Quản lý sinh thái
dưới nước
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
1
MỤC LỤC
Mục lục……………………………………………………………………… 01
Mở đầu……………………………………………………………… 04
I. Biển và đại dương………………………………………………………… 05
1. Giới thiệu chung………………………………………………………… 05
2. Chức năng của biển và đại dương…………………………………….….07
1. Sinh vật biển 07
2. Nguồn lợi hoá chất và khoáng chất chứa trong khối nước và đáy
biển 08
3. Nguồn lợi nhiên liệu hoá thạch, chủ yếu là dầu và khí tự nhiên 08
4. Nguồn năng lượng "sạ
1. Sông cung cấp thủy sản 26
2. Sông cung cấp nước ngọt 27
3. Sông điều hòa khí hậu 28
4. Sông đồng hóa các chất thải của con người 28
5. Sông là đường vận tải quan trọng 28
6. Sông cung cấp sức nước 28
7. Sông chuyên chở phù sa 28
4. Tác động tiêu cực của con ngườ
i lên các dòng sông 29
1. Khai thác quá mức nguồn nước 29
2. Đắp đập, xây hồ làm biến đổi hệ sinh thái sông 29
3. Ô nhiễm các dòng sông 30
4. Khai thác quá mức, tận diệt thủy sản 30
5. Quản lý hệ sinh thái sông 30
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
3
III. Các thủy vực nước tĩnh 32
1. Giới thiệu chung 32
2. Chức năng của hồ ao 32
1. Hồ cung cấp và điều hòa nguồn nước 32
2. Hồ điều hòa vi khí hậu. 32
3. Hồ cung cấp thủy sản 33
4. Hồ là nơi chứa và phân giải chất thải 33
5. Hồ là cảnh quan du lịch 33
3. Tác động tiêu cực của con người đến hồ 33
1. Ô nhiễm hồ ao 33
2. Cạn kiệt hồ ao 34
đất ngập nước. Theo diện tích che phủ, thuỷ quyển chiếm 70,8% hay 361 triệu
km
2
bề mặt trái đất với độ sâu trung bình 3.800m. Thuỷ quyển phân bố không
đều trên bề mặt trái đất, ở nam bán cầu là 80,9%, ở bắc bán cầu là 60,7%.
Về mặt sinh thái, thủy quyển là nơi tồn tại một loạt các hệ sinh thái rất đa
dạng và phong phú. Người ta chia các hệ sinh thái dưới nước thành: hệ sinh thái
nước mặn và hệ sinh thái nước ngọt. Do các đặc trưng riêng của nó, hệ sinh thái
nước ngọt lại được chia thành h
ệ sinh thái nước tĩnh (ao, hồ) và hệ sinh thái
nước chảy (sông, suối).
Các hệ sinh thái dưới nước rất đa dạng, từ các rạn san hô ở biển đến các
hệ sinh thái hồ ao. Cuộc sống xuất phát từ đại dương và nền văn minh nhân loại
cũng xuất phát từ các lưu vực các con sông lớn. Bảo vệ các hệ sinh thái dưới
nước chính là bảo vệ sự sống nhân loại.
Thủy quyể
n đóng vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống trên hành tinh
của chúng ta. Tuy nhiên, các hoạt động của con người đang ngày càng tác động
xấu đến thủy quyển và các hệ sinh thái dưới nước. Chính vì vậy, tìm hiểu các hệ
sinh thái dưới nước, các tác động của con người lên các hệ sinh thái dưới nước,
trên cơ sở đó đề ra các biện pháp quản lý hiệu quả các hệ sinh thái này nhằm
mục đích duy trì chất lượng các thành phần củ
a hệ sinh thái này (duy trì đa dạng
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
5
sinh học, duy trì, cải thiện chất lượng môi trường nước và bảo vệ các chức năng
của các hệ sinh thái nước) là vấn đề quan trọng.
vịnh như vịnh Hạ Long. Có một số biển không có liên hệ với các đại dương gọi
là biển hồ như biển Caspi.
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
6
Người ta chia địa hình đáy biển theo độ sâu trong vùng tiếp giữa biển và
thềm lục địa thành thềm lục địa, đáy biển, vực biển và các dãy núi giữa đại
dương (xem hình 1). Trong đó, đa dạng sinh học biển và đại dương tập trung
chủ yếu ở khoảng 200m đầu tính từ mặt nước biển, tức là trong vùng thềm lục
địa, do đây là nơi ánh sáng còn chiếu tới.
