87 Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2010 - Pdf 25


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH PH

ẠM TH

ỤC NHI

ÊN

CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ ĐẾN NĂM 2010
người M
ỹ được coi là có nguồn gốc từ Châu Âu, song những người thiểu số như
người gốc Mỹ (người da đỏ), người Mỹ gốc Phi, người Hispanic, và người Châu Á
cũng rất đông. Hiện nay, mỗi năm có tới trên một triệu người nước ngoài di cư đến
Mỹ sinh sống và làm ăn, và dự kiến đến năm 2050 người Mỹ da trắng chỉ còn
chiếm dưới 50%. Các cộng đồng đ
ang sinh sống ở Mỹ đều có những bản sắc riêng
của họ, kể cả ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, và phong tục; do vậy, rất khó có thể
khái quát chính xác được văn hóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng ở
nước này.
Khác với một số nền văn hóa khác, nhất là văn hóa Châu Á, nhìn chung,
người Mỹ rất coi trọng tự do cá nhân và tính tự lập. Gia đình, cộng đồng, tôn giáo,
hoặc tổ chức là thứ yếu so với các quyền cá nhân. Chủ ngh
ĩa cá nhân này cũng dẫn
đến một tính cách nổi bật của người Mỹ là cạnh tranh.
Phong cách chung của doanh nhân Mỹ là ít chú ý đến nghi lễ, đi thẳng vào
vấn đề, và muốn có kết quả nhanh. Trong đàm phán, người Mỹ thường xác định
trước và rõ mục tiêu cần đạt được, chiến lược và chiến thuật đàm phán, và dùng số
liệu để chứng minh cho các luận điểm của mình. Họ muốn dành chiến thắ
ng về
phần mình, song cũng sẵn sàng thỏa hiệp trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. ở Mỹ, “có

3
đi có lại” là nguyên tắc quan trọng trong đàm phán chính trị cũng như trong kinh
doanh.
Người Mỹ thích nói thẳng, rõ ràng, và dễ hiểu. Họ không thích kiểu nói
vòng vo, xa xôi, hoặc ví von. Nhìn chung, khi người Mỹ nói “được” thì có nghĩa là
được và “không được” có nghĩa là không được. Người Mỹ không ngại ngùng khi
trả lời “tôi không biết” nếu như họ không biết về vấn đề mà bạn quan tâm, hoặc
“tôi không phụ trách việc này” nếu như vấn đề bạn quan tâm không trong phạm vi

của mình. Thói quen này có thể bị coi là bất lịch sự trong một số nền văn hóa Châu
Á. Do vậy, các nhà kinh doanh nước ngoài không nên ngạc nhiên khi bị người Mỹ
cắt lời để hỏi hoặc nêu ý kiến của họ.
1.1.2, Đặc điểm kinh tế của thị trường Mỹ:
Đồng USD của Mỹ
vẫn là đồng tiền thanh toán quốc tế thịnh hành nhất.
Hiện khoảng 60% tiền mặt USD lưu hành ở ngoài nước Mỹ; tất cả thanh toán trong
lĩnh vực dầu khí, năng lượng thế giới đều bằng USD Mỹ. Trong điều kiện đó, tỷ
giá USD luôn là một vấn đề mấu chốt trong quan hệ kinh tế thương mại của Mỹ
với bên ngoài, là một nội dung chủ yếu c
ủa các cuộc gặp G7/G8 hàng năm. Mỹ và
các đối tác của Mỹ có thể mất hoặc được lợi hàng tỉ USD, và sức cạnh tranh kinh
tế có thể bị tác động lớn chỉ vì sự thay đổi tỷ giá đó chứ không phải do kết quả của
sản xuất trực tiếp. Vì vậy chính sách tiền tệ và quan hệ với thị trường vốn và tài
chính thế giới ra sao là một vấn đề đạ
i sự trong nền kinh tế. Việc đa số các nước
đến nay dự trữ ngoại tệ chủ yếu bằng USD Mỹ mang lại lợi thế cho Mỹ (tuy cũng
có mặt khác, làm đồng tiền Mỹ tùy thuộc tình hình bên ngoài). Gần đây Trung
Quốc và một vài nước đã tính đến đa dạng hóa dự trữ đó qua các đồng tiền khác để
tránh rủi ro lớn nếu giá USD tụt giảm do tình trạng thâm thủng các cân đố
i tài
chính của Mỹ.
Hiến pháp Mỹ qui định Quốc hội Mỹ có quyền quản lý ngoại thương và
quyết định về thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, do việc tăng hoặc giảm thuế nhập khẩu,
ấn định hạn ngạch nhập khẩu, hoặc đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế rất
phức tạp và ảnh hưởng đến lợi ích không những của M
ỹ mà còn của các nước khác;
nên nhiều trách nhiệm trong những lĩnh vực này đã đuợc Quốc hội ủy quyền cho
các cơ quan hành pháp. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ được Quốc hội
ủy quyền, các cơ quan hành pháp được ủy quyền có trách nhiệm tham vấn thường

