Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 1
ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
☺
MÔN HỌC:QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD: TS. NGUYỄN THANH LIÊM
SVTH:
LÊ MINH THẮNG
Lớp: B10K2.2A BÀI TẬP CÁ NHÂN: “NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở
VIỆT NAM
”
Về bản chất của sự liên kết tạo hình, gạch không nung khác hẳn gạch đất nung.
Quá trình sử dụng gạch không nung, do các phản ứng hoá đá của nó trong hỗn hợp tạo
gạch sẽ tăng dần độ bền theo thời gian. Tất cả các tổng kết và thử
nghiệm trên đã được
cấp giấy chứng nhận: Độ bền, độ rắn viên gạch không nung tốt hơn gạch đất sét nung
đỏ và đã được kiểm chứng ở tất cả các nước trên thế giới: Mỹ, Đức, Trung Quốc, Nhật
Bản,
Gạch không nung ở Việt Nam đôi khi còn được gọi là gạch block, gạch blốc,
gạch bê tông, gạch block bê tông, tuy nhiên với cách gọi này thì không phản ánh đầy
đủ khái ni
ệm về gạch không nung. Mặc dù gạch không nung được dùng phổ biến trên
thế giới nhưng ở Việt Nam gạch không nung vẫn chiếm tỉ lệ thấp .
Gạch nung có khoảng từ 70 đến 100 tiêu chuẩn quốc tế, với kích thước tiêu
chuẩn khác nhau. Tại Việt Nam gạch này có kích thước phổ biến là 210x100x60mm,
gạch không nung thì có khoảng 300 tiêu chuẩn quốc tế khác nhau với kích cỡ viên
gạch khác nhau, sức nén viên gạch không nung tối đa đạt 35MPa.
Sản phẩm gạch không nung có nhiều chủng loại trên một loại gạch để có thể sử
dụng rộng rãi từ những công trình phụ trợ nhỏ đến các công trình kiến trúc cao tầng,
giá thành phù hợp với từng công trình. Có nhiều loại dùng để xây tường, lát nền, kề đê
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 3
và trang trí Hiện nay, gạch không nung đã khẳng định chỗ đứng vững chắc trong các
công trình, nó đang dần trở lên phổ biến hơn và được ưu tiên phát triển. Có rất nhiều
công trình sử dụng gạch không nung, từ công trỉnh nhỏ lẻ, phụ trợ cho đến các công
trình dân dụng, đình chùa, nhà hàng, sân gôn, khu nghỉ dưỡng, cao ốc, Một số công
trình điển hình như: Keangnam Hà Nội Landmard Tower (đường Phạm Hùng, Hà
Nội), Habico Tower (đường Phạm Văn
Đồng, Hà Nội), Khách sạn Horinson (Hà Nội),
Hà Nội Hotel Plaza (đường Trần Duy Hưng, Hà Nội), Sông Giá resort (Hải Phòng),
Sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội), Làng Việt Kiều Châu Âu (Hà Đông, Hà Nội), Bà Nà
hoàn toàn cạnh tranh sòng phẳng với gạch đất nung (mặc dù chính sách hạn chế gạch
đất nung chưa hiệu quả tức thời).
Gạch papanh
G
ạch không nung được sản xuất từ phế thải công nghiệp: Xỉ than, vôi bột được
sử dụng lâu đời ở nước ta. Gạch có cường độ thấp từ 30–50 kg/cm2 chủ yếu dùng cho
các loại tường ít chịu lực.
