Tìm hiểu bệnh uốn ván và vacxin phòng uốn ván - Pdf 12



Tìm hiểu bệnh uốn ván
và vacxin phòng uốn ván

Uốn ván là một bệnh nhiễm trùng
cấp tính có tỷ lệ tử vong cao do
ngoại độc tố của trực khuẩn uốn ván
( Clostridium tetani ) gây ra.
1. BỆNH UỐN VÁN LÀ GÌ ?

Uốn ván là một bệnh nhiễm trùng cấp tính có tỷ lệ tử vong
cao do ngoại độc tố của trực khuẩn uốn ván ( Clostridium
tetani ) gây ra. Trực khuẩn này phát triển tại vết thương trong
điều kiện yếm khí, sau đó giải phóng ngoại độc tố vào máu
và tấn công vào các bản vận động thần kinh – cơ, làm cho
bệnh nhân bị co cứng cơ và trên nền cứng đó xuất hiện các
cơn co giật.
Thời kỳ ủ bệnh khoảng 4 – 21 ngày. Tử vong do suy hô hấp,
rối loạn thần kinh thực vật và ngừng tim.
2. AI CÓ NGUY CƠ MẮC BỆNH UỐN VÁN ?

Trực khuẩn uốn
ván
Không loại trừ bất kỳ người nào dù là trẻ em, người lớn,
người già yếu, nam hay nữ
3. BỆNH UỐN VÁN CÓ THỂ LÂY LAN NHƯ THẾ NÀO
?
Vi khuẩn nhất là bào tử uốn ván có khắp nơi trong đất cát ,
bụi, phân trâu bò ngựa và gia cầm, cống rãnh, dụng cụ phẫu
thuật không tiệt trùng kỹ …, xâm nhập vào các vết thương,

bảo
vệ
UV
1
Càn
g
sớm
càng
tốt
khi

thai
Khôn
g có
tác
dụng
bảo
vệ

UV
2
Ít
nhất
bốn
tuần
sau
UV
1
3
năm

100
một
năm
sau
UV
4
kỳ
sinh
đẻ
%
6.2. Phụ nữ mang thai :
Chỉ cần tiêm hai liều là bảo vệ cho con mình khỏi bị mắc
bệnh uốn ván sơ sinh.
6.3. Những người có nguy cơ mắc cao :
- Người làm vườn
- Người làm việc ở các trang trại, các nông trường chăn
nuôi gia súc và gia cầm
- Người dọn vệ sinh cống rãnh, chuồng trại.
- Công nhân xây dựng các công trình.
- Bộ đội và thanh niên xung phong.
Đối tượng này được tiêm miễn dịch 03 liều trong vòng 6
tháng, bảo vệ được 5 năm.
Cứ sau 5 – 10 năm tiêm nhắc lại 01 liều sẽ bảo vệ phòng
bệnh uốn ván suốt đời.
6.4. Các trường hợp khác :
Người bị vết thương :
- Nếu đã tiêm miễn dịch cơ bản đầy đủ hoặc đã được tiêm
liều nhắc lại trong 5 năm thì không cần tiêm nữa.
- Nếu đã quá 5 năm và nghi ngờ bị uốn ván thì tiêm ngay
0,5ml vacxin.

nhau thành Vacxin DTP.
- Trường hợp trẻ em có tiền sử dị ứng với thành phần Ho
gà trong Vacxin DTP thì mũi tiêm lần 2, 3 và nhắc lại thay
thế bằng vacxin DT.
4. VACXIN BẠCH HẦU - UỐN VÁN GIẢM LIỀU, HẤP
PHỤ ( Viết tắt Td ) :
- Vacxin này phòng bệnh Bạch hầu và Uốn ván cho trẻ
lớn : 6 - 16 tuổi.
- Ưu việt của Vacxin này là đã giảm liều kháng nguyên
nên sử dụng được cho trẻ em lứa tuổi lớn.
5. VACXIN UỐN VÁN HẤP PHỤ ( Viết tắt TT ) :
- Đây là Vacxin đơn giá chỉ phòng duy nhất một bệnh
uốn ván.
- Vacxin này dùng để phòng bệnh Uốn ván cho người
lớn, phụ nữ có thai, phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, người lớn có
nguy cơ cao.
- Ở Việt Nam ( tại Viện Vacxin Nha Trang, 09 Pasteur -
Nha Trang ), đã sản xuất thành công Vacxin Uốn ván từ năm
1990 đến nay và chế tạo thành hai loại:
. Vacxin DTP
. Vacxin TT
cung cấp cho chương trình tiêm chủng mở rộng Quốc gia.
Hiện nay, Viện đang nghiên cứu và tiến tới trình Bộ Y tế cho
ra đời Vacxin Td và Vacxin DT nhằm hy vọng đáp ứng linh
hoạt hơn về nhu cầu sử dụng.
VI KHUẨN UỐN VÁN :
Bệnh uốn ván được mô tả từ rất cổ xưa vào thời
Hyppocrates nhưng mãi đến năm 1884, Carle và Rattonet
mới gây được bệnh uốn ván thực nghiệm bằng cách tiêm dịch
nghiền ở vết thương tấy mủ của người mắc bệnh uốn ván cho