Hình 1: Cấu trúc
địa hình đáy biển
Các đặc trưng vật lý của nước biển bao gồm tỷ trọng, nhiệt độ, sự truyền
bức xạ ánh sáng trong nước biển, mực nước biển.
Nước biển chứa hầu hết các nguyên tố hóa học của vỏ trái đất với nồng độ
khác nhau. Trong đó các muối kiềm và kiềm thổ là lớn nhất.
Mặt biển chịu tác động của các lo
ại sóng, thủy triều và các dòng chảy trên
biển. Người ta phân sóng biển thành các loại: sóng gió, sóng áp, sóng xumani,
sóng tàu, sóng thủy triều. Mực nước biển dao động theo chu kỳ thời gian gọi là
chu kỳ triều do tác động tổng hợp của lực hấp dẫn của mặt trăng và mặt trời.
Khối nước biển chuyển động theo chiều ngang gọi là các dòng chảy.
Những dòng chảy biển (hải lưu) lớn trên thế giới gồm:
Lục địa
Thềm lục địa
200m
với trên 3000 hòn đảo. Biển đang mang lại cho
nước ta nhiều nguồn lợi lớn và có ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ giàu lên từ biển.
Biển Ðông của Việt nam có diện tích 3.447.000 km
2
, với độ sâu trung
bình 1.140m, nơi sâu nhất 5.416m. Vùng có độ sâu trên 2.000m chiếm 1/4 diện
tích thuộc phần phía Ðông của biển. Thềm lục địa có độ sâu < 200m chiếm trên
50% diện tích.
2.Chức năng của biển và đại dương
1. Sinh vật biển
Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng loạt
nhóm động vật, thực vật và vi sinh vật. Hai nhóm đầu có tới 200.000 loài. Hiện
nay người ta ước tính trong số
63 lớp động vật thì có 52 lớp ở đại dương, trong
số 33 lớp thực vật thì biển và đại dương có 10 lớp. Sản lượng sinh học của biển
và đại dương như sau: Thực vật nổi 550 tỷ tấn, thực vật đáy 0,2 tỷ tấn, các loài
động vật tự bơi (mực, cá, thú ) 0,2 tỷ tấn. Năng suất sơ cấp của biển khoảng 50
- 250g/m
2
/năm.
Vùng biển nước ta hiện có chừng 11 ngàn loại sinh vật, trong đó có
khoảng 6 ngàn loài động vật đáy, hơn 2 ngàn loài cá, hơn 6 trăm loài rong, hơn 1
ngàn loại động vật và thực vật phù du, trên 200 loài tôm, 15 loài rắn, 5 loài rùa,
12 loài thú biển và 43 loài chim nước.
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
8
ển nước ta (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh
Hoá, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Khánh Hoà, Vũng Tàu).
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
9
Vật liệu xây dựng ở biển bao gồm cát, cuội, sỏi, đá vôi, vỏ sò ốc, phân bổ
chủ yếu ở các vùng ven biển, ven đảo, đáy các vũng, vịnh và trong trầm tích
thềm lục địa. Trong số đó, vật liệu dồi dào nhất là cát. Cát thường giàu chất
thạch anh, ít tạp chất.
Dầu khí được khai thác chủ yếu là từ các thềm lục địa. Sản lượng dầu khí
khai thác ở vùng biể
n Việt Nam đạt 20 triệu tấn vào năm 2000 và hiện nay mỗi
năm khai thác gần 30 triệu tấn.
4. nguồn năng lượng "sạch" khai thác từ gió, nhiệt độ nước biển, các
dòng hải lưu và thuỷ triều.
Năng lượng sạch từ biển và đại dương hiện đang được khai thác phục vụ
vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều lợi ích khác của con người.
5. Mặ
t biển và vùng thềm lục địa là đường giao thông thuỷ.
Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2004, những con tàu vận tải trên biển đã
chuyên chở vòng quanh thế giới hơn 90% tổng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu,
trị giá khoảng 8.900 tỷ USD. Hàng hóa chủ yếu được vận chuyển trên biển là
dầu khí với những con tầu hàng vạn , chục vạn tấn. Các eo biển quan trọng nhất
trên tuyến đường v
ận tải biển là eo Malacca, kênh đào Panama, kênh đào Suê.
