Giá trị hiện thực và nhân đạo trong thơ Đỗ Phủ
Có những tác phẩm văn học đọc xong gấp sách lại là ta quên ngay ,cho đến lúc
cầm lại ta mới chợt nhớ là mình đã đọc rồi.Nhưng cũng có những bài văn,bài thơ như
những dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng khắc chạm trong tâm
khảm không thể nào quên .Thơ Đường là một trường hợp như thế !
Thơ Đường,nhất là vào thời Trung-Vãn Đường đã cống hiến biết bao tên tuổi
những nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ,Bạch Cư Dị,Vương Duy Trong đó Lý
Bạch và Đỗ Phủ là hai ngôi sao sáng của thơ Đường lúc ấy .Mỗi người một vẻ không
ai giống ai nhưng cũng thể nào tách rời nhau ,tên hai nhà thơ đã gắn chặt vào nhau,
làm cho khi nhắc đến người này không thể không nhắc đền người kia.Thật vậy,thơ ca
của cả hai thi nhân gộp lại mới nói lên được đầy đủ tâm hồn người Trung Quốc thời
ấy.Người ta thường nói văn chương Lý -Đỗ người đời khó sánh kịp,nhưng hai nhà thơ
ấy lại tiêu biểu cho hai đỉnh cao của thơ ca cổ điển Trung Quốc .Nếu như Lý Bạch
thiên về những vần thơ bay bổng lãng mạn với những cảnh sắc lung linh mờ ảo thì Đỗ
Phủ lại mang duyên nợ với những dòng thơ hiện thực gắn liền với cuộc sống đời
thường với những con người ở tầng lớp dưới của xã hội .Cũng chính vì vậy mà tiếng
thơ của ông mang một nỗi buồn ai oán, day dứt triền miên về những cảnh đời đau khổ
,bất hạnh,những bất công ngang trái trong xã hội mà chính ông cũng đã từng nếm trải
trong suốt cuộc đời mình.
Cuộc đời đau khổ và ý thức trách nhiệm với Tổ Quốc với nhân dân đã khiến
Đỗ Phủ trở thành người thư kí trung thành và lương tâm của thời đại .Thơ Đỗ Phủ đã
phản ánh một cách toàn diện ,trung thực và sâu sắc nỗi đau khổ của người "dân đen",
những tai hoạ khủng khiếp mà đất nước mà đất nước và nhân dân phải chịu đựng
trong chiến tranh loạn lạc .Thơ Đỗ Phủ là là bức tranh hiện thực là "lịch sử bằng
thơ"được tạo nên bởi một trái tim chan chứa tình cảm nhân đạo cao cả.
Càng đọc thơ Đỗ Phủ chúng ta mới càng thấy hết được cuộc sống cơ cực và
khổ sở của nhân dân Trung Quốc thời ấy, lại càng thấu hiểu hơn về cuộc đời bất hạnh
thơ muốn "nghiêng Đông Hải rửa càn khôn "với tâm niệm "giúp vua vượt Nghiêu
Thuấn".
Nhưng hoài bão đẹp đẽ lớn lao và nhiệt tình chính trị nồng cháy kia có bao giờ
được trở thành hiện thực .Chế độ xã hội phong kiến đen tối và tàn bạo vốn thù ghét tài
hoa ,chôn vùi người chính trực .Vì thế mà một nhà thơ thiên tài như Đỗ Phủ phải long
đong khốn đốn và cuộc đời nhà thơ rút lại chỉ còn là một nỗi lo xé ruột , một nỗi đau
thắt lòng .
