trường đại học ngoại thương
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: " một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
hàng dệt may Việt nam vào thị trường mỹ "
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: T.S BÙI NGỌC SƠN
SINH VIÊN : LÊ TÚ ANH
LỚP A1 - CHUYÊN NGÀNH 9
HÀ NỘI - 2003
MỤC LỤC
Lời nói đầu
1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU
3
I. Khái niệm, vai trò của xuất khẩu
3
1. Khái niệm
3
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
3
II. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
6
1. Xuất khẩu trực tiếp
6
2. Xuất khẩu uỷ thác
7
3. Buôn bán đối lưu
7
4. Giao dịch qua trung gian
8
5. Gia công quốc tế
II. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị
trường Mỹ giai đoạn 1997 đến nay
36
1.Tình hình xuất khẩu hàng dệt may nói chung
36
2. Khái quát về thị trường hàng dệt may tại Mỹ
39
3. Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường
Mỹ
50
II. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam vào thị trường Mỹ
55
1. Những thuận lợi của xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
vào thị trường Mỹ
55
2.Những khó khăn và thách thức đối với hàng dệt may Việt
Nam khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ
56
CHƯƠNG III.: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT
KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
67
I. Định hương phát triển xuất khẩu nói chung và xuất khẩu
hàng dệt may nói riêng của Việt nam trong những năm tới
67
1. Quan điểm tăng tốc phát triển ngành dệt may
68
2. Mục tiêu tăng tốc phát triển ngành dệt may đến năm 2010
70
luôn tăng trưởng mạnh, rất khả quan trong việc đạt và vượt mục tiêu xuất khẩu theo quy
hoạch tổng thể của ngành dệt may Việt Nam đến năm 2005 là 4-5tỷ USD và năm 2010
là 8-9 tỷ USD. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu ngành này phải duy trì mức tăng trưởng
14%/ năm. Muốn đạt được điều đó toàn ngành cần có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó
việc mở rộng thị trường là vấn đề mấu chốt mà các doanh nghiệp cần quan tâm. Một
trong những thị trường có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế thế giới nói chung
và nền kinh tế khu vực nói riêng đó là thị trường Mỹ. Đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may
sang thị trường này chẳng những tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế Việt Nam đẩy nhanh
tiến trình hội nhập mà còn gia tăng sự phát triển và nâng cao tính cạnh tranh của hàng
hoá Việt Nam. Tuy nhiên để thực hiện được việc này thì hàng dệt may Việt Nam phải
vượt qua rất nhiều khó khăn, thách thức nhất là về khả năng cạnh tranh, năng suất, chất
lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ và khả năng vận dụng Marketing vào kinh doanh.
Bài viết này với đề tài "Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam vào thị trường Mỹ " sẽ đi sâu phân tích thực trạng thị trường dệt may tại
Mỹ, đánh giá được chính xác khả năng thực tế của hàng dệt may Việt Nam khi thâm
nhập thị trường này và đề ra một số giải pháp chính nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam sang thị trường Mỹ.
Luận văn được chia làm ba chương chính như sau:
Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu.
Chương II: Tình hình thị trường và thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị
trường Mỹ.
Chương III: Những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị
trường Mỹ.
Với kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế về phương pháp luận, chắc chắn giá trị
thực tế của luận văn này không cao nhưng bằng lòng nhiệt tình và sự say mê được áp
dụng những kiến thức trong quá trình học tập và công tác, tôi hy vọng góp một phần nhỏ
bé giúp các doanh nghiệp dệt may tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất cho doanh
nghiệp mình để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường được đánh giá là tiềm năng nhất
hiện nay, đó là thị trường Mỹ.
Tôi xin chân thành cảm ơn T.S Bùi Ngọc Sơn đã hướng dẫn tôi hoàn thành khoá
lớn thông qua hoạt động xuất khẩu, xuất khẩu đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích
sau:
Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi doanh
nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.
n Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn phải đổi mới và hoàn thiện công tác
quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành.
q Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ
kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng
doanh số và lợi nhuận đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động
kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
k Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp,
chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển các hoạt động sản xuất,
marketing... cũng như sự phân phối và mở rộng trong việc cấp giấy phép.
mXuất khẩu đem lại lợi nhuận cao giúp doanh nghiệp bù đắp chi phí, có lãi, tích luỹ
nhằm nâng cấp xây mới cơ sở vật chất, bảo dưỡng hoặc trang bị kỹ thuật công nghệ hiện
đại, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.