6. Biển là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch, tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí
Du lịch biển đang là ngành du lịch quan trọng, mang lại lợi ích kinh tế lớn
7. Biển điều hoà khí hậu
Biển và đại dươ
ng có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều hòa khí
hậu trên Trái Đất. Hàng năm, đại dương trao đổi với khí quyển một lượng
khoảng 90 tỷ tấn Cacboníc. Cũng từ biển, các cơn bão nhiệt đới được tạo thành.
Các dòng chảy trên biển điều hòa khí hậu ở cấp độ toàn cầu, chúng ảnh hưởng
đến khí hậu Trái đất rõ nét nhất thông qua các hiện tượng El Ninõ và La Nina.
3. Tác động tiêu cực của con ngườ
i lên biển và đại dương
1.Ô nhiễm biển
Một trong những nguyên nhân gây suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ
sinh thái san hô, làm suy giảm các loài sinh vật biển và suy giảm đa dạng sinh
học biển là hiện tượng ô nhiễm môi trường biển. Các nguyên nhân gây ra ô
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
11
nhiễm biển cơ bản đều xuất phát từ các hoạt động của con người như các hoạt
động trên biển, khai thác và thăm dò tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại
dương, việc thải chất độc hại ra biển, vận tải hàng hoá trên biển và ô nhiễm khí
quyển. Các nguồn gây ô nhiễm trên đây đang ngày càng gia tăng và đe doạ chất
lượng môi trường biển. Các nguồn gây ô nhiễm từ lục đị
a theo sông ngòi mang
ra biển nước thải, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học, chất phóng
xạ, Theo tính toán vào cuối những năm 60 của thế kỷ 20 lượng chất thải rắn đổ
ra biển hàng năm ước chừng khoảng 50 triệu tấn gồm đất, cát, rác , phế thải và
chất phóng xạ, một số chất thải lắng tu lại ven biển còn một số còn lại lan
truyền ra khắp các đạ
vật thủy sinh. Số vụ tràn dầu tại Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2000 được
thống kê trong bảng sau:
Bảng 2: Số vụ tràn dầu từ n
ăm 1995 đến năm 2000
Nguồn: VEPA: Vấn đề môi trường cấp bách Việt Nam
Năm Số vụ tràn dầu Lượng dầu (tấn)
1995 2 202
1996 7 68.000
1997 4 2.450
1998 6 12.900
1999 10 7.600
2000 2 45
Tổng 31 91.497
3. Hoạt động khai thác và đánh bắt quá mức hải sản
Nước ta có bờ biển trải dài suốt từ Bắc vào Nam, diện tích biển của nước
ta là rất lớn so với diện tích đất liền nên rất thuận lơi cho việc đánh bắt hải sản
và phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên việc khai thác các nguồn lợi từ biển nếu
không được quy hoạch thì sẽ dẫn đến làm suy giảm nguồn tài nguyên quan tr
ọng
này. Những năm gần đây chúng ta chúng ta đã phát triển nghề cá và nuôi trồng
thuỷ sản một cách ồ ạt dẫn đến việc khai thác một cách thiếu bền vững, làm suy
giảm nguồn tài nguyên quan trọng này, đặc biệt là việc quy hoach nuôi tô cũng
đang là một vấn đề cần được quan tâm đúng mức vì bên cạnh đó có rất nhiều các
vấn đề môi trường xảy ra. Theo các nhà khoa học nguồn lợi thuỷ sả
n phá Tam
Giang đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng. Đó là việc gia tăng khai thác
một cách ồ ạt mà biểu hiện bằng việc gia tăng các loại và số lượng ngư cụ trong
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
khí quyển cách mặt đất 7 đến 10 dặm và kéo dài khoảng 30 dặm. Quá trình tăng
lưu thông không khí và độ ẩm từ các chí tuyến đến tầng bình lưu đang lan rộng,
sau đó lại giảm xuống ở những vĩ độ cao hơn.