1)Cuộc đời bất hạnh của một nhà thơ nghèo
Cùng sống trong một thời đại với Vương Duy,Lý Bạch,Cao Thích ,Sầm
Tham.,nhưng Đỗ Phủ phải nếm trải nhiều nỗi gian truân của cuộc sống hơn ai hết. Đời
ông từ 30 tuổi trở đi có thể nói là một tấn bi kịch kéo dài .Mười năm chờ đợi ở Trường
An (746-755) là mười năm ông sống đời kẻ hành khất ,rày đây mai đó ,nhờ vả vào
một số nhà quyền quý :
"Sáng gõ cửa nhà giàu
Chiều theo sau đuôi ngựa
Xơi rượu thừa thịt nguội
Khắp nơi ngậm ngùi đau"
(Kính tặng quan tá thừa họ Vi )
Cảnh sống cơ cực đó đối với nhà thơ là một sự sỉ nhục,thế nhưng ông vẫn cắn
răng chịu đựng để vựơt qua những tháng ngày nhục nhã này .Có năm trời làm đói rét ,
ông phải ngày ngày đến đong gạo chính quyền xuất kho bán rẻ cho người nghèo để
sống qua ngày .
Trong khoảng thời gian đó , Đỗ Phủ còn sống cuộc sống một nhà văn nghiệp
dư, ông sống bằng cách viết thơ ,phú tặng một quan lại giàu có,một vương công để
kiếm tiền ,bài thơ "Cùng các aông tử chơi mát ở hồ Trượng Bát " đã nói lên điều đó :
"Các công tử dùng băng làm nước
Các giai nhân lau chuốt ngó sen
Mây trời bỗng bắt đầu đen
Đúng là mưa giục phải đền bằng thơ"
Thế nhưng Đỗ Phủ là người có nhân cách nên ít khi ông làm thơ ca ngợi chính
mắt.Trong bài"Thư gởi các vị ở hai huyện Hàm, Hoa" nhà thơ đã nói lên thực trạng
đau đớn của mình :
"Nằm bẹp đói meo đã tuần nay
Aó rách đâu chỉ vá trăm tấm?
Nhà trống trời chiều bạn biết không?
Nghẹn ngào nước mắt máu ròng ròng! "
Tháng 10 năm 755 ,khi trở lại Trường An . Đỗ Phủ được bổ đi Hà Tây làm
huyện uý _một chức quan "thu thuế -quất dân" ,là một người sống vì dân ,sống cho
dân đen Đỗ Phủ từ chối chứ không làm những điều trái ý mình _phản bội nhân dân
.Sau đó ông nhân được một chức qun khác là "giữ kho vũ khí".Vì cùng đường lạc lối
và muốn mưu sinh cuộc sống cho vợ con , ông đành chấp nhận .
Sau khi làm quan ông đùa tặng mình một bài thơ :
"Không làm huyện uý Hà Tây
Gãy lưng đày đọa thân này làm chi ?
Gìa này ngán chuyện xun xoe
Làm chức suất phủ thoả bề tiêu dao"
Nhưng lúc ông được làm quan cũng là lúc An Lộc Sơn bắt đầu nổi loạn .Vừa
nghèo đói ,vừa phải chạy loạn ,cho nên cha làm quan mà con vẫn phải chết đói ,vợ ăn
mặc rách rưới . Đặc biệt là sau khi ông từ chức ,cuộc sống lưu vong đưa lại cho nhà
thơ tất cả những khổ cực mà một con người phải chịu đựng .Nhà thơ đã phải hái củi
,lặt quả lật quả đào của hoàng độc để ăn cho đỡ đói .Tình cảnh thật thảm hại:
"Có người khách tự là Tử Mỹ
Đầu bạc phơ ,tóc đã quá tai
Theo người nuôi khi năm rồi
Tìm tòi hạt dẻ vào nơi hoang cùng "
(7 bài thơ làm ở huyện Đồng Cốc )
Trời rét, tuyết đổ xuống,hoàng độ không mọc được bộ áo cộc không đủ ấm ,
ông đành vát mai về không.Cả nhà đói nằm rên rỉ ,bốn bề lặng ngắt ,chỉ nghe trong
lòng nhà thơ một nỗi đau khôn tả:
"Cuốc dài ơi,cán ngươi gỗ trắng
"Trăm năm quá nửa qua rồi
Thu sang, đói rét cuộc đời đắng cay
Ở Bành Châu bạn có hay
Bao giờ bạn cứu nạn này giúp ta "
(Nhờ ông năm Thôi làm thị ngự gửi cho ông Cao ở Bành Châu)
Thế nhưng cuộc sống trên đất Thục này cũng chẳng mấy yên ổn . Đỗ Phủ lại
phải bỏ căn nhà tranh ở Thành Đô ,lánh nạn khắp nơi trên đất Tứ Xuyên ,sống một
cuộc sống nhờ vả và làm thơ để kiếm ăn như lúc ở Trường An .Một thời gian sau nhà
thơ lại rời Tứ Xuyên với ý định trở về quê nhà ,nhưng rồi nơi đâu cũng có loạn lạc
chiến tranh ,những bất công của xã hội lúc nào cũng vây bủa ,nhà thơ cùng gia đình
vẫn phải lênh đênh quanh quẩn mãi ở vùng Gia Lăng _dọc sông Tương Giang để sinh
sống :
"Quê hương gò đống ,cỏ tràn
Xóm giềng giờ đã lìa tan cả rồi!
