Cổng làng Hà Nội xưa và nay
Cùng với cây đa, bến nước, sân đình, cổng làng là biểu tượng của rất nhiều làng quê
đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi cổng làng đều có một nét văn hóa riêng tuỳ theo đặc điểm của
làng đó. Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng.
Kiến trúc cổng làng xưa không cầu kỳ, phô trương mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của
mình trong khoảng không gian của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vẻ đẹp của cổng
làng gắn với nền văn minh lúa nước, mang tính phác họa và gợi nên những ước vọng của
cộng đồng từ đời này qua đời khác.
Phía sau mỗi cánh cổng làng Việt ấy, xưa nay vẫn là sự kết nối cộng đồng gia tộc, là
những nét chung về phong tục, tập quán, những nét văn hoá riêng biệt. Cánh cổng làng
dù hiện hữu hay vô hình vẫn là nỗi nhớ là hình ảnh mang tiếng quê hương của những
người con xa xứ. Cổng làng không chỉ tạo nên hồn quê đất Việt mà qua dáng vẻ kiến trúc
còn thể hiện chiều sâu văn hóa mỗi ngôi làng.
Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về văn hoá lịch sử và góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá cổ
truyền của dân tộc, NXB Văn hoá thông tin đã phát hành cuốn sách "Cổng làng Hà Nội
xưa và nay" do tác giả Vũ Kiêm Ninh - Hội văn nghệ dân gian chủ biên. Cuốn sách dày
hơn 300 trang với 109 bức ảnh màu về cổng làng Hà Nội đã đặc tả rõ nét đẹp văn hóa của
chiếc cổng làng và tác giả cũng hy vọng sẽ đánh thức được tinh thần giữ lấy hồn quê của
người Hà Nội hôm nay. Sau phần “Tổng quan về cổng làng Hà Nội”, ở mỗi cổng làng tác
giả đều “mô tả khái quát” về lịch sử và kiến trúc, tên cổng và câu đối đắp tại các cổng
này. 109 ảnh mầu giúp người đọc dễ dàng hình dung dáng vẻ mỗi cổng làng. Cổng Ô
Quan Chưởng ở phường Đông Hà rêu phong cổ kính; cổng phố Hàng Ngang có tên Việt
Đông nằm trên đất phường Diên Hưng, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương với sinh hoạt và
trang phục của người Hà Nội hơn một thế kỷ trước.
Sinh ra và lớn lên ở làng Bưởi, nơi có nhiều chiếc cổng làng to đẹp, ông - Vũ Kiêm
Ninh - đã có một tuổi thơ ngọt ngào với những trò tinh nghịch. Ông theo nghề điện ảnh,
nhưng lại có tình yêu và niềm đam mê đến lạ lùng dành cho những vóc dáng cổng làng.
Và đã hơn 10 năm, ngày nào ông cũng đạp xe đi hơn 50 cây số đến nghiên cứu từng cổng
Thanh Trì (17 cổng), huyện Từ Liêm (18 cổng).
"Cổng làng Hà Nội xưa và nay" không chỉ đơn thuần là một công trình nghiên cứu
văn hoá, lịch sử mà đó còn là một điều gì khắc khoải mang hơi hướng hoài cổ về những
nét văn hoá đang dần mai một.
Hà Nội trở thành Kinh đô nước Việt tới giờ cũng đã gần cả ngàn năm và đã có bao
thế hệ, bao tinh hoa từ mọi miền về đây tụ hội lập thành phường, thành hội. Để rồi từ đó
mà những cái tên phố hàng đã gắn liền với lịch sử của chốn này. Trải qua bao phen binh
đao khói lửa, đã bao lần người Hà Nội phải bỏ lại mảnh sân, góc vườn vì ngoại bang xâm
lấn. Cánh cổng cũ của ngôi làng qua thời loạn lạc có thể không còn vẹn nguyên, nhưng
cây đa, giếng nước sân đình và bóng dáng cánh cổng làng kia vẫn còn in sâu mãi trong
tâm khảm mỗi người. Từ những đống tro tàn đổ nát, mỗi làng, mỗi phường hội lại chung
sức chung vai làm lại từ đầu.