Đây là sự lưu thông cơ bản trong
hệ thống khí hậu của chúng ta, gọi là sự lưu thông Brewer-Dobson. Sự nóng lên
của toàn cầu đang thay đổi rõ rệt xu thế lưu thông nhưng cách thức ra sao hiện
vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Trong một nghiên cứu khoa học mới đây,
Rudolf Deckert và Martin Dameris thuộc Viện Vật lí học Khí quyển Đức cho
biết sự lưu thông cơ bản này đang tăng tốc. Điều này không ch
ỉ thay đổi những
phương diện vật chất quan trọng của lưu thông khí quyển mà có thể còn phân
phối lại hoặc thay đổi thành phần hoá học của không khí từ tầng bình lưu đến
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
14
mặt đất.Các nhà khoa học cho biết sự lưu thông Brewer-Dobson sẽ tác động đến
khí hậu tương lai với sự thay đổi không những thành phần hóa học và không khí
của tầng bình lưu mà của cả bề mặt trái đất.
Sự nóng lên của khí hậu Trái đất kéo theo sự gia tăng hiện tượng tan băng
và hiện tượng này khiến mực nước biển dâng cao. Nhìn chung, các nhà khoa học
cho rằng trong thế kỷ XXI, nhiệt độ trái đất sẽ
tăng 2 - 6
o
C và mực nước biển sẽ
dâng cao thêm 50 - 150 cm; như vậy, rất nhiều vùng của nước ta sẽ chìm dưới
mực nước biển. Mực nước biển dâng cao không chỉ khiến nhiều khu vực ven
biển bị chìm trong nước biển, kéo theo sự xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền
mà còn nhấn chìm nhiều rạn san hô. Nhiều loài san hô không thích ứng kịp đã bị
ngoài của lãnh hải. Trong vùng này, nước ven biển có quyền quy đị
nh về các
biện pháp ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm luật lệ.
- Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường
cơ sở. Trong vùng này, các nước có quyền chủ quyền đối với mọi loại tài
nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế nhằm khai thác tài nguyên.
Ngoài ra, cũng có thể kể ra các công ước quốc tế về cấm săn bắt cá voi, về
hàng hải quốc tế…
Ở c
ấp độ quốc gia, Việt Nam cũng đã có các chính sách, các bộ luật, các
quy định về bảo vệ biển như luật biên giới quốc gia, bộ luật hàng hải, luật bảo vệ
nguồn lợi thủy sản, luật bảo vệ môi trường, chiến lược về biển, các quy định ứng
cứu khi xảy ra sự cố tràn dầu
Tuy nhiên, cái khó trong việc triển khai các công ước ở tầm quốc tế
là
tính ràng buộc về pháp lý yếu, dẫn đến kém hiệu quả trong thực tiễn.
Ở cấp độ quốc gia, khó khăn nhất với các nước nghèo như Việt Nam là
khả năng tài chính, kỹ thuật yếu kém, dẫn đến khó khăn trong quản lý vùng biển
đặc quyền kinh tế cũng như lãnh hải của mình.
2. Các công cụ khoa học, kỹ thuật
Biển và đại dương vô cùng rộng lớn và đầy bí ẩn. Con người luôn luôn có
tham vọng và thích thú khám phá biển và đại dương. Các hoạt động thám hiểm
biển và đại dương liên tục được tiến hành, các nghiên cứu khoa học về các lĩnh
vực về biển và đại dương cũng liên tiếp được công bố. Hiểu biết của con người
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
16
về biển và đại dương nâng lên là tiền đề cho các biện pháp bảo vệ hệ sinh thái
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
17
có cả loài trai khổng lồ, nhiều loài Nudibranch và ốc sên vỏ hình nón. 17 loài
rắn biển. Hơn 1500 loài cá, có cả Clownfish, Red Bass, Red-Throat Emperor, và
nhiều loài cá Snapper và cá hồi san hô. 400 loài san hô kể cả san hô cứng và san
hô mềm. Có 15 loài cỏ biển ở gần rạn san hô thu hút các nược và rùa biển. 500
loài tảo đại dương hoặc tảo biển. Loài sứa Irukandji cũng sinh sống ở rạn san hô
này.
Theo báo cáo năm 2002 của Viện tài nguyên thế giới (WRI), 96% rạn san
hô ở VN bị đe doạ bởi các hoạt
động của con người. Những mối đe doạ chính là
đánh bắt huỷ diệt (dùng chất độc, thuốc nổ, xung điện), đánh bắt quá mức, ô
nhiễm từ đất liền Cũng theo WRI, ước tính VN có khoảng 1.122km
2
rạn san
hô và khoảng 300 loài san hô. Tuy nhiên, chỉ 1% rạn san hô có thể được phân
loại là ở trong tình trạng tốt.