Đường quay về giờ thôi mù mịt ,
Bờ Tương Giang chỉ biết khóc tràn "
(Ngựa trắng)
Cảnh đời cơ cực khiến Đỗ Phủ ngày càng tàn phế ,thân mang nhiều tật bệnh;
"Đài cao trăm bệnh chiếc thân mòn
Gian nan khổ hận đầu thêm bạc"
(Đăng cao)
Vào lúc cuối đời nhà thơ đã sống trong cảnh cô đơn ,già yếu, ốm đau bệnh tật
luôn hoành hành :
"Gãi đầu tóc bạc thêm cùn
Búi lên sổ xuống ,trâm luồn lại rơi"
(Xuân vọng)
Một mái tóc lơ thơ cho thấy một con người tiều tuỵ ,mỏi mòn trong nỗi trông
dợi lo âu , đau đớn .Nỗi đau trầm uất nơi trái tim hiện ra nơi mái đầu bạc ,búi tóc tong
teo vì nỗi đau lòng khôn xiết của nhà thơ .
Khổ đau, đói rét trong cuộc đời Đỗ Phủ là một chuỗi dài vô tận .Ngay cả khi
Từ chối lòng cố giữ chữ liêm "
Nỗi đau,niềm uất hận dường như đã nén lại để rồi nước mắt vỡ oà trong những
dòng thơ cuối cùng của nhà thơ bất hạnh :
"Việc nhà bộc lộ tâm can
Viết chưa xong ,lệ chảy tràn như mưa"
Đó là nước mắt của nhà thơ khóc cho chính mình hay cũng là nước mắt của
biết bao thế hệ độc giả khóc thương cho một nhà thơ thiên tài bạc mệnh . Và một thời
gian sau Đỗ Phủ đã trút hơi thở cuối cùng trên con thuyền rách nát lênh đênh giữa
dòng sông Tương Giang trong cảnh gió mưa não nề kết thúc tấn bi kịch nao lòng cảu
đời ông.
Qủa thật , đời Đỗ Phủ không được mấy ngày vui .Các nhà thơ Đường không ai
nghèo khổ lao đao như thế và phải chịu ảnh hưởng của chiến tranh loạn lạc nhiều như
thế
2)Tinh thần phản kháng cường quyền sâu sắc :
Cuộc đời Đỗ Phủ đã quyết định tư tưởng và lòng nhân đạo của ông .Từ nỗi đau
của bản thân , Đỗ Phủ thấy rõ hơn nỗi đau của nhân dân và từ đó ông càng thấy rõ hơn
sự hủ bại tàn bạo của giai cấp thống trị .Thơ ông vì thế nói khá nhiều đến nỗi khổ
khôn nguôi của bản thân và lúc nào cũng liên hệ với nỗi khổ quằn quại của quần
chúng nhân dân . Ông không chỉ than thở cho riêng mình mà than thở chung cho tất cả
những người lao động nghèo nàn với một tình cảm chân thành hiếm có .Cho nên ông
buồn rầu mà không bi lụy .Thơ ông luôn chói ngời chủ nghĩa hiện thực ,tinh thần nhân
đạo và trở nên gần gũi với nhân dân .Thân đói rét mà muốn cứu nhân độ thế ,sống
trong cảnh túng quẫn mà không có ý chán đời . Đỗ Phủ thật khác với Bạch Cư Dị và
hầu hết các nhà thơ cổ điển Trung Quốc .