đ 2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
2 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một tất yếu của tiến trình phát triển kinh tế xã
hội đặc biệt đối với các nước đang và kém phát triển, nó khắc phục tình trạng nghèo nàn
lạc hậu. Tuy nhiên nó đòi hỏi một lượng vốn đủ lớn để đầu tư, nhập khầu máy móc, thiết
bị... Xuất khẩu là một trong những hình thức thu hút vốn quan trọng của mỗi quốc gia,
xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô, tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế.
n Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất
Tuỳ thuộc vào chính sách hướng ngoại hay hướng nội của mỗi quốc gia mà xuất
khẩu có mức độ tác động đến chuyển dịch cơ cấu và phát triển sản xuất khác nhau
+ Với chính sách hướng nội, việc xuất khẩu chỉ được thực hiện đối với những
triển của nền kinh tế mà nó còn giúp bình ổn xã hội của một quốc gia, tuy nhiên muốn
phát huy vai trò của nó cần phải tìm hiểu sâu hơn ở nội dung và các hình thức xuất khẩu
II. CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU CHỦ YẾU
1. Xuất khẩu trực tiếp:
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ do chính doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước
ngoài thông qua tổ chức của mình.
Xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rủi ro trong kinh doanh nhưng nó lại có
ưu điểm:
- Giảm bớt chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị trường
nước ngoài từ đó nắm bắt ngay được nhu cầu, xu hướng biến động của thị trường, tình
hình của khách hàng nên có thể đưa ra những chính sách linh hoạt về sản phẩm sao cho
phù hợp. Nhờ đó việc mở rộng thị trường cho sản phẩm sẽ thuận lợi hơn.
Xuất khẩu trực tiếp thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có nguồn vốn đủ
lớn, đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực và trình độ chuyên môn cao đồng thời
sản phẩm được xuất khẩu thường đã có vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế.
2. Xuất khẩu uỷ thác:
Xuất khẩu uỷ thác là hình thức mà trong đó đơn vị kinh doanh xuất khẩu đóng
vai trò là người trung gian cho đơn vị sản xuất đứng ra ký kết hợp đồng mua bán ngoại
thương, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá cho nhà sản xuất để qua
đó hưởng "phí uỷ thác"(thường tính theo % giá trị lô hàng).
Hình thức này có ưu điểm là dễ áp dụng, doanh nghiệp không phải bận tâm việc
đàm phán ký kết hợp đồng, các thủ tục xuất nhập khẩu do đó tiết kiệm được thời gian,
giảm rủi ro và chuyên tâm vào sản xuất. Tuy nhiên nó có hạn chế là lợi nhuận bị chia sẻ,
việc thu thập thông tin thị trường gặp khó khăn do đó khó có phản ứng linh hoạt với
những biến động của thị trường.
Hình thức này được áp dụng chủ yếu ở những doanh nghiệp có tiềm lực hạn chế,
chưa có chỗ đứng thật vững chắc trên thị trường.
3. Buôn bán đối lưu:
Hình thức này áp dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển
có nhiều tài nguyên, lao động dồi dào với giá rẻ nhưng lại thiếu vốn yếu kém về công
nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Gia công quốc tế đem lại lợi ích cho cả hai bên. Bên đặt gia công tận dụng được
giá rẻ về nhân công, nguyên phụ liệu của nước gia công. Bên nhận gia công tạo được
việc làm cho lao động trong nước, nhập được máy móc thiết bị, công nghệ mới. Tuy
nhiên họ dễ bị phụ thuộc vào nước đặt gia công về số lượng, chủng loại, mẫu mã hàng
hoá gia công và đặc biệt là dễ bị ép giá gia công.
6. Tái xuất khẩu:
Tái xuất khẩu là xuất khẩu trở lại nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập
khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ có thể thu được
lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất.Tuy nhiên nếu không được kiểm soát tốt,
việc lưu chuyển hàng hoá nhập về nước tái xuất nhằm tránh thuế có thể sẽ gây thông tin
nhiễu về cung cầu trên thị trường, điều này tác động trở lại các doanh nghiệp dễ có
những quyết định sai. Hình thức này được áp dụng rất phổ biến, nhất là với những
nước, những doanh nghiệp chuyên kinh doanh buôn bán quốc tế.
