Pháp luật về bảo đảm quyền được thông tin của công dân và việc xây
dựng Luật Tiếp cận thông tin
Ở nước ta, Điều 69 của Hiến pháp 1992 có quy định về quyền được thông tin của công
dân. Theo quy định trong Công ước về quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc - Việt
Nam đã tham gia Công ước này - quyền được thông tin là quyền con người, là một phần
của quyền tự do ngôn luận. Trên thế giới, nhiều nước đã có luật về quyền được thông tin từ
hàng trăm năm trước1. Việt Nam, do những điều kiện khách quan và chủ quan, gần đây,
chúng ta mới quan tâm đến việc xây dựng đạo luật này. Việc xây dựng Luật Tiếp cận
thông tin là một bước tiến quan trọng để người dân thực hiện quyền hiến định của mình.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, đất nước ta bước vào thời kỳ kháng chiến chống ngoại
xâm. Trong các cuộc kháng chiến, bảo mật thông tin luôn là một trong những yêu cầu quan
trọng. Các phong trào không nói, không biết, không tin trong những giai đoạn kháng chiến
được coi là “kế sách kháng chiến”. Rồi trong thời kỳ nền kinh tế được điều hành theo cơ chế
tập trung, bao cấp, chúng ta cũng chỉ có thông tin từ một phía. Trong các giai đoạn lịch sử ấy,
hầu như chỉ có luồng thông tin tuyên truyền một chiều từ Trung ương, Nhà nước xuống cho
người dân. Người dân luôn là người bị động, chỉ tiếp thu các nguồn thông tin chính thức của
Nhà nước.
Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đã giúp xây dựng một hệ thống pháp luật phù
hợp với bối cảnh mới của nền kinh tế - xã hội đất nước. Trong hệ thống pháp luật ấy, các quy
định về công khai thông tin, về quyền được thông tin của người dân đã được quy định rải rác
trong nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp 1992, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường,
Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Báo chí, Luật Kiểm toán nhà
nước, Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở... Tuy nhiên, phải nhận thấy là, các quy định về nội
dung này còn chung chung, chưa làm rõ trách nhiệm khi quyền tiếp cận thông tin của người
dân không được tôn trọng.
Điểm rất thiếu của các quy định trên là vắng bóng các thủ tục thực hiện các quyền và trách
nhiệm cung cấp thông tin, như hình thức yêu cầu tiếp cận, hình thức cung cấp thông tin và
thời hạn thực hiện chúng… Thiếu các quy định về thủ tục, thì các quy định về nội dung khó có
thể thực thi được trên thực tế. Cũng vì vậy mà việc thực thi quyền tiếp cận thông tin ở Việt
Nam còn nhiều hạn chế.
Quyền tiếp cận thông tin là thứ quyền khá nhạy cảm. Thông tin - về nguyên tắc - là phải có
tính chất “mở”, đầu tiên là Chính phủ phải “mở”, cơ cấu tổ chức phải “mở”, các quyết định
phải “mở” để mọi người đều biết và dễ tiếp cận khi cần thiết. Quyền lực nhà nước ta được tổ
chức theo ba nhánh: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong đó, trong
hành pháp là đang thiếu sự “mở” bởi chúng ta hoạt động vẫn theo cơ chế thủ trưởng, quyết
định được đưa ra không có sự bàn bạc hoặc có bàn bạc đi chăng nữa, thì khi quyết định,
người Thủ trưởng vẫn là người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân.
Trên thế giới, khi nói đến tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý của Nhà nước
thì cũng phải nói đến các bí mật quốc gia. Chúng ta đã có Pháp lệnh về bí mật nhà nước, có
các văn bản dưới luật hướng dẫn rất cụ thể để các cơ quan nhà nước thực hiện sự giữ gìn bí
mật nhà nước. Điều đáng nói ở đây là những nội dung gì được đưa vào danh mục bí mật nhà
nước đều do chính các cơ quan nhà nước đề xuất và thực hiện. Điều này dẫn đến một hệ luỵ
là, các cơ quan nhà nước sẽ không ngần ngại quy định một cách tràn lan những vấn đề cần
phải bảo mật của họ với lập luận “cẩn tắc vô áy náy”. Phải nói một cách công bằng là lập luận
này đã thành một thói quen trong công việc của công chức nhiều cơ quan nhà nước.
Pháp lệnh về bí mật nhà nước chắc chắn gây khó khăn cho việc thực hiện quyền tiếp cận
thông tin của công dân, nhưng nó không thể không có vì những lợi ích lớn hơn. Điều đáng nói
là, dựa vào Pháp lệnh, nhiều người giữ thông tin nhà nước đã tìm cách bưng bít thông tin.
Động cơ của hành vi này rất khác nhau, có người bưng bít để vụ lợi cho chính bản thân và
người thân của mình, có người lại bưng bít để dễ dàng hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ
thuộc chức năng của mình. Có người bưng bít thông tin chỉ vì là thói quen…
Hiện nay, việc bưng bít thông tin diễn ra rõ nhất trên các lĩnh vực đất đai, đền bù giải tỏa,
các dự án ưu đãi, các bản quy hoạch… Lòng dân không an vì tệ tham nhũng, vì không có
thông tin hay cơ hội phát biểu chính kiến về các vấn đề họ đang gặp phải. Khiếu nại, tố cáo
không ngừng nghỉ, nhiều nhất là các khiếu nại về đất đai. Mà nguyên nhân chủ yếu của các
vụ khiếu nại đất đai là do chính quyền không thông tin đầy đủ đến người dân. Bưng bít thông
tin như thế gây nên tình trạng bất bình đẳng về thông tin và có thể sẽ dẫn đến tình trạng bất
bình đẳng về tài sản. Ví dụ, quy hoạch đất đai không công khai, minh bạch nên nhiều đối
tượng sẽ trục lợi từ việc này, còn người thiếu thông tin sẽ bị thiệt hại.
Từ thực trạng pháp luật như vậy, nên việc xây dựng Luật Tiếp cận thông tin là một yêu cầu
bạch, công khai trong hoạt động quản lý nhà nước và thiếu cơ chế tiếp cận thông tin là
mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, lạm quyền. Trong Luật Tiếp cận thông tin, quyền
được thông tin của công dân phải được quy định cụ thể thành trình tự, thủ tục bảo
đảm quyền được biết, quyền được nhận, quyền được tiếp cận và quyền được phổ
biến, được chia sẻ thông tin một cách tự do. Như vậy, xây dựng Luật Tiếp cận thông
tin là một bước hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật, nhằm bảo đảm thực hiện các
quyền công dân một cách tốt hơn.
(1) Thụy Điển đã có luật về quyền được thông tin cách đây 300 năm.