61.006.604
100,00%
1 United States 12.409.465 20,34% 41.557
2 China 8.572.666 14,05% 27.122
3 Japan 3.943.754 6,46% 30.897
4 India 3.815.553 6,25% 3.262
5 Germany 2.417.537 3,96% 31.400
6 United Kingdom 1.926.809 3,16% 31.400
7 France 1.829.559 3,00% 30.100
8 Italy 1.667.753 2,73% 29.700
9 Brazil 1.627.262 2,67% 8.600
10 Russia 1.559.934 2,56% 12.100
11 Spain 1.133.539 1,86% 27.000
12 Canada 1.061.236 1,74% 34.444
13 South Korea 1.056.094 1,73% 22.543
37 Vietnam 254.041 042% 2,782

Nguồn : The world Factbook & Wikipedia
Trong cơ cấu kinh tế của Mỹ, hiện nay, có tới 80% GDP được tạo ra từ các
ngành dịch vụ, trong khi đó công nghiệp chỉ chiếm 18%, và nông nghiệp chỉ đóng
góp 2%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Mỹ còn tiếp tục tăng trong các năm tới.
Mức tăng trưởng GDP bình quân của Mỹ trong thập kỷ 90 là 3,6% trong khi
đó mức tăng chung của cả khối G7 trong cùng thời kỳ chỉ là 2,6%. Tuy nhiên, tốc

6
độ tăng GDP thực tế của Mỹ từ năm 2000 trở lại đây không ổn định và thấp hơn so
với mức bình quân của thập kỷ 90. Cụ thể là mức tăng năm 2000 là 5%, 2001 là
0,5%, 2002 là 2,2%, và 2003 là 3,1%, năm 2005 là 6,4%.
1.1.2.2, Về mặt ngọai thương:

7 Bảng 1.2:

CÁC NƯỚC XUẤT KHẨU CHÍNH VÀO MỸ
(2001-2006)

2001 2002 2003 2004 2005 2006
Quốc gia
Đvt: triệu USD
Canada
216.836 210.518 224.016 255.660 287.534 303.034
China
102.069 124.796 151.620 196.160 242.638 287.052
Mexico
130.509 134.121 137.199 154.959 169.216 197.056
Japan
126.139 121.262 118.485 129.535 137.831 148.071
Germany
58.939 60.985 66.532 75.622 84.345 87.756
United Kingdom
41.118 40.429 42.455 45.920 50.758 53.502
Korea
34.917 35.284 36.930 45.064 43.155 44.714
Taiwan
33.262 32.054 31.490 34.462 34.574 38.086
France


8

Bảng 1.3:

MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA MỸ
(2001-2006)
2001 2002 2003 2004 2005 2006

Mặt hàng Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá %

Đvt : tỷ USD

Các ứng dụng trong hóa
học, máy móc, các phản
ứng hạt nhân
145 130 131 149 166 182 17,55
Máy móc điện tử, thiết bị
và phụ tùng
123 110 113 125 129 146 14,06
Phương tiện vận chuyển
và phụ tùng
59 63 65 73 83 93 8,94
Máy bay và phụ tùng

Sắt và thép
5 5 7 9 11 13 1,22
Nhôm các sản phẩm có
liên quan
5 5 5 6 7 10 0,97
Các thành phần hóa học,
các hợp chất kim loại quý
6 6 6 7 9 10 0,97
Cao su và các sản phẩm
có liên quan
7 6 7 8 9 10 0,93
Hạt giống
7 7 10 9 8 9 0,88
Các mặt hàng khác
136 129 136 147 162 183 17,66
Tổng cộng
731 693 724 817 904 1.037 100,00
Nguồn: USITC
Năm 2006, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 1.845 tỷ USD, tăng 183 tỷ
USD (11%) so với năm 2005. Nhiều nhóm hàng có mức tăng trên 4 tỷ, trong đó
nhóm sản phẩm chất đốt, dầu thô có mức tăng cao nhất , năm 2006 tăng 45 tỷ so