Trên đây là những hình thức xuất khẩu chủ yếu, ngoài ra còn nhiều hình thức khác
như: xuất khẩu gia công uỷ thác, xuất khẩu theo nghị định thư, xuất khẩu tại chỗ... Việc
phân định trên đây sẽ giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn phương thức phù hợp với khả
năng của chính mình sao cho đạt hiêụ quả cao nhất, tiết kiệm được chi phí, thu hồi vốn
nhanh, doanh số bán hàng tăng, thị trường bán hàng được mở rộng thuận lợi trong quá
trình xuất nhập khẩu của mình. Ngoài ra các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cũng cần
được quan tâm đúng mức.
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1. Các yếu tố thuộc phạm vi quốc gia.
1.1. Các yếu tố kinh tế.
1.1.1. Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia.
Tuỳ thuộc vào mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế theo từng giai đoạn của
mỗi quốc gia, Chính phủ quốc gia đó có thể đưa ra các chính sách khuyến khích hay hạn
được xuất khẩu và ngược lại, tuy nhiên tỷ giá hối đoái như con dao hai lưỡi nhiều khi nó
lại có tác động tiêu cực: làm đội giá nguyên vật liệu nhập khẩu gây khó khăn cho nhà
sản xuất, làm lệch mục tiêu của nhà hoạch định chính sách.
Lãi suất cũng là yếu tố có tác dụng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu, chính
sách giữ bình ổn lãi suất sẽ tạo tâm lý tốt cho các nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh
xuất khẩu, nhất là với những mặt hàng cần huy động vốn lớn.
1.1.3. Tăng trưởng GDP và lạm phát.
Tăng trưởng kinh tế thường đi liền với gia tăng lạm phát, tăng trưởng dẫn đến thu
nhập tăng, điều này làm cho nhu cầu tiêu dùng tăng nhanh hơn khả năng cung ứng dẫn
đến giá tăng và điều này sẽ dẫn đến lạm phát. Nếu lạm phát quá cao các nhà xuất khẩu
sẽ bị thiệt và họ sẽ không hứng thú trong việc sản xuất kinh doanh xuất khẩu, điều này
làm cho sản xuất bị ngừng trệ hoặc thu hẹp dẫn đến tăng trưởng chậm. Nếu lạm phát quá
thấp sẽ không khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh dẫn đến không mở rộng được
quy mô sản xuất, không mở rộng được thị trường xuất khẩu. Một chính sách điều chỉnh
lạm phát phù hợp từ phía Chính phủ sẽ khuyến khích được sản xuất trong nước và hoạt
động xuất khẩu cũng được đẩy mạnh.
1.2. Yếu tố xã hội.
Hoạt động của con người luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội nhất định.
Chính vì vậy, các yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của con người. Các yếu
tố xã hội là tương đối rộng, do vậy để làm sáng tỏ ảnh hưởng của yếu tố này ta có thể
nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, đặc biệt là trong ký kết hợp đồng.
Nền văn hóa tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định cách thức tiêu dùng,
thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thoả mãn và cách thoả mãn của con người
sống trong đó. Điều này có nghĩa là các nhà xuất khẩu luôn luôn phải quan tâm tìm hiểu
những đặc điểm văn hóa riêng có ở mỗi thị trường mà mình tiến hành hoạt động xuất
khẩu, nhằm thâm nhập và mở rộng thị trường một cách có hiệu quả. Văn hoá trong ký
kết hợp đồng ở mỗi quốc gia cũng rất khác nhau, các nhà xuất khẩu cần phải biết điều
này để việc đàm phán và ký kết hợp đồng được thuận lợi, có hiệu quả.
1.3. Yếu tố chính trị, luật pháp
Các yếu tố chính trị pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu. Các
giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hóa xuất khẩu.
Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép các nhà kinh
doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán, huy động vốn. Ngoài ra ngân hàng là
một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh bằng các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng.
Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng hàng hóa cho phép các hoạt động xuất khẩu
được thực hiện một cách an toàn hơn, đồng thời giảm bớt được mức độ thiệt hại khi có
rủi ro xảy ra...
2. Các yếu tố thuộc phạm vi doanh nghiệp .
2.1 Tiềm lực tài chính.
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng
(nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối (đầu
tư) có hiệu quả các nguồn vốn. Vốn có thể là vốn tự có, vốn huy động (từ bên ngoài
hoặc từ các thành viên thuộc doanh nghiệp), vốn tích luỹ từ tỷ lệ chiết khấu hàng năm.
Một doanh nghiệp có nguồn tài chính mạnh, được quản lý có hiệu quả sẽ có khả năng
cung ứng tốt các nguồn hàng, có khả năng đảm nhận những đơn đặt hàng lớn, do đó khả
năng chiếm lĩnh thị trường sẽ tốt hơn.