Gạch không nung tự nhiên
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 4
Từ các biến thể và sản phẩm phong hóa của đá bazan. Loại gạch này chủ yếu sử
dụng ở các vùng có nguồn puzolan tự nhiên, hình thức sản xuất tự phát, mang tính chất
địa phương, quy mô nhỏ,
Gạch bê tông nhẹ
Gạch bê tông nhẹ có hai loại cơ bản là gạch bê tông nhẹ bọt và gạch bê tông nhẹ
khí chưng áp. Sản suất bằng công nghệ tạo bọt, khí trong kết cấu nên tỷ trọng viên
gạch giảm đi nhiều và nó trở thành đặc điểm ưu việt nhất của loại gạch này. Thành
phành cơ bản: Xi măng, tro bay nhiệt điện, cát mịn, phụ gia tạo bọt hoặc khí, vôi,
Sản phẩm đã được kiểm định chất lượng vượt TCXDVN: 2004 về cường độ chịu nén
đối với tỷ trọng D800. Gạch bê-tông khí chưng áp: Tên tiếng Anh là Autoclaved
Aerated Concrete – gọi tắt là AAC được rất nhiều nước trên thế giới ứng dụng rộng rãi
với rất nhiều ưu điểm như
thân thiện với môi trường, siêu nhẹ, bền, tiết kiệm năng
lượng hóa thạch do không phải nung đốt truyền thống, bảo ôn, chống cháy, cách âm,
cách nhiệt, chống thấm rất tốt so với vật liệu đất sét nung. Nó còn được gọi là gạch bê-
tông siêu nhẹ vì tỷ trọng chỉ bằng 1/2 hoặc thậm chí là chỉ bằng 1/3 so với gạch đất
nung thông thường. Công trình xây dựng sẽ giảm tải, giảm chi phí xử lý nền móng và
hệ thống kết cấu, góp phần giảm mức đầu tư xây dựng công trình từ 7- 10%, đẩy
nhanh tiến độ thi công và hoàn thiện phần bao che của công trình lên 2 - 5 lần. Ngoài
ra, khả năng cách âm và cách nhiệt của bê tông nhẹ rất cao, làm cho nhà ấm về mùa
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 5
- Được sản xuất từ công nghệ, thiết bị tiên tiến của quốc tế, nó có các giả pháp
khống chế và sự đảm bảo chất lượng hoàn thiện, quy cách sản phẩm chuẩn xác. Có
hiệu quả trong xây dựng rõ ràng, phù hợp với các TCVN. Các đặc điểm công nghệ
gạch không nung
- Nguyên liệu đầu vào thuận lợi không kén chọn nhiều vô tận.
- Máy móc thiết bị dây chuyền tự sản xuất chế tạ
o được cả trong và ngoài nước.
- Xây dựng nhà máy ở khắp mọi địa hình từ hải đảo tới đỉnh núi cao.
- Phụ gia vật tư sẵn có trên thị trường.
- Sản xuất từ thủ công tới tự động hóa hoàn toàn
- Chất lượng viên gạch tiêu chuẩn tốt.
- Giá thành hạ hơn so với gạch nung.
Lợi ích của gạch không nung:
Hiện nay thên thế giới đã áp dụng nhiều công nghệ sản xuấ
t vật liệu xây dựng
không nung, nhằm giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường trong quá trình khai thác, sản
xuất và đã mang lại nhiều kết quả tích cực như: tận dụng được nhiều nguồn nguyên
liệu rẻ tiền hiện có tại các vùng miền, tạo ra được nhiều loại VLXD có giá thành
thấp, Ngoài ra vật liệu xây dựng không nung còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
các chủ thể trong ngành công nghiệp xây dựng như: chủ đầ
tư chủ thầu thi công, nhà
sản xuất vật liệu xâ dựng và cuối cùng là lợi ích của người tiêu dùng.
Môi trường văn hóa xã hội
Theo ước tính, mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 20 tỉ viên gạch. Với đà phát
triển này, đến năm 2020, lượng gạch cần cho xây dựng là hơn 40 tỉ viên/1 năm.
Để đạt được số lượng gạch trên, nếu dùng đất nung thì sẽ mất rất nhiều đất canh
tác, sẽ ảnh hưởng nghiêm trong đến an ninh lương thực, và phải sử dụng một lượng
than hóa thạch khổng lồ, kèm theo đó là một lượng củi đốt rất lớn dẫn đến chặt phá
rừng, mất cân bằng sinh thái, hậu họa của thiên tai, và nghiêm trọng hơn nữa nó còn
Công nghệ thân thiện.
So sánh đặc điểm sản xuất và cơ lý của gạch không nung với gạch nung, có thể
thấy, loại gạch không nung có nhiều ưu điểm và lợi thế về kinh tế như: chất lượng
tương đương và cao hơn gạch nung truyền thống cùng loại, diện tích sử dụng mặt bằng
ít hơn, tiết kiệm diện tích có mái che, chi phí đầu tư giảm, tiết kiệm năng lượng, phụ
gia có sẵn trên thị trường xây dựng, nguyên liệu đầu vào dồi dào, đặc biệt giá thành
đầu vào của 1 viên gạch không nung rẻ hơn so với các gạch nung từ 10 - 20%.
