nghiên cứu - trao đổi
12 - tạp chí luật học
PTS. Trần Minh Hơng *
ảo vệ bí mật nhà nớc và bảo đảm
quyền đợc thông tin của công dân là
2 nhiệm vụ quan trọng đặt ra trớc
bộ máy nhà nớc. Hai nhiệm vụ này liên
quan chặt chẽ với nhau. Việc thực hiện
đúng đắn nhiệm vụ này là điều kiện thuận
lợi để hoàn thành nhiệm vụ kia. Nhng
trên thực tế đôi khi dờng nh có mâu
thuẫn trong quá trình thực hiện chúng.
Chẳng hạn, chú trọng thái quá đến bảo vệ
bí mật nhà nớc sẽ dẫn đến hạn chế
quyền đợc thông tin của công dân và
ngợc lại, cung cấp thông tin một cách
tùy tiện có thể dẫn đến tiết lộ bí mật nhà
nớc. Tìm đợc sự kết hợp hài hòa và hợp
lí trong việc thực thi hai nhiệm vụ này là
rất khó, đòi hỏi những ngời có trách
nhiệm phải nắm vững các quy định pháp
luật về bảo vệ bí mật nhà nớc và bảo
đảm quyền đợc thông tin của công dân,
hành động trong phạm vi thẩm quyền và
với mục đích mà pháp luật quy định, nắm
vững thực trạng của công tác và d luận
nguy hại phải hiện diện.
Bảo vệ bí mật nhà nớc không chỉ là
nhiệm vụ quan trọng của Nhà nớc mà
còn là nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức
và công dân. Trong phạm vi bài này
chúng tôi chỉ đề cập khía cạnh thứ nhất
tức là bảo vệ bí mật nhà nớc với ý nghĩa
là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nớc.
Công tác bảo vệ bí mật nhà nớc do
Chính phủ thống nhất quản lí bằng cách
chỉ đạo việc lập danh mục các bí mật nhà
nớc, thay đổi độ mật và giải mật đối với
B
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nớc
Trờng Đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học - 13
bí mật nhà nớc thuộc độ tuyệt mật và tối
mật; phê duyệt danh mục bí mật nhà nớc
thuộc độ mật, quy định quy chế bảo vệ bí
mật nhà nớc
Căn cứ vào tính chất quan trọng, các
tin tức thuộc phạm vi bí mật nhà nớc
đợc chia làm 3 mức độ: Tuyệt mật, tối
mật và mật.
Những tin tức thuộc độ tuyệt mật là
chức quốc tế chuyển giao cho Việt Nam
mà bên giao yêu cầu hoặc Chính phủ xác
định thuộc độ tối mật; 2. Tổ chức, trang
bị, phơng án tác chiến của các đơn vị vũ
trang; phơng án vận chuyển và cất giữ
vũ khí; công trình quan trọng phòng thủ
biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo; 3.
Tài liệu về đờng biên giới cha công bố.
Bản đồ quân sự; tọa độ điểm hạng I, hạng
II nhà nớc của mạng lới quốc gia hoàn
chỉnh cùng với các ghi chú điểm kèm
theo. Vị trí và trị số cao độ các mốc chính
của các trạm khí tợng, thủy văn, hải văn;
số liệu, độ cao số không tuyệt đối của các
mốc hải văn; 4. Số liệu tuyệt đối về thu
chi ngân sách nhà nớc cha công bố. Số
liệu tiền, phát hành, tiền dự trữ bằng đồng
Việt Nam và ngoại tệ; các số liệu về bội
chi, lạm phát tiền mặt cha công bố,
phơng án giá nhà nớc cha công bố; 5.
Nơi lu giữ và số lợng kim loại quý
hiếm, đá quý, ngoại hối và vật quý hiếm
khác của Nhà nớc. Địa điểm, trữ lợng
của các mỏ kim loại, phi kim loại quý
hiếm, chất phóng xạ cha công bố; 6.
Phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, bí
quyết nghề nghiệp đặc biệt quan trọng
đối với quốc phòng, an ninh quốc gia,
kinh tế, khoa học, công nghệ cha công
bố; 7. Kế hoạch xuất, nhập khẩu các mặt
điểm, phơng tiện, vật thuộc phạm vi bí
mật nhà nớc phải đợc đánh số, đặt bí số
hoặc kí hiệu mật và phải đợc quản lí,
bảo vệ theo quy chế bảo vệ bí mật nhà
nớc.
Việc cung cấp thông tin có liên quan
đến bí mật nhà nớc cho nớc ngoài và tổ
chức quốc tế chỉ có thể tiến hành trên cơ
sở bảo đảm lợi ích đất nớc và sau khi
đợc các cấp có thẩm quyền xét duyệt.
