Tiểu luận triết học Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, liên hệ với việc học tập của sinh viên hiện nay pot - Pdf 12

Tiểu luận triết học

1

Tiểu luận triết học

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất
vàý thức, liên hệ với việc học tập của
sinh viên hiện nay

Tiểu luận triết học

2

LỜI NÓI ĐẦU
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã
vàđang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển
mới .Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại
hoáđãđược tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng
được mở rộng .Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng
thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát
triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế
vàđời sống xã hội .
Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và
thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển
đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao ,màđiểm
xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh
quyết liệt .

học,là kết quả của sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ
thể,với những" hạt nhân cảm tính".Vật chất với tư cách là một phạm trù
triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụđược .Định nghĩa
vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa
duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có ,không thể tiêu diệt được ,nó tồn
tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác ,ý thức con người, vật chất là
một thực tại khách quan.Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của
CNDTKQ ,"thượng đế"của tôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng
siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ởđâu đó ,trái lại phạm trù vật chất là kết quả
của sự khái quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và do đó các các đối tượng vật
chất có thật ,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra
Tiểu luận triết học

4
cảm giác ,và nhờđó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắm bắt sự vật
này .Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của
vấn đề cơ bản của triết học .
Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản
ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt
muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với
vật chất ,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan
của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết
không thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.
Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn
triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã
hội ,cóý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp
ngày càng đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới
vi mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành
động.

chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó
không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có
nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng
phong phú vàđa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng
đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu
của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện
tượng thìđứng im là sựổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện
tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng
,trong sựổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là
một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là
tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt
có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự
cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .
*Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có
hình thức kết cấu ,cóđộ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại
và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của
chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra
nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu
hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai đoạn
Tiểu luận triết học

6
khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện
tượng.
Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang
vận động ,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang
vận động .Không gian và thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất
biến ,không thểđứng ngoài vật chất ,không có không gian trống rỗng ,mà

quáng.Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa
với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.
Tựý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực
thểđộc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự
khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tựý thức làý
thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên
ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối
lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động
,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự
giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ
bản thân mình và tựđiều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra
.Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tựý
thức bản thân .
Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động
xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên
quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan
đến các hành vi trước kia đãđược ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh
thói quen,có thể diễn ra tựđộng bên ngoài sự chỉđạo của ý thức.Vô thức
ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn
cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động
.Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen
,có vai trò quan trọng trong đời sống .
b. Nguồn gốc của ý thức
 Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho
tới khi xuất hiện con người và bộóc .Khoa học chứng minh rằng thế giới
vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất
hiện con người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở
hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể tách rời ý thức ra khỏi
bộ não vìý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sựphụ

Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõý thức có bản tính
phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị
nội dung được từ vật gây tác động vàđược truyền đi trong quá trình phản
Tiểu luận triết học

9
ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy
kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách
quan.
ý thức ngay từđầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo
cải biến và thống trị tự nhiên của con người vàđã trở thành mặt không thể
thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không
chụp lại một cách thụđộng nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu
nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của ý
thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá
trình chủđộng ,tác động vào thế giới đó.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách
rời,không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh làđiểm xuất phát
là cơ sở của sáng tạo.Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin,là sự
thống nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.
Ý thức chỉđược nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của
con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã
hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và
những gìđang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và
người trong quan hệ xã hội.Do đóý thức xã hội hình thành và bị chi phối
bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá
nhân mang trong lòng nóý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng
thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện
ở tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và

định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con
người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của
con người những nhân tố vật chất vàý thức có tác động qua lại ,song sự tác
động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ
hai cuảý thức.
Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng
bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt
động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh
thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân
tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy
định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của
mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ
trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng
hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống . Hơn
nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ
thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất
Tiểu luận triết học

11

hiện có .khẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết
học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh
thần,tính năng động chủ quan. Nhân tốý thức có tác động trở lại quan trọng
đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con người
không thể tạo ra các đối tượng vật chất,cũng không thể thay đổi được
những quy luật vận động của nó. Do đó,trong quá trình hoạt động của mình
con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thểđề ra những mục
đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép .
II.
VẬNDỤNGMỐIQUANHỆGIỮAVẬTCHẤTVÀÝTHỨCVỚIVIỆCHỌCVÀHÀN