Đỗ Phủ không phải chỉ thương người , ông còn tố cáo xã hội,phơi bày những
mâu thuẫn bất công của xã hội lúc bấy giờ .Nhiều câu thơ của ông như mũi dao nhọn
chích sâu vào cái xã hội đương thời đầy ung nhọt :
"Cửa son rượu thịt ôi
Ngòai đường xương chết buốt …"
"Quan lớn trong triều ngáy rượu thịt
"Giúp vua vượt Nghiêu Thuấn
Xây dựng phong tục thuần !"
(Kính tặng quan Tả thừa tướng họ Vi )
Đó cũng là một việc dĩ nhiên đối với một nhà thơ yêu nước sống dưới chế độ
phong kiến ,khi địa vị của vua chúa chưa bị lung lay và nhân dân chưa có ý thức cách
mạng dân chủ .Trong xã hội đời Đường lúc bấy giờ ,khái niệm trung quân và ái quốc
đi đôi với nhau là một chân lý dường như thiên kinh địa nghĩa .Thế nhưng Đỗ Phủ
trung quân mà không bao giờ thoả hiệp với sai lầm và tội ác của nhà vua . Đỗ Phủ
trung quân có điều kiện .
Trong con mắt của Đỗ Phủ ,vua không phải là thần thánh ,vua cũng là người và
có lúc là con người tồi tệ nhất trong thiên hạ.Trong tác phẩm của mình, Đỗ Phủ cho ta
thấy hình tượng của vua trong các môi trường ,khi trên ngai vàng ,luc bên trướng gấm
,khi ở lầu son ,lúc lại trên đường bôn tẩu .Nhưng phần nhiều là để trêu đùa hoặc phê
phán .
Đỗ Phủ là nhà thơ ưu thời mẫn thế ,có hoài bão lớn lao ,muốn "Giúp vua vượt
Nghiêu Thuấn "muốn cho đất nước có thuần phong mỹ tục ,mọi người được ấm no,
thiên hạ không có cảnh giàu -nghèo chênh lệch nhau:
"Không sang hèn không buồn
Không giàu nghèo càng tốt"
(Thuật nỗi lòng)
Tuy nhiên Đỗ Phủ không thể làm ngơ trước những hành động trái luân thường
đạo lý ,trước cảnh áp bức bất công hay hành vi bạo ngược của con người quyền thế .
Đó là động cơ làm cho ngòi bút hiện thực của Đỗ Phủ trở nên tinh vi và sắc bén đến
chỗ bóc trần không nhân nhượng .
Nếu với chiến tranh bảo vệ đất nước ông đồng tình thì đối với chiến tranh xâm
lược và chiến tranh quân phiệt , ông cực lực phản đối . Ông căm thù bọn quân phiệt ,vì
chính bọn này là kẻ chủ trương chia cắt đất nước và nhiễu hại dân lành :
"Một nước có ba ông
Nhân dân thành tro bụi"
(Thảo đường)
Thơ Đỗ Phủ là tiếng nói chống áp bức ,tiếng nói đấu tranh đòi hoà bình và cơm
áo. Mặc dù giai cấp thống trị cố tâm bưng bít đi nữa ,nó vẫn có ảnh hưởng sâu rộng
trong nhân dân , đúng như lời ông đã nói với bọn bồi bút lúc đó :
"Thân danh bay có ngày tiêu diệt
Mà dòng sông kia chảy miết không ngừng"
(Đùa làm sáu bài tuyệt cú)
Sau ông ,nhà thơ Hàn Dũ cũng có nói :
"Văn chương Lý Đỗ
Như hào quang muôn trượng!
Cớ gì lũ trẻ con
Tìm lời bay phỉ báng!
Kiến đen rung cây to
Nực cười không tự lượng!"