Các rạn san hô bị hủy hoại do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân
chủ yếu xuất phát từ con người. Con người khai thác san hô phục vụ nhu cầu
giải trí, san hô chết làm nguyên liệu cho các lò nung vôi, các chất thải hóa học
cũng đe dọa nghiêm trọng các rạn san hô, đánh cá bằng mìn cũng phá hủy các
rạn san hô. Có thể nói, chưa bao giờ các rạn san hô Việt Nam lạ
i bị đe dọa
nghiêm trọng như bây giờ.
Tuy vậy, hiện ở Việt Nam vẫn chưa có các hoạt động thật sự hiệu quả
nhằm quản lý và bảo vệ các rạn san hô. Hoạt động bảo vệ các rạn san hô diễn ra
lẻ tẻ và nói chung ít có hiệu quả.
loài cỏ biển của Việt Nam có xu hướng tăng dần từ Bắc vào Nam, ở vùng biển
phía Bắc có 8 loài và ở phía Nam có 13 loài.
Ở nước ta cỏ biển thường phát triển ở vùng triều ven biển, ven đảo, vùng
cửa sông, rừng ngập mặn, đầm phá, vũng, vịnh. Số liệu thống kê mặc dù chưa
đầy đủ, diện tích phân bố cỏ biển cho đến nay đă biết khoảng trên 10.000ha. Các
loài cỏ biển phát triể
n hầu như quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa xuân, đầu
hè, phát triển kém vào mùa mưa bão. Chúng phân bố từ vùng triều đến độ sâu 3
-15m, thậm chí 28m (đảo Bạch Long Vĩ). Chúng thích nghi với độ muối 0,5-
3,4%, chất đáy là bùn bột nhỏ, bùn cát, cát san hô, cát thô hoặc sỏi.
Theo thống kê chung của cả nước thì hiện nay diện tích các bãi cỏ biển
của Việt Nam bị giảm 40-60%. Nếu như trước 1995 diện tích các băi cỏ biển
Việt Nam là 10.770 ha,
đến năm 2003 chỉ cňn hơn 4000 ha, nghĩa là mất đi
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
19
60%. Diện tích phân bố của các thảm cỏ biển ở Khánh Hòa giảm trên 30% so
với 6 năm trước đây, từ 1235 ha (1997) xuống 795 ha (2002), bình quân cứ một
năm lại mất 80 ha (Nguyễn Hữu Đại & al, 2002). Nhiều băi cỏ biển ở Vịnh Hạ
Long trước năm 1970 phát triển khá tốt với 5 loài cỏ biển, nhưng cho đến nay
diện tích một số băi cỏ đă bị suy giảm hoặc bị
mất hoàn toàn ( Nguyễn Văn
Tiến, Từ Lan Hương,2002, 2003). Trước khi xây cảng phục vụ du lịch ở Gia
Luận (Cát Bà) có 4 loài cỏ biển (Halophila ovalis, H. beccarii, H. decipiens và
Zostera japonica), sau khi xây dựng cảng, cỏ biển đã chết hoàn toàn.
Nguyên nhân gây ra suy thoái, mất cỏ biển có thể nêu tóm tắt như sau:
+ Yếu tố tự nhiên: Bão, lắng đọng trầm tích, tăng độ đục, giảm độ muối,
1. Giới thiệu chung
Sông là dòng nước lưu lượng lớn thường xuyên chảy, có nguồn cung chủ
yếu là từ hồ nước, từ các con suối hay từ các con sông nhỏ hơn nơi có độ cao
hơn. Các dòng sông hầu hết đề
u đổ ra biển, nơi tiếp giáp với biển được gọi là
cửa sông.
Thông thường, sông được chia làm 2 loại là sông chính và sông nhánh
(hay nhánh sông). Sông chính là sông có độ dài lớn nhất hoặc có diện tích lưu
vực hay lượng nước lớn nhất; sông nhánh là sông chảy vào sông chính.