Một sốđông sinh viên ít đọc có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
nhưng nói chung họ rất thụđộng trong việc học. Thụđộng bởi sinh viên
chỉđọc giảng viên yêu cầu thuyết trình một đề tài, viết một bài tiểu luận
hoặc khi được khuyến khích bởi một người khác về một cuốn sách hay nào
đó, tức chỉ khi bịáp chế hoặc được truyền cho niềm tin thì họ mới đổ xôđi
đọc.
Có quá nhiều sinh viên vừa học, vừa chơi và cũng có quả nhiều sinh
viên quên mọi thứ trên đời để học. Cả hai kiểu học như thểđều mang lại
những kết quả tiêu cực khác nhau. Một bên là sự hụt hẫng về kiến thức,
thường xuyên đối mặt với nguy cơ bịđuổi học còn bên kia lại là sự mệt
mỏi, căng thẳng, những lo âu chồng chất trong những năm học đại học
khiến sức khỏe bị suy sụp, lạc lõng với những diễn tiến xung quanh xã hội,
lạ lẫm với những điều đang tác động đến cuộc sống hàng ngày….
Theo báo Tuổi trẻ ngày 3/10/2000 đã mời các thầy giáo đại học, các
nhà quản lý, các sinh viên dự tọa đàm về "nâng cao chất lượng đào tạo đại
hạ" vàđã có nhiều ý kiến của sinh viên thẳng thắn bức xúc: sinh viên chúng
tôi như những cố máy rỉ sét, chúng tôi vào lớp chép chính tả và sau đó trả
bài thuộc lòng, lắp ghép các kiến thức rời rạc. Học đối phó và thi đối phóđể
lấy cho được mảnh bằng, thể thôi việc học với sinh viên là học, ghi, thì
phải thuộc.
Đa phần sinh viên mới chỉ học theo kiểu "học vẹt" thiếu tính thực
tiễn. Nhìn vào hiện trạng của các "sản phẩm" của nền giáo dục cao đẳng -
đại học hiện nay có thể thấy rằng, hình như xã hội "không mê" các sản
phẩm này. Sở dĩ có thể nói như vậy bởi vì qua một cuộc thống kê nho nhỏ
về trình độ của những người tìm việc làm ởmột tờ báo thành phố Hồ Chí
Minh trong 3/2003 thấy được những con số quá giật mình về trình độ học
vấn của những ứng viên tìm việc. Cụ thể là trong tổng 115 ứng viên tìm
việc, cóđến 62 người có trình độĐại học tức chiếm 54%; có 24 người trình
độ cao đẳng, tức 21% và số người có trình độ trung cấp là 29 người chiếm
25%.

những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập
thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo
đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục. Đây là cách đặt vấn đề giáo dục
với yêu cầu mới: chuyển từ chủ trương giáo dục cho mọi người sang chủ
trương mọi người đều phải thực hiện việc học tập suốt đời. Cách đặt vấn đề
trên căn cứ vào tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học đồng thời căn cứ vào yêu
cầu đổi mới giáo dục của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
Tiểu luận triết học

14

Đến thăm lớp nghiên cứu chính trị khóa I trường đại học nhân dân Việt
Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt
đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự
cho mình đã biết đủ rồi biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân
ta ngày càng tiến bộ, chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân
dân. Khái niệm học tập suốt đời phải được hiểu khác trước thì nó mới có
tác dụng như một chiếc chìa khóa để giải quyết những vấn đềđặt ra trong
những năm đầu của thế kỉ 21 như tăng trường kinh tế nhanh, phát triển xã
hội bền vững, xóa nghèo toàn diện, nghèo về tri thức, nhân văn, thu nhập.
Mô hình giáo dục mở trong văn kiện đại hội X của Đảng chính là mô
hình gắn kết giáo dục ban đầu và giáo dục liên tục thành một hệ thống
trong đó tại bất cứ thời điểm nào và bất cứ không gian nào, mỗi thành viên
trong xã hội không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần xã hội, nghề
nghiệp vàđịa vị xã hội đều có thể tiến hành việc học tập theo nhu cầu của
cá nhân như nâng cao học vấn, hoàn thiện tay nghề, lấp những lỗ hổng
trong kiến thức quản lý, trau dồi văn hóa lãnh đạo, tư tưởng đạo đức.
Mô hình giáo dục lý tưởng ấy chính là mô hình xã hội học tập
màĐảng đãđề cập từĐại hội IX và khẳng định phải phát triển nó một cách
tích cực trong những năm trước mắt. Việc thực hiện được mô hình ấy hay