9
với năm 2005 chiếm 17,17% tổng kim ngạch nhập khẩu, chủ yếu là do giá dầu thế
giới tăng(xem bảng 1.4). Các nhóm hàng có kim ngạch giảm nhiều nhất là bán dẫn
và mạch tích hợp (giảm 831 triệu USD), và máy ảnh và thiết bị (giảm 503 triệu
USD) (www.usitc.gov).
Bảng 1.4:

MỘT SỐ MẶT HÀNG NHẬP KHẨU CỦA MỸ

Gỗ, đồ gỗ 15 16 17 23 24 23 1,24
Đồ dự trữ báo cáo nhập khẩu đặc
biệt
13 13 14 16 18 20 1,09
Giày dép 15 15 16 16 18 19 1,03
Nhôm và các sản phẩm có liên
quan
8 9 10 13 15 19 1,03
Các mặt hàng khác 202 204 218 246 272 303 16,45
Tổng cộng 1.133 1.155 1.250 1.460 1.662 1.845 100,00
Nguồn: USITC
1.1.3, Quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ
1.1.3.1, Quan hệ ngoại giao:10
Năm 1991, Việt Nam và Mỹ bắt đầu đàm phán chính thức về bình thường
hóa quan hệ.
Tháng 2 năm 1994, Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Hai nước
thiết lập lại quan hệ ngoại giao vào ngày 12 tháng 7 năm 1995 và tiến hành trao đổi
đại sứ đầu tiên vào tháng 5 năm 1997.
Ngày 11 tháng 12 năm 2001, Hiệp định Thương mại song phương giữa hai
nước (BTA) bắt đầu có hiệu lực, sự kiện này đánh dấ
u một mốc quan trọng trong
quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.

Theo Hiệp định này, tất cả các
loại hàng hóa Việt Nam (bao gồm hàng dệt may, giầy dép, đồ gỗ, đồ điện gia dụng,
điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ, v..v...) xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ từ ngày
10/12/2001 trở đi sẽ dược hưởng mức thuế quan tối huệ quốc (còn được gọi là

461
2,392
580
4,472
1,324
5,161
1,163
6,522
1,192
8,463
1,100
2001 2002 2003 2004 2005 2006
US - Việt Nam
Việt nam - US

Nguồn : USITC
Năm 2001, Việt nam đứng thứ 40 về kim ngạch xuất khẩu vào thị trường
Mỹ, một năm sau khi hiệp định song phương Việt – Mỹ có hiệu lực, năm 2002,
Việt nam vươn lên đứng hàng thứ 38 về kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ, và từ năm
2003 đến năm 2006, Việt Nam đã trở thành bạn hàng lớn thứ 33 của Mỹ (tính theo
kim ngạch nhập khẩu của Mỹ - phụ l
ục 1).
Về hoạt đông kinh doanh ngoại thương:
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ tăng 29,8% so với
năm 2005, chiếm thị phần rất nhỏ khoảng 0,46%.Những mặt hàng xuất khẩu chính
của Việt Nam sang gồm hàng may mặc, giầy dép, đồ gỗ, thủy sản, nông sản thô,
dầu khí…Và xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đạt 1,1 tỷ USD năm 2006 giảm xấp
xỉ
8,4% so với năm 2005. Các mặt hàng Mỹ xuất khẩu sang Việt Nam chủ yếu
gồm máy bay dân dụng, máy móc, thiết bị và phụ tùng, phụ tùng máy bay, phân

Sản phẩm dùng trong ytế
20 24 42 39 57 65 5,91
Phương tiện vận chuyển và
phụ tùng
8 13 26 39 41 49 4,43
Bông, sợi, vải
29 28 35 67 49 48 4,33
Các sản phẩm sữa, trứng, mật
ong, các sản phẩm khác
8 3 3 24 39 42 3,78
Giày dép
19 18 23 24 31 34 3,11
Hóa chất
9 10 15 9 11 22 2,01
Trái cây, đậu, dưa
5 7 6 6 10 22 1,98
Da thuộc
3 6 6 12 16 22 1,98
Sắt và thép
3 4 5 76 18 20 1,86
Giấy và các sản phẩm có liên
quan
18 17 21 24 17 19 1,71
Bột gỗ, các vật liệu khác
tương tự làm giấy, giấy loại
9 9 9 7 17 17 1,54
Đồ phế thải
8 13 12 10 22 17 1,53
Sơ sợi làm bằng tay
2 4 5 7 7 16 1,48