Với công nghệ sản xuất gạch bê tông siêu nhẹ xốp. Bê tông siêu nhẹ xốp dùng
nguyên liệu chính là xi măng. Với ưu điểm như bền, ổn định, dễ dàng tạo hình, chịu
được rung, không dẫn điện, cách âm, chống thấm , công nghệ này có thể áp dụng cho
những công trình xây dựng có nền đất yếu, các công trình chắn sóng và chịu va đập.
Nếu so sánh với nhà máy sản xuất gạch Tuynel cùng công suất thì nhà máy sản
xuất bê tông nhẹ nổi giảm được 50% kinh phí đầu tư cho một nhà máy, giảm 60% diện
tích đất cho mặt bằng sản xuất và giảm 90% năng lượng sản xuất. Đối với chủ đầu tư
các công trình xây dựng, sử dụng sản phẩm bê tông nhẹ sẽ giảm được 40% tổng tải
trọng truyền xuống móng công trình, từ đó giảm chi phí gia cố nền móng. Đối với các
nhà thầu xây dựng sử dụng bê tông nhẹ thay thế cho gạch đất nung sẽ giảm được 70%
vữa xây, tăng 150% năng suất lao động của thợ xây và giảm 50% chi phí vận chuyển
so với gạch đất nung.
Sản xuất gạch không nung và gạch bê tông siêu nhẹ đều là hai công nghệ thân
thiện với môi trường. Không những hạn chế nung đốt, giảm khí thải CO2, đóng góp
Gạch bê tông khí chưng áp
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 7
tích cực cho việc tiết kiệm than ngày càng cạn kiệt và không làm mất đi canh tác của
nông thôn, không làm ô nhiễm nguồn nước ngầm của địa phương sản xuất gạch, mà
còn xử lý và tận dụng các nguồn phế thải trong xây dựng, công nghiệp, thu hút và giải
quyết được nguồn lao động đang dư thừa tại các địa phương, góp phần mang lại hiệu
quả kinh tế cao.
đất
nông nghiệp.
Quy hoạch tổng thể phát triển VLXD đến năm 2020, nhu cầu sử dụng vật liệu
xây của nước ta ước khoảng 42 tỷ viên. Số lượng này, nếu dùng hoàn toàn bằng gạch
sét nung, sẽ tiêu tốn mỗi năm từ 57 - 60 triệu m3 đất sét, tương ứng với 2.800 -
3.000ha đất nông nghiệp, bằng diện tích của một xã. Nói cách khác, nếu không có biện
pháp mạnh mẽ, kịp thời phát triển vật li
ệu thay thế thì mỗi năm, chúng ta có nguy cơ
mất trắng một xã để lấy đất nông nghiệp làm gạch sét nung.
Chính sách quyết liệt
"Sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung không những giúp chúng ta gìn
giữ đất nông nghiệp, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà còn góp phần
quan trọng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các
ngành công nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế
chung cho toàn xã hội" - Thứ trưởng
Nguyễn Trần Nam nói.
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 8
Ngay từ năm 2010, Bộ Xây dựng đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định 567/QĐ-TTg vào ngày 28/4/2010về Phê duyệt Chương trình phát
triển vật liệu xây không nung đến năm 2020. Theo đó, phát triển sản xuất và sử dụng
loại vật liệu này thay thế gạch sét nung đạt tỷ lệ 20 - 25% vào năm 2015 và từ 30 -
40% vào năm 2020.
Song xuất phát từ thực tế hiện nay, việc sử dụng gạch sét nung vẫn chiế
m tỷ lệ
lớn trong các công trình xây dựng (83,7%) và tại nhiều địa phương vẫn còn tồn tại phổ
biến lò gạch thủ công, như các tỉnh thành: Hà Nội, Thái Bình, Vĩnh Long, An Giang
Nên Bộ Xây dựng tiếp tục tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số
10/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng VLXD không nung, hạn chế sản xuất, sử dụng
gạch sét nung, nhằm hạn chế đến mứ
tranh quyết liệt về công nghẹ, chất lượng, và giá.
3.2. Áp lực từ người mua rất cao
Nhìn vào xu hướng giảm giá và khuyến mãi c
ủa nhà cung cấp, cũng có thể thấy
phần nào sức mạnh của người mua. Tại từng thị trường, khách hàng thường tập trung
vào một số nhà máy sản xuất lớn hoặc tập đoàn sản xuất. Cũng vì vậy, kênh phân phối
thường do các đối tượng này nắm giữ. Doanh nghiệp Việt Nam luôn phải điều chỉnh
quy trình sản xuất sản phẩm để theo kịp các tiêu chuẩn về sả
n phẩm và giá cả cạnh
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 9
tranh của các nhà máy khác nhau. Sản phẩm gạch không nung có sự khác biệt giữa các
doanh nghiệp rất ít nên khách hàng rất dễ thay đổi nguồn nguyên liệu đầu vào.