Thông tin liên quan đến bí mật nhà nớc
thuộc độ tuyệt mật do Thủ tớng Chính
phủ duyệt; thông tin thuộc độ tối mật do
bộ trởng Bộ công an duyệt (riêng thông
tin thuộc lĩnh vực quốc phòng phải đợc
bộ trởng Bộ quốc phòng duyệt; thông tin
thuộc độ mật do bộ trởng, thủ trởng cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ơng duyệt. Cơ quan, tổ
chức, công dân chỉ đợc cung cấp đúng
nội dung đ đợc duyệt và phải áp dụng
các biện pháp cần thiết để ràng buộc bên
đợc cung cấp không đợc tiết lộ nội
dung đó.
2. Quyền đợc thông tin là quyền cơ
bản của công dân đợc ghi nhận ở Điều
69 Hiến pháp 1992. Bảo đảm quyền đợc
thông tin của công dân là nhiệm vụ có
tầm quan trọng trong quản lí nhà nớc.
phải đợc cung cấp thông tin về hoạt
động đó một cách thờng xuyên.
Mặt khác, việc cung cấp thông tin đầy
đủ cho công dân còn có tác dụng đảm
bảo sự kiểm tra của công dân đối với hoạt
động của bộ máy nhà nớc. Thông qua nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học - 15
hoạt động kiểm tra, công dân đòi hỏi các
cơ quan nhà nớc sử dụng những quyền
hạn đợc trao vì mục đích công và phải là
chính những mục đích đợc xác định cụ
thể khi trao quyền. Cách tốt nhất để đạt
đợc mục tiêu này là cho phép công dân
tiếp cận với thông tin và không che giấu
việc cơ quan nhà nớc sử dụng những
quyền hạn đợc trao trong những trờng
hợp cụ thể nh thế nào.
Hoạt động bảo đảm quyền đợc thông
tin của công dân thể hiện ở hai nội dung:
Quy định những vấn đề không đợc phép
thông tin rộng ri và quy định nghĩa vụ
cung cấp thông tin cho nhân dân của các
cơ quan nhà nớc.
Nội dung thứ nhất chúng ta đ đề cập
ở phần trên. Sau đây chúng ta sẽ xem xét
nội dung thứ hai - nghĩa vụ cung cấp
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
các cấp thông tin cho nhân dân về các
chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà
nớc (trừ những nội dung thuộc phạm vi
bí mật quốc gia). Đồng thời, các cơ quan
này không đợc tùy tiện sử dụng các loại
dấu mật để hạn chế thông tin.
Các bộ trởng, thủ trởng cơ quan
ngang bộ, thủ trởng cơ quan thuộc
Chính phủ, chủ tịch hội đồng nhân dân và
ủy ban nhân dân các cấp phải tăng cờng
mối quan hệ thờng xuyên với các cơ
quan thông tin đại chúng (kể cả các cơ
quan thông tấn báo chí nớc ngoài đang
hoạt động hợp pháp tại Việt Nam) để
thông tin về các chủ trơng chính sách
của Đảng và Chính phủ liên quan đến
ngành mình, địa phơng mình. Bên cạnh
đó, họ còn có nhiệm vụ tổ chức điểm báo
hàng ngày. Hoạt động này đợc tiến hành
nhằm 2 mục đích: Mục đích thứ nhất là
nắm đợc những thông tin mà đài, báo
nêu liên quan đến ngành mình, địa
phơng mình để kịp thời có biện pháp
khắc phục sai sót trong hoạt động và trả
lời công khai về việc xử lí những cán bộ
có lỗi gây ra những sai sót đó; mục đích
thứ hai là đấu tranh với những tổ chức, cá
nhân lợi dụng quyền tự do báo chí để
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, công dân; đòi hỏi các cơ
quan nhà nớc không đợc tùy tiện sử
dụng các loại dấu mật để hạn chế thông
tin. Quy định pháp luật về vấn đề này có
thể nói là tơng đối đầy đủ, rõ ràng. Hiệu
quả của công tác này phụ thuộc chủ yếu
vào nhân tố chủ quan, tức là phụ thuộc
vào phẩm chất và năng lực của cán bộ
đợc giao nhiệm vụ.
Điều đáng tiếc là trên thực tế, tình
trạng lộ bí mật nhà nớc ở một số cơ
quan, địa phơng còn nghiêm trọng. Bên
cạnh đó, còn có trờng hợp lạm dụng các
quy định về bảo vệ bí mật nhà nớc, hạn
chế việc thông tin cho nhân dân biết về
một số chính sách, quy định của Nhà
nớc không nằm trong phạm vi bảo mật.
Sở dĩ có tồn tại trên là do một số cơ quan,
đơn vị, địa phơng đến nay vẫn cha xác
định đợc danh mục bí mật nhà nớc
thuộc phạm vi cơ quan, địa phơng mình;
có nơi đ xác định xong danh mục bí mật
nhà nớc nhng cha xây dựng quy chế
bảo vệ bí mật, cha có tổ chức và cán bộ
chuyên trách làm công tác bảo mật
(2)
.
Để khắc phục tình trạng đáng tiếc kể
trên có rất nhiều việc phải làm. Các cơ