Bàn ghế, thiết bị trang trí nội thất 14 82 190 389 697 902 10,66
Thủy hải sản 384 479 569 404 464 467 5,52
Trà, cà phê,gia vị 89 73 98 144 184 240 2,84
Các ứng dụng trong hóa học,
máy móc, các phản ứng hạt
nhân
1 20 67 62 126 222 2,63
Máy móc điện tử, thiết bị và phụ
tùng
1 7 30 50 87 210 2,48
Thức ăn làm sẵn 93 138 162 162 163 184 2,17
Trái cây, đậu, dưa 48 71 99 172 154 154 1,82
Các sản phẩm làm bằng da
thuộc
3 62 101 124 127 137 1,61
Các sản phẩm liên quan sắt,
thép
1 3 6 12 34 83 0,99
Nhựa và các sản phẩm có liên
quan
0 6 11 28 53 82 0,97
Mũ, khăn trùm đầu 0 24 39 63 68 77 0,91
Xà phòng, các chất tẩy rửa 0 1 0 1 25 71 0,84
Các sản phẩm liên quan tới dệt
may
1 7 22 48 41 53 0,63
Đồ chơi, trò chơi, thiết bị thể
thao, phụ tùng kèm theo
1 8 12 16 31 46 0,54
Cao su và các sản phẩm liên

ngân hàng lớn Việt Nam hay một hãng bia lớn
đang thăm dò mua cổ phần của một
công ty bia lớn ở Việt Nam.
Bên cạnh các họat động thương mại, Mỹ tham gia vào các lĩnh vực hợp tác
phi thương mại, được đánh giá là có hiệu quả như giáo dục, phòng chống
HIV/AIDS và nhân đạo. Hiện nay có khoảng 300 tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ
thiện của Mỹ (trong đó có nhiều tổ chức được chính phủ Mỹ tài trợ), đã và
đang
thực hiện các dự án nhân đạo ở Việt Nam.
1.2, Vị trí, vai trò của ngành dệt – may trong họat động kinh doanh xuất khẩu
của Việt Nam.

Sản phẩm của ngành dệt may là mặt hàng nhu yếu phẩm quan trọng trong
đời sống con người, có tính chất thời trang. Ngành dệt may là ngành công nghiệp
chủ yếu tạo nguồn thu ngoại tệ nhiều cho đất nước, trong vài năm gần đây, ngành
dệt may được xem như ngành “mũi nhọn”, bởi những ưu thế: đầu tư ít, thu hồi vốn
nhanh, nhân công dồi dào và rẻ, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, đ
óng góp
phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu. 15
1.2.1, Vị trí của ngành dệt may trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu:
Ngành dệt may xuất khẩu chiếm tỷ trọng khá đáng kể trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước, từ 14-16% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, luôn đứng vị
trí thứ hai sau dầu thô. Kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may tăng liên tục hàng
năm từ 10-21%, năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm 14,64% tổng
kim ngạ
ch xuất khẩu đạt 5,83 tỷ USD, tăng 20,6% so với năm 2005 (xem bảng
1.7).

3,4 về kim ngạch xuất khẩu đã dần chiếm vị trí thứ 2 trong 10 mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu chỉ đứng sau dầu thô. 16
1.2.2, Vai trò của ngành dệt may trong hoạt đông kinh doanh xuất khẩu:
1.2.2.1,Ngành dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực:

Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, xét về tổng thể, hàng dệt may chỉ đứng sau
dầu thô và chỉ tính riêng xuất khẩu hàng dệt may đã đóng góp từ 13-15% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước đồng thời tạo việc làm cho gần 2 triệu lao động ,
trong đó chưa tính tới số lao động trồng dâu, nuôi tằm. Trong khi tốc độ tăng GDP
bình quân của cả nước tăng 5%/năm thì giá trị
xuất khẩu hàng dệt may tăng khoảng
20-25%/năm.
Hàng dệt may Việt Nam hiện đã hiện diện trên 150 nước, vùng và lãnh thổ
so với năm 2000 là 100 nước, vùng và lãnh thổ. Điều đó chứng tỏ hàng dệt may
Việt Nam đã có uy tín trên thị trường thế giới và có thể cạnh tranh được tại các thị
trường khác nhau, kể cả những thị trường khó tính như Nhật bản, EU, .
1.2.2.2, Ngành dệt may có tỉ su
ất lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh.
So với nhiều ngành khác ngành dệt may yêu cầu đầu tư thấp hơn nhiều, lại
sinh lợi nhanh. Chi phí đầu tư cho một chỗ lao động chỉ cần 600USD cho thiết bị
và 300USD cho nhà xưởng, điện nước mà thời gian thu hồi vốn nhanh có thể sau
3-3,5 năm, lợi nhuận cao. Việc đào tạo công nhân nhanh, có thể từ 2-2,5 tháng.
Chính vì thế, bước vào thời kỳ phát triển kinh doanh xuất khẩu, nhiều nước
như Nhật b
ản, Hồng Kông, Trung quốc đã lấy ngành may làm ngành chủ đạo và đi
lên từ ngành này. Kinh nghiệm cho thấy, việc phát triển ngành sản xuất và đẩy
mạnh xuất khẩu hàng dệt may là yêu cầu khách quan và là cứu cánh để tăng kim

.
Nhiều doanh nghiệp dệt may nhà nước trung ương, địa phương và các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác: công ty tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước
ngoài.. đã có tiếng trên thị trường châu Âu, châu Á, Bắc . Trong thực tế, ngành dệt
may đà có nhiều năm tích lũy kinh nghiệm quản ly , có đội ngũ, có đội ngũ lao
động biết nghề, thiết bị máy móc ngày càng được trang bị khá tiên tiến, chất lượng
sản phẩm ngành dệt may ngày càng cao, giá nhân công rẻ, tăng thêm sức cạnh
tranh cho hàng dệt may trên thị trường thế giới. Khách hàng nhiếu nước thấy mối
lợi đó đổ vào Việt Nam để gia công hàng dệt may.
1.2.2.5, Ngành dệt may góp phần giải quyết vấn đề việc làm và thúc đẩy
hình thành thị trường lao động và phân công lao động.
Ngành dệt may sử dụng nhiều lao động sống, phù hợp với các nước có
nguồn nhân công dồi dào như Việt Nam, hiên số lao động trong ngành dệt may là 2
triệu người (so với năm 2000 là 1,6 triệu người). Lương công nhân đã có sự gia

18
tăng đáng kể; 1-1,2 triệu đồng/tháng (năm 2002 là từ 700-800 ngàn đồng/tháng).
Ngành dệt may phát triển trên qui mô rộng lớn trong cả nước tạo thuận lợi cho
người lao động lựa chọn, thay đổi nơi làm việc thích ứng với mình, điều đó góp
phần thúc đẩy quá trình phân công lao động hợp ly trên qui mô toàn xã hội, tạo
điều kiện nâng cao tay nghề, trình độ khoa học kỹ thuật và kỷ luật công nghiệp,
nguy cơ bị th
ất nghiệp càng lớn thúc đẩy người lao động phải tự hoàn thiện mình.
Ngành dệt may tuy có vai trò tích cực, các doanh nghiệp dệt may thụ động
trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu, không chủ động tìm “đầu ra”, “đầu vào”
cho sản xuất, chủ yếu là gia công xuất khẩu, làm chậm năng lực cạnh tranh của
ngành của quốc gia, làm chậm tiến trình phát triển kinh tế theo chiều sâu.
Phần lớn hàng dệt may của Việt Nam gia công theo mẫu mã thiế
t kế, nhãn