kỹ năng ứng biến. Đó là tiêu chí cần thiết để phân định sự thông thái của
một chủ thể nhận thức đồng thời là chủ thể sáng tạo. Trí thông minh vàóc
sáng tạo của mỗi người được thể hiện chủ yếu bằng hành động, thay vì chỉ
dừng lại ởý thức được thể hiện chủ yếu bằng sựđáp ứng những thử thách
trong quá trình vận dụng kiến thức thay vì chỉ quanh quẩn ở việc vun bồi
kiến thức. Bởi vậy các chuyên gia UNESCO đã có lý khi khẳng định:
"người hiểu biết ít mà vận dụng nhiều (có hiệu quả) biểu hiện một trí tuệ
hơn hẳn một người biết nhiều mà vận dụng ít". Sinh viên không chỉ dừng
lại ở mức độ lĩnh hội, mà phải chuyển sang thái độ tìm tòi cách cải biến và
cách ứng dụng sự lĩnh hội đó. Đối với những người có thái độ học sáng tạo
thì sự tìm tòi đó có thể là:
* Tìm hiểu nhu cầu xã hội hoặc nhu cầu khoa học đối với một sản
phẩm nào đó.
* Tìm hiểu những ưu điểm vượt trội cùng với những khuyết tật lớn
nhỏ của một sản phẩm.
* Tìm kiếm cách thức đi tới cải tiến sản phẩm, chủ yếu: hạn chế
những khuyết tật đó.
* Tìm kiểm những hiểu biết mới nhất kết hợp với những kinh
nghiệm cổ truyền cho việc giải quyết vấn đềđó.
* Tìm hiểu mọi ý tưởng giản đơn cho việc phân tích và giải quyết
một vấn đề phức tạp.
Tiểu luận triết học

16

* Tìm hiểu những điều kiện khả thi và cách vượt lên khó khăn để
thực hiện ý tưởng sáng tạo.
Như vậy thái độ tìm tòi trong khoa học và kỹ thuật tạo nên sự khai
phá nhận thức khi tiếp cận thông tin, giúp chủ thể nhận thức tự thể hiện và
làm nên những cá tính sắc sảo khi vận dụng kiến thức.

17

Phải biết vận dụng những tri thức lĩnh hội được vào thực tế, không
chỉ toàn là lý thuyết. Vận dụng chúng vào sản xuất,nghiên cứu…
2. Kiến nghị về phát triển giáo dục đại học
Trong thời đại cách mạng công nghệ, Đại học có vai trò chỉđạo trong
toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế giới và trong
khu vực, giáo dục đại học của ta còn quá yếu kém, tụt hậu còn xa hơn giáo
dục phổ thông. Trước đây ta xây dựng đại học theo mô hình Liên xô cũ,
nay nền đại học đó không còn thích hợp với giai đoạn phát triển mới của
đất nước, song những biện pháp sửa đổi, chắp vá và thời gian qua đã phá
vỡ tính hệ thống của nó, rốt cuộc tạo ra cảnh tượng lộn xộn không còn
chuẩn mực, khôn theo quy củ,tùy tiện và kém hiệu quả. Muốn thoát ra khỏi
tình trạng này cần có thời gian và một lộ trình hiện đại hóa thích hợp.
Trước mắt để tạo điều kiện thuận lợi cho toàn bộ công cuộc hiện đại hóa,
nên tập trung chỉnh đốn một số khâu then chốt đang tác động tiêu cực đến
sự phát triển bình thường của đại học. Đồng thời xây dựng mới một đại
học thực sự hiện đại, làm hoa tiêu hướng dẫn và thúc đẩy sựđổi mới trong
toàn ngành.
Trước hết cần phải cải cách mạnh mẽ việc thi cử vàđánh giá, chuyển
toàn bộ việc học theo hệ thống tín chỉ, thi kiểm tra nghiêm túc từng chặng
trong suốt khoa học thay vì dồn hết vào một kì thi tốt nghiệp nặng nền màít
tác dụng. Về tuyển sinh đại học, cao đẳng nên bỏkỳ thi hiện nay, nặng nề,
căng thẳng, tốn kém mà hiệu quả thấp để thay vào đó một kỳ thi nhẹ nhàng
chỉ nhằm mục đích sơ tuyển để loại những học sinh chưa đủ trình độ tối
thiểu cần thiết theo học đại học. Sau đó, việc tuyển chọn vào đại học nào
do đại học ấy tự làm, chủ yếu dựa trên hồ sơ học THPT và thẩm vấn hoặc
thi nếu cần thiết.
Thứ hai là chấn chỉnh việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ
Bằng thạc sĩ và tiến sĩ phải theo yêu cầu quốc tế, không thể tùy tiện,