3.3. Áp lực từ sản phẩm thay thế ở mức cao
Với nhu cầu sử dụng gạch không nung như hiện nay thì việc giữ chân khách
hàng gặp nhiều khó khăn, cộng với nhu cầu về sản lượng chưa đại trà nên tính cạnh
tranh của các sản phẩm rất lớ
n.
Áp lực cạnh tranh chủ yếu của gạch không nung là khả năng đáp ứng nhu cầu
về giá, chất lượng so với các sản phẩm trong ngành,vì sản phẩm này có độ bền cao,
dây chuyền công nghệ phức tạp, cộng thêm các yếu tố khác của môi trường như thói
quen sử dụng sản phẩm gạch đất sét nung của khách hàng nhỏ lẻ.
Tính bất ngờ, khó dự đoán của sản phẩm thay thế
: Ngay cả trong nội bộ ngành
với sự phát triển của công nghệ cũng có thể tạo ra sản phẩm thay thế cho ngành mình.
Việc hàng loạt nhà máy sản xuất gạch không nung ra đời, tạo nên sự cạnh tranh về
mẫu mã, chất lượng, giá cả…
3.4. Áp lực cạnh tranh từ những đối thủ mới rất cao
+ Sức hấp dẫn của ngành: Công trình xây dựng giảm được 7 - 10% chi phí xây
thô khi chủ đầu tư thay g
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 10
dẫn tới ảnh hưởng chất lượng và giá thành. Ngoài ra, hoạt động quản lý sản xuất ở
nhiều đơn vị còn chưa tốt nên chi phí cao, tiêu hao vật tư, thiết bị và năng lượng lớn.
Bên cạnh đó, đa phần các doanh nghiệp chỉ quan tâm tăng mạnh công suất sản
xuất. Điều này lại càng làm tăng sức ép lên thu mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm và
tính cạnh tranh.
Ngoài ra, thị trường phát triể
n nhanh, mạnh tới mức cần có một tác động từ phía
quản lý để đưa ngành sản xuất gạch không nung phát triển có hệ thống, ổn định và bền
vững hơn. Về dài hạn, sự phát triển kinh tế sẽ khiến cho nhu cầu gạch không nung
ngày càng phong phú, đa dạng, và khắt khe hơn cùng với sự phát triển của một số
nguồn sản phẩm thay thế; mức cạnh tranh sẽ càng khố
c liệt hơn.
4. Chu kỳ ngành
Trong khi đa số nhà sản xuất VLN còn loay hoay với bài toán đầu tư công nghệ,
thì với tính năng vượt trội, phù hợp với nền công nghiệp xây dựng hiện đại, thân thiện
với môi trường VLKN đang từng bước lấn sân và thay thế trên thị trường VLXD.
Từng bước lấn sân
Phát triển sản xuất và sử dụng gạch không nung là xu hướng tất yếu của ngành
công nghiệp xây dự
ng hiện đại. Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển VLXD
không nung thay thế gạch đất sét nung, đến năm 2020 VLKN chiếm 40% sản lượng
VLXD.
Hiện nay, trên cả nước có 9 nhà máy sản xuất bê tông khí chưng áp (AAC), bê
tông bọt, gạch block xi- măng cốt liệu đi vào sản xuất như Công ty Tân Kỷ Nguyên -
Ebock, Viglacera, Sông Đà Cao Cường với công suất 1,5 triệu m3/năm; 17 cơ sở bê
tông bọt có công suất 0,4 triệu m3 và hơn 30 nhà máy gạch block cốt liệu xi măng
công suất 20-35 triệu viên và hàng trăm cơ sở khác, đưa tổng công suất VLKN lên đến
4,3 tỷ viên chiếm khoảng 17-18% VLXD.
nung và chỉ bằng ¼ trọng lượng gạch bê tông thường. Nguyên
nhân chính là do kết cấu b
ọt khí chiếm đến 80% toàn bộ cấu
tạo bên trong viên gạch. Đây là đặc tính nổi trội giúp tiết kiệm
lượng vật liệu làm khung, móng cọc, cũng như giúp vận
chuyển, thi công dễ dàng.