Ở mức độ chi tiết hơn người ta còn phân cấp sông: theo Horton, các sông
ở đầu nguồn được đánh số 1. Hai sông cấp 1 nhập lại tạo thành một dòng sông
cấp 2. Một sông cấp 1 hợp với sông c
ấp 2 thì chỉ tạo thành sông cấp 2; nhưng
hai sông cấp 2 nhập lại thành một sông cấp ba. Nghĩa là, hai sông phải có cùng
cấp thì hợp lại được thành sông có cấp cao hơn một đơn vị. Cứ như vậy đánh số
cho đến cửa sông.
Đặc điểm quan trọng của sông là chế độ nước chảy, chế độ nhiệt và nồng
độ muối khoáng hoà tan.
Sông là loại hình nước chảy tiêu biểu nên hàm lượng oxy hoà tan trong
nước sông thường cao, ở những đoạn chảy siết, hàm lượng oxy hoà tan có thể
lên đến bão hoà, DO phụ thuộc vào nhiệt độ, cường độ quang hợp, hô hấp của
các sinh vật.
COD của nước sông thường rất thấp, chỉ dao động trong khoảng 2-5 mg/l.
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
21
pH phụ thuộc nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, địa hình, tác động của
con người. Nhìn chung pH tương đối ổn định, dao động trong khoảng 6-8.
vực.
Hàm lượng SiO
3
2-
dao động trong khoảng 2 - 10 mg/l. Hàm lượng muối
sắt hoà tan trong nước sông thường rất thấp vì hàm lượng oxy hoà tan cao, các
muối hoà tan của sắt dễ dàng bị oxy hoá thành dạng keo Fe(OH)
3
không hoà tan.
Tuy nhiên, hàm lượng sắt tổng sẽ cao đối với những vùng chịu ảnh hưởng của
đất phèn ( vùng đồng bằng sông Cửu Long).
Thành phần trung bình của các ion khác trong nước sông được trình bày
trong bảng sau:
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
22
Bảng 3: Thành phần trung bình của các ion chính trong nước sông ở
các lục địa khác nhau:
Lục địa
Hàm lượng ion ( mg/L)
Na
+
Ca
2+
Mg
2+
K
+
Bắt nguồn từ Burundi, một phần sông Nile chảy vào hồ Victoria - hồ nước ngọt
lớn nhất châu Phi và thứ nhì thế giới.
Sông Nile chính là yếu tố quan trọng được xây dựng ngay giữa lòng sa
mạc Sahara - một trong những nơi khắc nghiệt nhất trên trái đất - một nền văn
NTTULIB
Quản lý hệ sinh thái dưới nước
23
minh cổ xưa nhất: Ai Cập. Những người dân Ai Cập đã xây dựng một đất nước
phát triển ngay bên bờ sông Nile từ cách đây 10.000 năm.
Diện tích lãnh thổ Việt Nam ( bao gồm cả các đảo ven bờ và ngoài khơi)
khoảng 330.000 km
2
. Mật độ sông suối trung bình của cả nước là 0,6 km/km
2
,
và đối với ¾ lãnh thổ VN là 1,0 - 1,5 km/km
2
.
Việt Nam có 2.345 con sông với chiều dài hơn 10 km mỗi sông. Do địa
hình núi cao và chiều ngang tương đối hẹp nên phần lớn sông VN là nhỏ và
trung bình. 90% các sông có lưu vực nhỏ hơn 500 km
2
. Các hệ thống sông lớn
nhất như sông Hồng, sông Cửu long, sông Cả và sông Đồng Nai có lưu vực lớn
lan rộng cả sang các nước xung quanh.
Hướng chính của sông Việt Nam là Tây Bắc – Đông Nam rồi đổ ra Việt
Nam trừ hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang ở Đông Bắc Việt Nam là thượng
nguồn của các sông chảy vào từ Trung Quốc.
(%)
Lưu
lượng
TB
(m
3
/s)
Lượng
nước
TB năm
(km
3
)
HT sông Kỳ
Cùng - Bằng
Giang
6.030
3.580
3.070
15.520 288
160
175
385
190
186
207 16.0
9,4
16,5
43,7
32,8
38,6
318
4,7
1,76
1,8
38
HT sông Hồng
26,4
56,4
32,2
85
HT sông Mã
1.Mã
2.Chu
28.370
7.552
512
325
762
790
17,6
18,3
525
148
16,60
4,72
HT sông Cả
1.Ngàn Sâu
2.Hiếu
3.Cả
2.La Ngà 29.520
4.000 586
272
470
4,6 693
83 29,7
5,3