(Nhạc Trương Tịch)
Đỗ Phủ sống một phần quan trọng trong cuộc đời mình trong những năm loạn
ly ,khói lửa trùm núi sông.Những bài thơ lấy chiến tranh làm đề tài chiếm một vị trí
quan trọng trong toàn bộ thơ ông.Cái hiện thực đầy máu tươi và nước mắt ,nỗi thống
khổ chất cao như núi của nhân dân mà nhà thơ miêu tả phần lớn chính là từ cuộc chiến
tranh loạn lạc .Vì chiến tranh ở đây chính là sự bộc lộ cao độ nhất những mâu thuẫn
xã hội đang phát triển .
Đỗ Phủ sớm đã xúc động trước cảnh bọn thống trị tàn bạo bắt lính bắt phu ,thu
tô thuế , đẩy nhân dân vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa.Binh xa hành là bài thơ
điển hình hoá cao độ cuộc đời người lính và tố cáo chiến tranh phi nghĩa một cách
nghiêm khắc . Đỗ Phủ không cầm được nước mắt khi thấy cảnh gia đình binh lính tiễn
đưa chồng con ra đi trong một cảnh tượng hết sức thê thảm :
…"Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn
Bụi mù chẳng thấy cầu Hàm Dương
Níu áo,dậm chân,chặng đường khóc
Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng "…
Những câu thơ tiếp theo là giọng kể đầy xúc động của người lính già ra đi từ
"Giết người là kẻ bất nhân
Nước nào chẳng có riêng phần biên cương
Nếu như quan hệ bình thường
Phải chi lấy chuyện sát thương làm đầu! "
Ông chế giễu bọn bọn tướng tá lập công trên xương máu của nhân dân :người
xưa trọng giữ biên,người nay trọng công to .Bằng ngoài bút hiện thực sâu sắc , Đỗ
Phủ vẽ cảnh trăm phương lắm nạn đó ra thành một bức tranh sinh hoạt tối tăm u ám
của nhân dân rộng lớn và liên tục .Trai tráng đi lính hết rồi , đến cả trai nhỡ ,trẻ con ,
ông già bà cả cũng phải ra đi "Trát phủ đêm qua xuống ,tuyển trai nhỡ tòng
chinh","Binh lửa còn chưa dứt ,con trẻ thảy xông vào”."Con cháu chết trận hết ,há giữ
tròn một thân”."Tuy sức yếu già đây,xin theo về đêm nay" và đã đi là chết :
"Đêm nay xương trắng vào đâu gửi,
Lính tráng ra đi chẳng thấy về”
Cảnh giết chóc lại càng tàn bạo ,tàn bạo đến Trăm vạn hoá thành cá ,tàn bạo
đến "Vừa cười vừa chém giết ,máu chảy ngập đường dài”.Bọn giặc chém giết hiếp
tróc nhân dân đã đành ,bọn quan quân cũng độc ác như vậy :
"Nghe nói giết người trên Hán Thuỷ
Đàn bà loạn xị giữa quan quân"
Tất cả những cảnh đau khổ về chiến tranh đó đã được biểu hiện trong hàng
nghìn bài thơ xúc động của nhà thơ "dân đen" Đỗ Phủ .Ta thật sự cảm động trước
cảnh biệt ly của đôi vợ chồng trẻ :
"Kết tóc về làm vợ chàng
Ái ân chưa ấm giường màn đã thôi
Tối cưới sớm chàng đi rồi
Vội vàng ly biệt bồi hồi nhớ thương”
(Tân hôn biệt)
Tối về nhà chồng mà sáng ra đã phải biệt ly trong đau đớn nghẹn nào ,tiễn
chồng ra đi chinh chiến mà không biết bao giờ được gặp lại,chỉ biết gởi cho nhau nỗi
thương nhớ khôn nguôi qua ánh mắt bồi hồi .Cảnh tượng xót xa đau đớn ấy đã nói lên
tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà thơ, đồng thời có giá trị tố cáo rất lớn cuộc chiến
"Trắng đêm lo chiến trận
Không sức sửa càn khôn"
Đó là những câu thơ tâm huyết ,thốt lên từ đáy lòng .Trong những ngày hai
kinh thất thủ , Đỗ Phủ đã viết bao bài thơ đau đớn lo âu vì vận mệnh của tổ quốc .
