ố rất ít tại các thành phố nhỏ. Tùy theo tính năng và chất lượng TV
mà giá thành của loại TV cao cấp nằm trong khoảng từ 4.5 triệu trở lên với TV
21” (với các TV có thương hiệu xuất xứ từ Nhật Bản); và trong khoảng từ 3.8
triệu trở lên với TV 21” (với các TV có thương hiệu xuất xứ từ Hàn Quốc);
trong khoảng từ 3.0 triệu với TV 21” (với các TV có thương hiệu xuất xứ từ
Trung Quốc); TV cao c
ấp mang thương hiệu của các nhà sản xuất trong nước
14
như Hanel, VTB, Nikko không có mặt trên thị trường do các hãng này không
thể cạnh tranh nổi với các thương hiệu có tiếng khác. Mặt khác, tâm lý của
người tiêu dùng Việt Nam, nhất là đối với người tiêu dùng ở thành thị, rất
chuộng hàng ngoại nhập cũng như thương hiệu nước ngoài.
Với tính năng và chất lượng gần tương đương nhau, TV cao cấp của các
hãng sản xuất có thương hiệu từ Nhật Bản luôn có mức giá cao hơ
n khoảng xấp
xỉ một triệu VNĐ so với các hãng sản xuất có thương hiệu từ Hàn Quốc. Con số
này sẽ là khoảng một triệu rưỡi đến hai triệu với các hãng sản xuất có thương
hiệu từ Trung Quốc. Mặc dù với giá thành rẻ hơn nhưng các hãng sản xuất khác
vẫn không thể chiếm được thị phần cũng như ưu thế bán hàng so với các hãng
sản xuất có thương hiệu từ Nhật Bản. Mảng thị trường TV cao cấp vẫn luôn
thuộc về các hãng nổi tiếng của Nhật Bản như Sony, Panasonic, Toshiba, JVC
Với các TV cao cấp này, người tiêu dùng chủ yếu quan tâm đến những vấn
đề như:
- Chất lượng hình phải rất đẹp; độ phân giải cao, màu sắc rất trong và tươi,
tuyệt đối không có nhiễu.
- Chất lượng xử lý âm thanh rất trung thực với nhiề
u hiệu ứng đa dạng khác
nhau; có thể nhận vào và xử lý ra âm thanh tương đương chuẩn Dolby 5.1
hoặc tối thiểu cũng tương đương chuẩn 2.1.
- Kiểu dáng TV đẹp, kết cấu vững chắc.
các hãng sản xuất có thương hiệu từ Hàn Quốc. Mảng thị trường TV chất lượng
trung bình đang là mảng thị trường đấu tranh quyết liệt giữa các hãng sản xuất
mang thương hiệu Hàn Quốc và các hãng sản xuất trong nước.
Với TV có tính năng tối thiểu, nhu cầu sử dụng chủ yếu chỉ tập trung ở các
vùng nông thôn và miền núi. Kích cỡ màn hình thường từ 21” trở xuống. Tùy
theo tính năng và chất lượng TV mà giá thành của loại TV này nằm trong
khoảng từ 2.3 triệu trở lên với TV 21” (với các TV có thương hiệu xuất xứ từ
Hàn Quốc); trong khoảng từ 2.0 triệu với TV 21” (với các TV có thương hiệu
xuất xứ từ Trung Quốc); TV mang thương hiệu của các nhà sản xuất trong nước
như Hanel, VTB, Nikko có giá bán nằm trong khoảng đắt hơn TV mang
thương hiệu Trung Quốc và rẻ hơn các TV mang thương hiệu Hàn Quố
c. Do có
mạng lưới dịch vụ bảo hành rộng khắp (kể cả những vùng hẻo lánh) cũng như
chất lượng phục vụ khách hàng khá tốt nên các hãng sản xuất trong nước hoàn
toàn có khả năng cạnh tranh được với các hãng sản xuất có thương hiệu Hàn
Quốc và Trung Quốc. Tuy nhiên, hiện nay các hãng sản xuất mang thương hiệu
Hàn Quốc và Trung Quốc cũng đã bắt đầu tiến hành thâm nhập thị trường vào
nh
ững vùng nông thôn và miền núi. Điều này sẽ làm cho thị trường TV của các
hãng sản xuất trong nước sẽ ngày càng bị thu hẹp và cạnh tranh giữa hàng trong
nước và hàng ngoại nhập ngày càng trở nên quyết liệt.