Thứ 4 là cải thiện chính sách sử dụng giảng viên đại học. Tình trạng
phổ biến hiện nay ở các Đại học là giảng viên dạy quá nhiều giờ (25 - 30
giờ mỗi tuần không phải là hiếm). Kể cả giờ dạy trong trường, ngoài
trường, dưới nhiều hình thức khác nhau, dạy "liên kết" ở các địa phương,
dạy tu, luyện thi… do đó ngay ở các đại học lớn, cũng rất ít nghiên cứu
khoa học và nhiều người đã lâu không có thói quen cập nhật kiến thức,
nâng cao trình độ nhưng lại sản xuất đều đều cử nhân, Thạc sĩ, thậm chí cả
tiến sĩ. Trình độ GS, PGS của ta nói chung khá thấp so với quốc tế, cả nước
số GS đãđược công nhận mới chiếm tỷ lệ chưa tới 0,1% số PGS chưa tới
5%, trong toàn bộ số giảng viên đã học. Nếu kể cả những người thực tế có
năng lực nhưng chưa được công nhận GS, PGS do cách tuyển chọn chưa
hợp lý, đội ngũ giảng viên đại học vẫn còn yếu kém về trình độ và số lượng
Tiểu luận triết học

19

mà tuổi tác lại khá cao đó là tình trạng không thể chấp nhận được cần có
biện pháp cải thiện nhanh.
Thứ 5 làđổi mới các trường sư phạm và chính sách đào tạo giáo viên
phổ thông. Cần nghiên cứu lại chủ trương xây dựng những trường sư phạm
trọng điểm vì theo kinh nghiệm các nước, chỉ giáo viên mẫu giáo, tiểu học
mới cần được đào tạo kỹ về nghiệp vụ sư phạm, còn giáo viên THCS và
THPT trở lên thì trước hết phải được đào tạo vững vàng về chuyên môn
khoa học rồi mới bổ túc kiến thức và kỹ năng sư phạm. Do đó, phải thay
đổi cách đào tạo ở các trường sư phạm, chú trọng nhiều hơn phần chuyên
môn khoa học, đồng thời phải mở rộng đối tượng tuyển dụng giáo viên
phổ thông từ cá cử nhân hay thạc sĩ sau một khóa bổ túc ngắn hạn về
nghiệp vụ sư phạm. Các Đại học sư phạm nên dần dần chuyển thành Đại
học đa ngành, trong đó có khoa sư phạm (giáo dục) chuyên lo về nghiệp vụ
giảng dạy và khoa học sư phạm.


KẾTLUẬN
Có thể nói trong thời đại cách mạng công nghệ, đại học có vai trò
chủđạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế
giới và khu vực, giáo dục đại học của ta còn quá yếu kém, tụt hậu.
Phát triển con người là vấn đề trọng tâm của mỗi quốc gia. Hầu hết
các nước trên thế giới đều giương cao khẩu hiệu "giáo dục là quốc sách
hàng đầu và dành nhiều tâm sức để xây dựng và phát triển giáo dục nhằm
đào tạo cho xã hội lực lượng lao động có năng lực chuyên môn và khả năng
thích ứng, thỏa mãn được yêu cầu của thị trường về tiêu chuẩn văn hóa,
chuyên môn - nghiệp vụ của thị trường.
Một nền giáo dục đại học chỉđược xem thành công khi nền giáo dục
ấy đóng góp cho xã hội những cá nhân cóđầy đủ trí và lực, đáp ứng được
những nhu cầu về lao động trình độ cao và nghiên cứu khoa học nhằm góp
phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đất nước.
Vì vậy mà việc nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa vật chất vàý
thức. Vận dụng thúc đẩy việc học và hành của sinh viên hiện nay mang một
ý nghĩa vô cùng to lớn cóý nghĩa thực tiễn cao. Sinh viên phải cóđược
phương pháp để tiếp thu tri thức thời đại, rồi vận dụng thật tốt những tri
thức đó vào thực tế góp phần xây dựng một xã hội ngày càng phồn vinh,
tươi đẹp. Tiểu luận triết học

22

TÀILIỆUTHAMKHẢO
1. Giáo trình triết học Mác-Lênin tập 2 CNXB chính trị quốc gia
1997


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status