Cách âm tốt
Gạch bê tông nhẹ có cách tản âm tự nhiên nhờ vào cấu trúc
bọt khí và khả năng hấp thụ âm thanh vượt trội. Dù âm thanh từ bên
ngoài đi vào phòng hay từ trong phòng đi ra đều bắt buộc chuyển
động theo đường zig-zag, sóng âm bị chia nh
ỏ dần tại các đường
gãy và giảm đến mức tối thiểu khi xuyên được qua tường.
Cách nhiệt và tiết kiệm năng lượng
Gạch bê tông nhẹ có hệ số dẫn nhiệt rất thấp, vì vậy sẽ dẫn đến hiệu ứng đông
ấm, hạ mát. Cũng nhờ vậy, mức điện dùng cho điều hòa nhiệt độ được tiết kiệm đến
40%, tạo giá trị
lâu dài cho người sử dụng. Đồng thời, tường
ngăn xây bằng gạch bê tông nhẹ có thể chịu đựng trên mức 1200
độ C của những đám cháy thông thường và không thay đổi kết
cấu khi bị phun nước lạnh đột ngột. Kết quả thử nghiệm cho thấy
bức tường xây bằng gạch bê tông nhẹ đảm bảo an toàn tối thiểu
là 4 tiếng trong đám cháy.
Độ bền vững cao
Gạch bê tông nhẹ
là loại vật liệu xây dựng có tính đồng nhất, có gốc là bê tông
và được dưỡng hộ trong điều kiện hơi nước bão hòa áp suất cao. Nhờ quá trình chưng
áp, các thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể được ổn định để tạo ra kết cấu vững
chắc bao gồm chủ yếu là khoáng tobermorite. Vì thế, gạch bê tông nhẹ có độ bền vững
theo thời gian, có cường độ chịu lực cao nhất trong các loại vật
cần tự động hoá một số khâu quyết định chất lượng sản phẩm, còn một số khâu có thể
sử dụng nhân công thủ công thì không cần tự động hoá để giảm mức đầu tư.
Những ưu điểm của gạch không nung so với gạch nung trong việc xây nhà cao
ốc và kho tàng
- Cường độ chị
u lực có thể đáp ứng theo nhu cầu sử dụng. Đây là đặc tính mà
gạch nung không thể chịu được. Đối với những vị trí yêu cầu cường độ rất cao (300 –
400 kg/cm2) thì gạch nung không đáp ứng được. Đối với những vị trí yêu cầu cường
độ thấp (chỉ mang tính chất tường ngăn) thì cho phép giảm lượng xi măng phối liệu để
đảm bảo giá thành vừa phải, tránh lãng phí.
- Khả nă
ng cách âm, cách nhiệt, chống thấm cao. Điều này hoàn toàn phù hợp
vào kết cấu của viên gạch và cấp phối vữa bê tông.
- Kích thước viên gạch lớn hơn nhiều so với gạch nung (gấp từ 2 đến 11 lần thể
tích viên gạch nung), cho phép giảm được chi phí nhân công, đạt được tiến độ nhanh
hơn cho các công trình xây dựng. Ngoài ra lượng vữa dùng để xây tường bằng gạch
không nung và trát giảm tới 2,5 lần so với gạch đất nung.
- Có thể ti
ết kiểm được thời gian và tài chính, đơn giản hoá được một số khâu
trong quá trình xây dựng. - Nếu có chất độn nhẹ (ví dụ sỏi keramzit, đá basalt nhẹ,
than xỉ…) thì trọng lượng viên gạch giảm đáng kể. - Đa dạng chủng loại, màu sắc,
kích thước đồng đều và tính thẩm mỹ cao.
Những ưu điểm của việc dùng gạch không nung lát đường so với các phương
pháp lát đường hè khác
- Cường
độ chịu lực cao
- Giảm thời gian thi công. Đường, hè sau khi lát xong có thể sử dụng được ngay
lập tức
- Trong quá trình thi công, gạch lát không nung không cần trát mạch, do vậy tiết
kiệm vật liệu, nhân công, giảm thời gian thi công và nhất là có tác dụng thoát nước cho
nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia; đồng thời tiêu tốn 5,3-
5,6 triệu tấn than và thải ra môi trường khoả
ng 17 triệu tấn khí CO2.