2.2. Yếu tố công nghệ.
Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu và thông
tin, nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản
xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý và thông tin. Như vậy công nghệ gồm phần cứng là
những yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: nhà
xưởng, máy móc thiết bị... Phần này giúp tăng năng lực cơ bắp và trí lực của con người
và phần mềm gồm: (1) phần con người là đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, có kỹ năng, kỹ
xảo, kinh nghiệm sản xuất, làm việc có trách nhiệm và năng suất cao, (2) phần thông tin
gồm các dữ liệu, thuyết minh, dự án, mô tả, sáng chế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều hành sản
xuất, (3) phần tổ chức gồm những liên hệ, bố trí, sắp xếp, đào tạo đội ngũ cho các hoạt
động như phân chia nguồn nhân lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra điều hành.
Công nghệ của doanh nghiệp càng hiện đại thì năng suất sản xuất, chất lượng hàng
hóa càng được nâng cao, chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm giảm. Điều này làm tăng
trường khu vực đó.
Tất cả những yếu tố trên đây có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động
xuất khẩu nói chung, những yếu tố này ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động ngày càng
nhiều chiều đến hoạt động xuất khẩu theo đà phát triển của hoạt động ngoại thương nói
chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Dưới đây sẽ đề cập đến đặc điểm riêng của
ngành dệt may.
IV. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG DỆT MAY TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ
GIỚI.
1. Đặc điểm về sản xuất .
Với một quốc gia, khi có nền công nghiệp phát triển thì ngành công nghiệp dệt may
sẽ không đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế mà các ngành công nghiệp khác có hàm
lượng kỹ thuật cao sẽ chiếm lĩnh thị trường. Bởi ngành công nghiệp dệt may là một
ngành sử dụng nhiều lao động đơn giản, vốn đầu tư ban đầu không lớn, nhưng có tỷ lệ
lãi khá cao. Chính vì vậy sản xuất dệt may thường phát triển mạnh và có hiệu quả. ở các
nước đang phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá. Khi
đã có công nghiệp phát triển, có trình độ kỹ thuật cao, giá lao động cao thì sức cạnh
tranh trong sản xuất dệt may sẽ giảm. Thực tế cho thấy, lịch sử phát triển ngành dệt may
thế giới cũng là lịch sử chuyển dịch công nghiệp dệt may từ khu vực phát triển sang khu
vực kém phát triển hơn do tác động của các lợi thế so sánh. Tuy nhiên, điều này không
có nghĩa là ngành dệt may không còn tồn tại các nước phát triển mà nó đã phát triển cao
hơn với những sản phẩm cao cấp, thời trang để phục vụ cho một nhóm người.
Cụ thể của sự chuyển dịch này là vào năm 1840 từ nước Anh sang các nước Châu
Âu khác, khi các ngành công nghiệp dệt may đã trở thành động lực phát triển chính cho
sự phát triển thị trường sang các khu vực mới khám phá ở Châu Mỹ. Tiếp theo là từ
Châu Âu sang Nhật Bản vào những năm 1950. Từ năm 1960, khi chi phí sản xuất ở Nhật
tăng lên và thiếu nguồn lao động thì công nghiệp dệt may lại chuyển dịch tới các nước
mới công nghiệp hoá (NIC
S
) như Hồng Kông, Đài loan, Nam Triều Tiên... Quá trình
chuyển dịch được thúc đẩy mạnh bởi nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm khai thác
chỉnh theo những thể chế thương mại đặc biệt mà nhờ đó, phần lớn các nước nhập khẩu
thiết bị hạn chế số lượng để hạn chế hàng dệt may nhập khẩu. Mặt khác, mức thuế phổ
biến đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với những hàng hoá công nghiệp khác. Bên
cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra những điều kiện đối với hàng dệt may nhập
khẩu. Tất cả những hàng rào đó ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất và buôn bán hàng dệt
may trên thế giới trong thời gian qua.
Chương II
TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG VÀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT
MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
I- ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VÀ
THỊ TRƯỜNG HÀNG MAY MẶC VIỆT NAM.
1- Thực trạng hoạt động kinh doanh của ngành dệt may Việt Nam .
1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh:
Ngành công nghiệp dệt may có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của nhiều
quốc gia vì nó phục vụ nhu cầu cần thiết của con người, đó là nhu cầu về mặc , vì vậy từ
rất lâu trên thế giới ngành công nghiệp này đã hình thành và đi lên cùng với sự phát
triển ban đầu của công nghiệp tư bản.