ổ chức thương mại thế giới
(WTO), Mỹ bãi bỏ chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt nam, tận dụng
những ưu đãi là thành viên của WTO và xuất khẩu không hạn chế vào Mỹ. Cơ chế
quản l y về giá của hàng dệt may xuất khẩu để tránh bị kiện cáo vể việc bán phá giá.
Mở rộng qui mô và đầu tư vào ngành dệt may xuất khẩu từ
chính phủ nhằm
tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Các yêu cầu chủ quan:
Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản và tòan diện về khoa học và công
nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến hiện
đại vào sản xuất quản ly.
Có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ lẩn nhau giữa các doanh nghi
ệp dệt
may xuất khẩu.
Đa dạng hóa các mặt hàng dệt may xuất khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thiết kế mẫu mã, xây dựng thương hiệu cho hàng dệt may xuất khẩu.
Ngành dệt may phải có chính sách tiếp thị quảng cáo về sản phẩm dệt may,
tổ chức các cuộc thi tay nghề “bàn tay vàng”, các doanh nghiệp dệt may tham gia
vào các cuộc bình chọn “hàng Việt Nam chất lượng cao”, qua đó khẳ
ng định được
vị trí của sản phẩm dệt may của doanh nghiệp, nâng cao uy tín của sản phẩm.
Tăng cường xuất khẩu theo phương thức tự doanh, tăng tỷ lệ nội địa hóa của
sản phẩm dệt may đạt 60%.
Phát triển ngành dệt may xuất khẩu trên phạm vi toàn quốc và gồm mọi
thành phần kinh tế tham gia, tận dụng lợi thế của nhau (về nguồn vốn, phươ
ng
pháp quản ly, bí quyết công nghệ…).

20
Phát triển ngành dệt may theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, 21
Bảng 1.8:
KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA TRUNG QUỐC VÀO MỸ
(2001-2006)
2001 2002 2003 2004 2005 2006

Mặt hàng
Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá %

Đvt: tỷ USD
Máy móc điện tử, thiết bị và phụ
tùng
20 24 28 40 53 65 22,52
Các ứng dụng trong hóa học, máy
móc, các phản ứng hạt nhân
14 20 30 44 53 62 21,66
Đồ chơi, trò chơi, thiết bị thể thao,
phụ tùng kèm theo
12 14 16 17 19 21 7,26
Bàn ghế, thiết bị trang trí nội thất 7 10 12 14 17 19 6,74
Giày dép 10 10 11 11 13 14 4,81
Hàng may mặc không dệt kim 4 4 5 7 10 12 4,13
Các sản phẩm liên quan sắt, thép 2 3 3 5 6 8 2,91
Hàng may mặc dệt kim 2 3 3 4 7 8 2,79
Nhựa và các sản phẩm có liên
quan

các sản phẩm dệt may khác với bất kỳ chất lượng nào hay với bất cứ mức giá nào;

22
(4) Trung Quốc có khả năng cung cấp hàng dệt may với số lượng lớn trong thời
gian ngắn. Tuy nhiên, hiện tại, một số chủng loại dệt may Trung quốc đã bị Mỹ
hạn chế trở lại bằng hạn ngạch cho đến hết năm 2008.

Ở Việt Nam, một trong những lợi thế của ngành dệt may là giá nhân công rẻ,
dễ đào tạo, nhưng lợi thế này mất dần đi khi mức sống ở đô thị đang dần nâng cao,
nếu ngành may không dịch chuyển sản xuất vế các vùng nông thôn ( những nơi có
cơ sở hạ tầng thuận lợi, tương đối hoàn chỉnh về điện nước, giao thông…), hoặc
một công đ
oạn phù hợp với việc sản xuất không tập trung( thêu, kết cườm…) thì
khả năng cạnh tranh về giá sẽ giảm đi rất nhiều.
Từ những phân tích về vai trò của ngành dệt may hiện nay của Việt Nam,
các yêu cầu cấp thiết đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, cùng với những đặc điểm
về đất nước con người Mỹ, kim ngạch hai chiều Việt – Mỹ t
ăng trưởng nhanh đã
tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ hai bên cùng có lợi. Quan hệ thượng mại thuận
lợi đem lại cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư của cả Việt Nam
và Mỹ. Chúng ta nhận thấy cần thiết để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thị
trường Mỹ góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng trường kinh tế, và khẳng
đị
nh vị thế của ngành dệt may Việt Nam trên thế giới. Chúng ta đi vào phân tích
thực trạng nhu cầu về hàng dệt may tại thị trường Mỹ, và tình hình xuất khẩu hàng
dệt maycủa Việt Nam vào thị trường Mỹ trong những năm qua.