7.2. Những thay đổi về quy định và chính sách
Hiện nhiều nước trên thế giới đã loại bỏ vật liệu nung và thay thế bằng vật liệu
xây không nung. Tại Việt Nam , phương án này cũng đã được ghi nhận và triển khai
thực tế. Các chuyên gia trong ngành ghi nhận việc sử dụng vật liệu xây không nung sẽ
hạn chế được các tác động bất lợi nêu trên, đồng thời đem lại nhiề
u hiệu quả tích cực
về các mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường. Quá trình sản xuất vật liệu xây không
nung còn giúp tiêu thụ một phần đáng kể phế thải các ngành khác như nhiệt điện,
luyện kim, khai khoáng , góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô
nhiễm môi trường cũng như các chi phí xử lý phế thải.
Đặc biệt, các loại vật liệu xây không nung đã nhanh chóng chứng minh được
một số
ưu điểm nổi bật như: nhẹ - giúp giảm tải trọng công trình, do đó tiết kiệm chi
phí làm móng và khung chịu lực, đẩy nhanh tiến độ thi công; tính cách nhiệt cao, góp
phần tích cực vào chương trình tiết kiệm năng lượng. Bởi vậy, Quyết định số 567/QĐ-
TTg ngày 28/4/2010 về Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm
2020 đã nêu rõ mục tiêu phát triển dòng sản phẩm này.
Theo đó, sản xuất và sử
dụng vật liệu xây không nung nhằm thay thế gạch đất
sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia,
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 14
giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường, giảm chi phí
xử lý phế thải của các ngành công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả
kinh tế chung cho toàn xã hội.
8. Tính hấp dẫn ngành
Chương trình 567 với mục tiêu phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây
Thách thức:
Khả năng cạnh tranh vào các thị trường còn nhiều khó khăn.
Nhận thức của người dân về vật liệu.
Một số thị trường khó tính, yêu cầu khắt khe.
Ngành công nghiệp liên quan, phụ trợ phát tri
ển chưa đồng bộ và không đáp
ứng hết nhu cầu phát triển vật liệu trong nước.
Điểm mạnh:
Không tốn khối lượng đất hăng năm cho khai thác gạch nung.
Nguồn nguyên liệu dồi dào dễ kiếm.
Giảm lượng khí thải, bảo vệ môi trường.
Lê Minh Thắng - Lớp B10K2.2A QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 15
Nhẹ, cách nhiệt, cách âm tốt, cường độ cao.
Ngành và các ngành công nghiệp phụ trợ, bổ sung bắt đầu được đầu tư và phát
triển
Điểm yếu:
Các doanh nghiêp đầu tư lúc kinh tế đang khó khăn.
Nguồn vốn đầu tư cho ngành còn thấp.
Kinh nghiệm về sản phẩm chưa nhiều.
Nhận biết về vật liệu của ngành xây dựng còn ít.
Các doanh nghiệp đa số vay ngân hàng với lãi suất cao.
Kết luận:
Hưởng ứng lời kêu gọi “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” của MTTQ Việt
Nam, đẩy mạnh “Chương trình phát triển Vật liệu xây dựng không nung đến 2020”
trong đó “từng bước nội địa hóa thiết bị dây chuyền sản xuất gạch không nung”.
Nội địa hóa dây chuyền thiết bị là một lợi thế vô cùng lớn, nó giúp các nhà đầu
tư bỏ ra nhiều chi phí cho các chuyến công tác nước ngoài cùng với nhi
ều rủi ro phát
sinh, gánh chịu chi phí vận chuyển và mô giới không hề nhỏ, chịu tiền thuế xuất nhập
NGÀNH SẢN XUẤT GẠCH KHÔNG NUNG Ở VIỆT NAM 16
MỤC LỤC
1. Đặc điểm ngành sản xuất gạch không nung ở Việt Nam 2
2. Phân tích môi trường bên ngoài 4
2.1. Môi trường kinh tế 4
2.2. Môi trường chính trị - pháp luật 7
3. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh 8
3.1. Áp lực từ nhà cung cấp ở mức trung bình 8
3.2. Áp lực từ người mua rất cao 8
3.3. Áp lực từ sản phẩm thay thế ở mức cao 9
3.4. Áp lực cạnh tranh từ những đối thủ mới rất cao 9
3.5. Cạnh tranh nội bộ ngành cao 9
4. Chu kỳ ngành 10
5. Các nhân tố then chốt thành công trong ngành 11
6. Động thái cạnh tranh ngành 12
7. Các lực lượng dẫn dắt ngành 13
7.1. S
ự thay đổi về mức tăng trưởng dài hạn của ngành 13
7.2. Những thay đổi về quy định và chính sách 13
8. Tính hấp dẫn ngành 14
Kết luận 15