Với tính năng và chất lượng gần tương đương nhau, TV chất lượng tối
thiểu của các hãng sản xuất có thương hiệu từ Hàn Quốc vẫn luôn có mức giá
cao hơn khoảng xấp xỉ hai trăm nghìn VNĐ so v
ới các hãng sản xuất trong
nước. Hiện nay, các hãng sản xuất trong nước đang chiếm ưu thế tại mảng thị
trường TV chất lượng tối thiểu, bán tại các vùng nông thôn, miền núi. Tuy
nhiên, tương lai sắp tới các hãng sản xuất trong nước cũng sẽ phải cạnh tranh
quyết liệt với các hãng sản xuất có thương hiệu Hàn Quốc và Trung Quốc.
2.1.2. Đánh giá công nghệ và lựa chọn giải pháp hoàn thiện sản ph
tiếng: DK, I, BG, M.
- Một số tính năng có thể bổ sung để nâng cao chất lượng như: có loa
Wooofer, công suất âm thanh lớn (khoảng xấp xỉ bằng hoặc lớn hơn 7W
mỗi kênh)
- Tăng tính hấp dẫn của sản phẩm với giao diện hấp dẫn và tăng cường các
tiện tích như: lịch, các trò chơi.
Trên cơ sở phân tích nhược điểm của công nghệ cũ, các yêu cầu của sản
phẩm nhóm thực hiện dự án đã quyết định lựa chọn giải pháp One Chip
TOSHIBA (hay còn g
ọi là giải pháp “2 in 1”) để phát triển sản phẩm vì lý do
sau:
- Giải pháp của TOSHIBA đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về kỹ thuật của
sản phẩm
- TOSHIBA có chính sách hỗ trợ rất tốt cho khách hàng sử dụng giải pháp
của họ như: cung cấp tài liệu kỹ thuật, công cụ phát triển và cử chuyên gia
hỗ trợ khi cần thiết.
- Về căn bản, chi phí phát triển thấp.
- Giả
i pháp của TOSHIBA có mức độ tích hợp cao do đó giảm thiểu được
linh kiện ngoại vi, giảm được mức độ phức tạp của thiết kế cũng như giá
thành của sản phẩm. 17
2.1.2.3. Ứng dụng giải pháp One chip của TOSHIBA:
1. Cấu trúc One Chip TOSHIBA TMPA8821 :
Giải pháp công nghệ 2in1 sử dụng chip TOSHIBA TMPA8821, thực chất
được tạo thành từ 2 IC riêng biệt được kết nối với nhau và đóng gói trong cùng
một CHIP sử dụng công nghệ Multi-Chip Package. Hai IC cơ sở để tạo nên
TMPA8801 là:
- Khối chuyển mạch AV:
+ Cho 1 video và 1 audio
Các đặc tính của khối MCU
MCU trong TMPA8821 có cấu trúc chung như một vi điều khiển, nhưng do
đặc thù được thiết kế riêng cho ứng dụng TV nên nó được bổ xung thêm các tính
năng hỗ trợ cho việc phát triển ứng dụng được thuận tiện dễ dàng hơn.
19
MCU được sử dụng trong thiết kế thuộc họ vi điều khiển TLCS-870/X có cấu
hình chung như sau:
- CPU 8 bit tốc độ cao
- Thời gian thực hiện lênh là 0,4 micro giây (với đồng hồ hệ thống là
8Mhz)
- 2 Kbyte bộ nhớ dữ liệu (RAM)
- 64 Kbyte bộ nhớ chương trình (ROM)
- 842 chỉ lệnh
- Điều khiển ngắt:
+ 17 nguồn ngắt: 6 ngắt ngoài và 11 ngắt trong
+ Toàn bộ
các ngắt đều có chốt độc lập với nhau, và cho phép xử lý ngắt
lồng.
- 2 bộ định thời/bộ đếm 16 bit: TC1, TC2
- 2 bộ định thời/bộ đếm 8 bit: TC3, TC4
- 24 bit cho cổng vào ra trong đó có 12 chân được kết nối bên trong IC với
bộ xử lý tín hiệu TV
- Hỗ trợ các chế độ nghỉ/ngừng để tiết kiệm năng lượng
Ngoài các tính năng chung như một vi đ
c chiều dọc cho ký tự.
512 bước chiều ngang và 512 bước chiều dọc cho vùng nền.
Họ TLCS-870/X còn có tính năng nổi trội là:
Rom correction: cho phép sửa những lỗi sau khi đã nạp chương trình. Như ta
đã biết chương trình cho bộ Vi xử lý làm việc được lưu giữ trong ROM và sau
khi đã nạp chương trình thì nội dung của ROM sẽ không thay đổi được nữa. Do
đó khi thiết kế phần mềm nếu như có lỗi mà không phát hiện ra chúng ta cho
n
ạp chương trình vào Chip hoặc đặt Masking để sản xuất hàng loạt thì lỗi này sẽ
không sửa được cho những IC đã nạp chương trình và phải huỷ bỏ toàn bộ
lượng IC này.