Đứng riêng một góc, xa khuất, tưởng chừng chẳng dính dáng gì đến số phận làng
quê và thân phận mỗi con người, chiếc cổng làng lại chiếm một chỗ sâu kín nhất, lặng
thầm nhất trong đáy sâu tâm hồn. Có làng rồi mới có cổng, nhưng không phải làng nào
cũng có cổng. Có lẽ chiếc cổng làng chỉ hiện hữu và tồn tại trên những vùng đất châu thổ
sông Hồng. Đó là nơi đất lề, quê thói, làng đã đủ tuổi để cất dựng nên một chiếc cổng. Dù
to dù nhỏ, dù xây bằng gạch hay ghép đá, chiếc cổng làng chính là dấu ấn minh chứng
cho một nếp làng bề thế, chỉn chu. Cửa nhà có thể xộc xệch, sơ sài; con người có thể lam
lũ nhếch nhác nhưng cổng làng thì phải đàng hoàng, chững chạc. Đơn giản chỉ là chiếc
cổng xây bằng gạch mộc hoặc đá xẻ cuốn vòm, cổng làng là bộ mặt của làng.
Qua quá trình đi tìm hình ảnh cổng làng cổ xưa, tác giả đã tìm được những văn tự
ghi tại cổng làng. Đây không phải là những câu chữ bình thường, có nơi chỉ đơn thuần là
đề tên cổng làng như An Phú Môn, Trung Nha Môn có nơi thì viết những chữ rút từ
kinh sách, để người đọc phải có trí mới biết như Thiếu cao đại, Nguyên giả trưởng
Hơn 50 năm qua, do nhiều nguyên nhân, một số cổng làng đã bị dỡ bỏ. Gần đây,
trước xu thế đô thị hóa, nhằm giữ nét riêng, một số cổng làng đã được xây mới. Làng Đại
Từ, quận Hoàng Mai xây hai cổng ở phía đông và phía tây của làng. Trên vòm cổng có
đắp nổi bốn chữ “Đại Từ nghĩa dân” do một vị vua triều Nguyễn tặng. Kết hợp vẻ đẹp
xưa vào đời sống sôi động hôm nay, ghi nhớ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm làng
ngày 12-10-1958, cổng có câu đối:
Chính nghĩa tự nghìn xưa với chữ vua ban càng rực sáng,
Đại Từ thời đổi mới theo lời Bác dạy mãi vươn cao.
Một chiếc cổng làng cũ kỹ, tróc sơn, mọt cánh hay chiếc cổng xây bằng gạch rêu
phong là hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ Việt Nam, dù hiện nay xu hướng đô
thị hóa đã len lỏi đến những nơi này. Những chiếc cổng làng có vẻ như không hợp với
những con đường bê tông nay đã được rộng mở nhưng trong tâm thức của người dân,
cổng làng vẫn tồn tại như một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê
truyền thống. Hơn nữa, cổng làng còn là một trong những biểu tượng, bản sắc, là thiết
chế văn hoá của làng quê châu thổ Bắc Bộ. Những lẽ sống của người làng được ghi tạc ở
cổng trải qua thời gian vẫn luôn sáng ngời những giá trị chân, thiện, mỹ, đó chính là một
diện mạo mang bản sắc độc đáo của văn hoá làng. Ghi nhớ lời dạy của cha ông để lại,
nhiều làng đã phấn đấu để xứng với những chữ đã được ghi ở cổng làng.
“Cổng làng Hà Nội xưa và nay” là kết quả sưu tầm điền dã của Vũ Kiêm Ninh trong
một năm, tại khắp các phường xã nội - ngoại thành Hà Nội. Tác giả đã dày công tìm hiểu,
ghi chép, gạn đục khơi trong, từng câu chuyện truyền miệng, từ văn tự ghi trên câu đối ở
cổng làng, đến tín ngưỡng và lễ hội từng nơi.Sự sâu sắc đó khiến cho khi đọc xong cuốn
sách, ta có cảm giác được hiểu thêm những vấn đề về văn hoá dân gian mà bấy lâu nay đã
bị lãng quên, đi dần vào dĩ vãng. Qua "Cổng làng Hà Nội xưa và nay", người đọc cũng
được tìm hiểu thêm về những giá trị văn hoá, văn nghệ dân gian vật thể và phi vật thể ở
từng địa phương, để từ đó biết trân trọng, giữ gìn những giá trị, những nét văn hoá của
tâm hồn người Việt. Đây cũng là công trình khoa học mang ý nghĩa thiết thực hướng đến
kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.