Ông "nuốt tiếng khóc " nhìn kinh đô bị dày xéo . Ông thương xót bốn vạn nghĩa binh
vùi một hố, ông căm giận quân giặc kéo về máu rửa tên,hát bài hát mọi uống giữa chợ
.
Căm thù giặc là vậy ,thế nhưng Đỗ Phủ vẫn không quên cất cao tiếng kêu gọi
hi sinh vì đất nước, ông luôn khuyên bảo mọi người chịu đựng gian khổ để xông ra
bảo vệ Tổ quốc:
"Tiễn đưa đừng khóc lóc
Bộc xạ như cha anh"
"Chớ bận lòng duyên mới
Phải gắn sức việc quân"
Vừa yêu nước vừa thương dân ,vừa ủng hộ chiến tranh yêu nước vừa tố cáo
bọn thống trị chồng chất thêm đau khổ lên đầu nhân dân ,tấm bi kịch đó cứ giằng xé
tâm hồn ông trong những năm chiến tranh loạn lạc cho đến lúc tay đã buông xuôi mà
lòng nhà thơ vẫn chưa hết những lo âu uất hận. 3)Tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà thơ
Đỗ Phủ đã dựng nên một thế giới những con người ,chim muông ,cây cỏ xác xơ
đói khát , đau khổ vô tận ,oán hận mênh mông và ông đã trút lên đó một tình thương
bao la rộng lớn .Lòng thương người thương vật đó là chủ nghĩa nhân đạo cao cả của
Đỗ Phủ _một người cũng từ dưới đáy biển khổ đau của cuộc đời mà trông ra .
Trong phần lớn thơ mình , Đỗ Phủ đã dành những lời tốt đẹp nhất ,chân thành
nhất để nói lên tình cảm của mình đối với nhân dân lao động .Nhà thơ đau đớn khi
nhân dân đói khổ ,lo lắng khi mất mùa đói kém ,mừng rỡ khi trời hạn được mưa .Nói
về những người lao động nghèo khổ tình cảm của ông thiết tha nồng cháy ,thái độ của
ông trân trọng kính yêu . Đây là hình ảnh các cụ phụ lão trong bài thơ Khương thôn:
phận hẩm hiu buồn tủi đó mộ cách dũng cảm ,ngược xuôi lao động trèo non chạy chợ
gân sức mòn:
"Con gái Quỳ Châu tóc đốm sương
Bốn năm mươi tuổi vẫn chưa chồng
Huống gặp loạn ly càng ế ẩm
Một đời ôm hận thở than ròng
…Nếu bảo Vu-Sơn gái xấu xí
Thì sao có được xóm Chiêu Quân?"
Còn người lái đò trong bài Tối năng hành suốt đời lênh đênh trên mặt nước
,khinh thường cái chết ,lách thác qua ghềnh một cách tài tình :
"…Sớm ra Bạch-đế chiều Giang Lăng
Chợp mắt nhìn xem đã cõ chừng
Cù Đường ngất trời,Hổ Tu dữ
Người lái Quỳ Châu ai giỏi bằng .
…Nếu bảo đất này không anh tài
Nhà cửa Khuất Nguyên sao có được ?"
Cả hai bài thơ cùng kết thúc giống nhau bằng một câu hỏi tương tự chính là sự
khẳng định về phẩm chất tốt đẹp của người lao động .
Không những ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người nông dân , Đỗ Phủ còn
đồng cảm với cuộc sống nghèo khổ cơ cực của người lao động , đau chung với nỗi
đau của họ như là nỗi đau của chính mình .
Trong bài thơ Lại ngỏ cùng Ngô lang càng làm nổi bật tấm lòng nhân đạo cao
cả của nhà thơ ,lòng thương xót mến yêu của ông đối với người nghèo khổ . Đỗ Phủ
có cây táo trước vườn ,có một bà già đói khổ thương hay đến chọc táo trộm,nhà thơ
không bao giơ nói gì cả.Sau đó ông chuyển đi nơi khác nhường lại cho Ngô lang ,sợ
Ngô lang không thông cảm với người đàn bà goá , ông đã làm bài thơ gửi lại :
"Mặc người chọc táo nhà ta
Không con không gạo ấy bà xóm bên