Với chức năng ROM correction cho phép vá những lỗi nhỏ trong ROM
bằng cách tạo ra các đoạn mã thay thế nạp vào EEPROM, trong quá trình khởi
tạo các đoạn mã này sẽ được nạp vào vùng RAM qui định và trong quá trình
hoạt động khi tới đoạn mã lỗi trong ROM ch
ương trình sẽ được nhảy sang đoạn
mã thay thế trong RAM để làm việc sau đó hết đoạn mã trong RAM chương
trình lại quay về vị trí ROM trước khi rẽ nhánh.
Tuy nhiên chức năng này cũng bị giới hạn là MCU chỉ cho phép sửa 4 lỗi.
Với tính năng này chúng ta có thể khắc phục những lỗi nhỏ của phần mềm mà
không phải huỷ bỏ IC đắt tiền.
TA8256BH dùng cho khuếch đại công suất Stereo và thêm một kênh
woofer.
+ TDA 9859 là chíp xử lý âm thanh, đồng thời dùng cho cả việc xử lý âm
thanh Stereo đường AV. Hai cổng logic mở rộng là P1 & P2 dùng cho
việc điều khiển chuyển băng sóng cho hộp kênh.
+ 2SD2499 là transistor dòng; điều khiển hoạt độ
ng của mạch dao động
quét dòng.
+ Các transistor dùng cho mạch khuếch đại video là 2SC2482.
+ IC nguồn STR-F6654 dùng làm IC cho nguồn chuyển mạch kiểu flyback.
+ Các IC ổn áp LM 78T09 và 78T05 hoặc TA7809S và TA7805S dùng làm
nguồn ổn áp cho các đầu ra 5V và 9V một chiều (DC).
+ IC TC4052BP dùng cho chuyển mạch lọc âm thanh (sound-trap
switching), và dùng cho chuyển mạch video ngoài (chuyển mạch đường
AV vào), và dùng cho điều khiển hộp kênh.
2.1.3. Phát triển phần mềm vận hành và điều khiển cho TMP.
2.1.3.1. Lựa chọn ngôn ngữ lập trình
Có thể dùng một trong các ngôn ngữ lậ
p trình sau để lập trình cho Bộ vi điều
khiển họ TLCS-870/X :
- C
- C-like
- Assembly
Mỗi ngôn ngữ đều có những ưu điểm và những hạn chế nhất định, tuỳ vào
ứng dụng cụ thể mà người phát triển có thể sử dụng ngôn ngữ lập trình cho phù
hợp.
Đặc điểm của ngôn ngữ lập trình C:
+ Là ngôn ngữ lập trình bậc cao, không phụ thuộc vào phần cứng, dễ dàng
chuyển đổi mã nguồn để sử dụng với các MCU khác nhau.
+ Tập lệnh Assembly cho mỗi loại MCU là khác nhau nên nếu thay đổi
MCU thì các đoạn mã chương trình
đã viết không thể dùng lại được mà
phải phát triển lại từ đầu.
+ Assembly là ngôn ngữ không có cấu trúc nên việc xây dựng và phát triển
rất lâu, khó kiểm tra và bảo quản mã nguồn.
Đặc điểm phát triển phần mềm ứng dụng cho TMP:
- Tài nguyên của MCU hạn chế do đó khi phát triển cần lưu tâm đến việc
tiết kiệm bộ nhớ.
- MCU điều khiển trực tiếp các IC trong hệ thống nên cần phải có các
phương thức truy xuất phần cứng hữu hiệu.
- Phát triển chương trình nhanh, dễ dàng bảo quản chương trình.
24
Dựa trên sự phân tích các ưu nhược điểm của các ngôn ngữ phát triển phần
mềm cho Bộ vi điều khiển họ TLCS-870/X và đặc điểm của việc phát triển phần
mềm cho ứng dụng TV, thấy ngôn ngữ C-like là phù hợp nhất và chúng tôi đã
lựa chọn ngôn ngữ C-like để phát triển phần mềm cho TMP.
2.1.3.2. Phát triển phần mềm cho TMP dùng ngôn ngữ C-like.
1. Đặc điểm của ngôn ngữ C-like
C-like là m
ột ngôn ngữ có cấu trúc về cú pháp và câu lệnh giống như ngôn
ngữ C ngoài ra nó còn được bổ xung nhiều tính năng giúp cho việc truy xuất tới
phần cứng hiệu quả hơn.
- C-like cho phép quản lý các thanh ghi của MCU như các biến bình thường.
Các biến này được gọi là biến speudo (biến giả định). Các biến speudo đã được
C-like định nghĩa và có tên trùng với tên của thanh ghi do đó người lập trình
không phải khai báo và định nghĩa chúng.
Ví dụ:
+ Biế