).
KHẢ NĂNG GÂY BỆNH :
Bệnh uốn ván là bệnh nhiễm độc thần kinh trung
ương bởi độc tố của trực khuẩn Clostridium tetani. Trực
khuẩn này thường tồn tại trong đất , cát, bụi bẩn thậm chí
ngay cả trong ruột già của người và động vật. Phạm vi phân
bố đã rộng mặt khác lại là vi khuẩn sinh nha bào nên khả
năng tồn tại trong thiên nhiên rất lâu dài và vi khuẩn xâm
nhập vào cơ thể theo đường vết thương ở chân tay nên tỷ lệ
mắc bệnh và chết do trực khuẩn uốn ván khá cao (12).
Trực khuẩn uốn ván có khả năng gây bệnh cho người
và một số động vật nhỏ như : chuột lang, chuột nhắt, thỏ ,
ngoài ra bò, cừu, chó, mèo cũng có thể bị bệnh uốn ván. Ở
người trực khuẩn uốn ván vào cơ thể qua vết thương nhỏ hay
lớn ( có khi nhỏ quá không chú ý ) ( 2 ), ở trẻ sơ sinh do vết
cắt rốn ( dụng cụ cắt rốn có mang nha bào uốn ván tiệt trùng
không kỹ ) (1).
Một thế kỷ qua kể từ ngày tìm ra trực khuẩn uốn ván
nhưng bệnh uốn ván vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm vì
tỷ lệ tử vong cao, nhất là trẻ sơ sinh. Theo thông báo dịch quí
II năm 1993, trẻ sơ sinh bị bệnh uốn ván là 36,4% còn các
lứa tuổi khác 15,1%.
Khi xâm nhập vào cơ thể chúng sinh ra độc tố mạnh
và độc tố này xâm nhập vào các phần khác trên cơ thể. Khi
xâm nhập vào đường tiêu hóa, trực khuẩn bị phá hủy bởi
acide dạ dày do đó không gây bệnh theo đường tiêu hóa
(18).
TÍNH CHẤT SINH HÓA CỦA ĐỘC TỐ UỐN VÁN :
Tác nhân dẫn đến tử vong chính là độc tố uốn ván.
Độc tố uốn ván là độc tố vi khuẩn thứ hai được phát hiện (

chứa 15,7% Nitơ, 0,062% Phospho, 1,04% Sulfur. Nó không
chứa Carbonhydrat và không chứa Lipide. Điểm pH đẳng
điện của độc tố uốn ván là 5 - 5,2. Độc tố bắt đầu bị kết tủa
trong dung dịch và mất hoạt tính khi pH <6, nhưng nó bền ở
pH = 5 khi có mặt glycine (25).
Thành phần acide amin trong cấu trúc phân tử độc tố
uốn ván với trọng lượng phân tử 150.000 dalton đã được một
số tác giả nghiên cứu ở bảng 1 (16).
Mặc dù vậy, năm 1948, Pillemer và Moore đưa ra
một trọng lượng phân tử của độc tố uốn ván từ 66.000 -
74.000 dalton. Nhưng trong thực tế, có những dạng độc tố
uốn ván có trọng lượng phân tử lớn hơn, trung bình 140.000
dalton (25).
Về cấu trúc phân tử độc tố uốn ván, một số tác giả
đưa ra số nhóm SH tự do, số cầu nối S - S ở bảng 2 (16).
Bảng 1: So sánh thành phần acide amin của độc tố
uốn ván ( Số lượng acide amin trong 1 mol độc tố uốn ván,
trọng lượng phân tử 150.000 dalton ).

A
c
i
d
e

a
m
i
n
D

h
y

e
t

a
l
B
i
z
z
i
n
i

e
t

a
l
H
o
l
m
e
s

a
n

i
c

a
c
i
d
T
1
6
9
6
5
-
1
0
5
-
6
7
-
1
9
2
7
1
8
5
1
0

1
2
6
6
2
1
3
8
9
3
4
3
1
1
9
1
6
1
8
6
1
0
4
4
8
5
h
r
e
o

4
6
9
4
9
2
1
1
0
6
1
0
2
6
2
3
5
3
1
0
6
1
2
3
1
2
6
1
1
1

2
3
2
9
4
8
1
0
4
8
1
9
9
6
1
0
3
6
6
t
a
m
i
c

a
c
i
d
P

1
3
1
5
8
1
0
6
1
4
3
5
1
2
2
8
6
3
9
1
8
0
4
8
9
6
1
1
3
2

i
n
e
M
e
t
h
i
o
n
i
n
e
I
s
o
l
e
u
c
i
n


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status