tục và được sửa đổi điều khoản; xác định chọn luật nào, trọng tài nào để xử lý
trong trường hợp có tranh chấp; nên chọn các quy định phán quyết củ
a tòa án Mỹ
vì các quy định phán quyết của tòa án Việt Nam có thể gặp khó khăn khi buộc các
doanh nghiệp Mỹ thi hành.
Hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Mỹ phải tuân theo các luật và qui
định về sản phẩm như:
Luât phân biệt sản phẩm sợi dêt (Textile Fiber Products Identification Act –
TFPIA) và các quy định của Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) quy định các
sản phẩm sợi dệt nhập khẩu vào Mỹ phải được dán tem hoặc gắn nhãn hoặc đánh
dấu cung cấp những thông tin liên quan đến loại sợi trừ khi được miễn trừ theo
mục 12 của luật này). Trong trường hợp không phải là sản phẩm để bán hoặc phân

24
phối đến người tiêu dùng cuối cùng thì hóa đơn hay các giấy tờ khác có những
thông tin yêu cầu có thể sử dụng thay cho tem hoặc nhãn (phụ lục 2)
Luật nhãn hàng sản phẩm len (WPLA). Tất cả các sản phẩm có chứa sợi len
khi nhập khẩu vào Mỹ (trừ thảm, chiếu và các sản phẩm đã được sản xuất từ hơn
20 năm trước khi nhập khẩu) đều phải có tem hoặc gắn nhãn với những thông tin
theo yêu cầu của Luật nhãn sản phẩm len năm 1939 (Wool Products Labeling Act
1939) và các quy định dưới luật do FTC ban hành (phụ lục 3).
Quy định về nhãn sử dụng (Care Labeling) yêu cầu các nhà sản xuất và
nhập khẩu quần áo và các sản phẩm dệt phải cung cấp những chỉ dẫn thông thường
về bảo quản sản phẩm tại thời điểm những sản phẩm đó được bán cho người mua
hay thông qua việc sử dụ
ng các ky hiệu về bảo quản hay các cách đọc khác được
mô tả trong quy định này (phụ lục 4). Quy định về nhãn hiệu hay quyền sở hữu
công nghiệp rất chặt chẽ. Nhãn hiệu phải dính liền sản phẩm viết bằng tiếng Anh
dễ hiểu (nếu nhãn hiệu bị mất hoặc không có, Hải quan sẽ không cho nhận hàng
hoặc buộc phải nộp tiền phạt có khi tới 10%). Những nhãn hiệu bắt ch

người sẽ xác định MID dựa trên những thông tin về công ty, điền vào các mẫu khai
hải quan khi làm thủ tục nhập khẩu.Trường hợp c
ơ quan Hải quan tại một cảng nào
bất kỳ thấy nghi ngờ về khai báo MID không đúng, cảng có thể yêu cầu sửa chữa
thông tin sau khi hàng đã qua cửa khẩu. Những lỗi lặp lại về việc xác định MID khi
nhập khẩu hàng dệt may sẽ đưa đến việc đánh giá mức phạt đối với nhà nhập khẩu
hay môi giới hải quan do không lưu tâm đúng mức.
2.1.1.2, Hệ thống phân phối hàng hóa c
ủa thị trường Mỹ
Mỹ là thị trường tiêu thụ khổng lồ, nhiều nước quan tâm. Mỹ là một trong
những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Hệ thống phân phối hàng của
Mỹ rất phong phú rất chuyên biệt được phân thành 7 loại:
(1) Công ty chuyên doanh: nơi đây thường phân phối những nhãn hiệu nổi
tiếng, những lọai hàng đặc biệt có giá cả đắt đỏ;
(2) Cửa hàng siêu thị
(3) Cử
a hàng bán lẻ quốc gia: đây là hệ thống cửa hàng kinh doanh những
mặt hàng giống nhau trải rộng đất nước;
(4) Cửa hàng siêu thị bình dân: cũng giống như cửa hàng siêu thị nhưng ở
nơi đây bán những hàng bình dân giá cả rẻ hơn;
(5) Cửa hàng giảm giá: hệ thống cửa hàng này thường bán với giá giảm hơn
các loại khác, niêm yết các loại giá đã giảm vào ngày giờ cụ thể;
(6) Cửa hàng bán lẻ qua mail, b
ưu điện…: đây là hình thức phổ biến ở Mỹ,
người dân bận rộn làm việc không có thời gian đi mua sắm, đây là kênh phân phối
mà người Mỹ rất ưa thích vì sự tiện lợi;

Trích đoạn Mục tiêu chiến lược: Tập trung nguồn lực phát huy lợi thế, nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu: Tăng cường liên doanh liên kết đầu tư:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status