Công nghiệp dệt may là ngành thu hút nhiều lao động với kỹ năng không cao, có
điều kiện mở rộng thương mại quốc tế, vốn đầu tư ban đầu cho một cơ sở sản xuất
không lớn như một số nghành công nghiệp khác. Do vậy trong quá trình công nghiệp
hoá diễn ra rất sớm ở các nước phát triển Anh, Pháp... cho đến các nước công nghiệp
mới như Hàn quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, ngành dệt may đều giữ vị trí
hết sức quan trọng.
Việc sản xuất trong lĩnh vực dệt may rất phong phú, phối hợp từ công nghệ đơn
giản nhất ( thợ may ráp nối không cần phải được huấn luyện quá công phu) , đến những
kỹ thuật tiên tiến nhất ( thiết kế mẫu, giác mẫu, cắt... bằng hệ thống máy điện toán), hay
kỹ thuật thông tin phối hợp sản xuất ở nhiều nơi trên thế giới. Điều này cho thấy sự phối
hợp của nhiều trình độ công nghệ dẫn đến hiện tượng phổ biến là các nưóc phát triển
nắm được những kỹ thuật cao, thu nhiều lợi nhuận nhất, và giao lại cho các nước đang
phát triển (với mức lương nhân công rẻ mạt ) những khâu kỹ thuật thấp , đa số là gia
Nước Lương (USD/giờ) Tiêu dùng ( kg/ người) GNP
(USD /Người)
Việt Nam 0,48 0,8 250.00
Thái Lan 0,87 3,0 2.315
Philippin 0,67 1,8 1.010
Indonexia 0,23 1,9 780
Malayxia 0,95 6,5 3.530
Singapore 3,16 29,0 22.520
Trung Quốc 0,34 5,7 435
Hông Kông 3,39 12,8 21.558
Ấn Độ 0,54 2,5 310
Hàn Quốc 3,60 14,0 8.520
Nhật Bản 16,37 20,3 38.750
Mỹ 10,33 27,1 25.900
Anh 10,16 18,5 16.600
Pháp 12,63 15,0 24.150
( Nguồn : Tổng Công ty Dệt may Việt Nam - năm 1998)
Các so sánh cho thấy chúng ta còn tiềm năng rất lớn để nâng cao hơn nữa năng lực sản
xuất và tiêu thụ hàng dệt may khi chúng ta tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng thị
trường. Tăng trưởng là tiền đề phát triển tiêu dùng thông qua khả năng thanh toán của
sức mua ngày một tăng thêm: trong đó đáng chú ý là sự gia tăng các sản phẩm về may
mặc sau khi đã giải quyết tốt các nhu cầu cơ bản về ăn uống.
Trong tương lai gần ( 2005) chúng ta có thể đạt đến mức tiêu dùng các sản phẩm về
dệt may khoảng 5-6 kg/ người năm , tương đương với mức sử dụng hiện nay của Trung
Quốc, hay tương đương với mức của Hồng Kông và Hàn Quốc hiện nay vào năm 2010.
Điều đó sẽ cải thiện đáng kể vào việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm và tăng thu nhập
cho người lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia để tái đầu tư phát triển trong
đó có ngành công nghiệp dệt may trên cơ sở cao hơn về trình đô công nghệ , thiết bị và
các điều kiện cần thiết khác.
1.2 Qui mô sản xuất :
công nhân, sản phẩm truyền thống và thị trường. Đến năm 2005 nếu không làm được
điều này ngành dệt may Việt Nam sẽ mất thời cơ, không còn khả năng phát triển và hội
nhập.
Dưới đây là một vài nét cơ bản về tình hình tổ chức cũng như năng lực sản xuất của
riêng ngành may mặc Việt Nam :
1.2.1 Về tổ chức:
Theo thống kê năm 2000 cả nước hiện nay có khoảng 177 doanh nghiệp may quốc
doanh, gần 600 công ty TNHH, cổ phần , tư nhân hoạt động trong lĩnh vực may mặc.
Tổng Công ty Dệt May Việt Nam ( VINATEX) có 22 doanh nghiệp may, trong đó có
11 doanh nghiệp thuộc khu vực phía Bắc còn lại là trong Nam. Các doanh nghiệp may
ngoài Bắc có các công ty lớn như May 10, Công ty may Hưng Yên , Công ty may Chiến
Thắng, May Thăng Long, trong Nam có các công ty lớn như may Việt Tiến, May Nhà
Bè... Các công ty thuộc VINATEX chiếm hơn 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng may mặc Việt Nam ra thị trường thế giới.
1.2.2 Về năng lực sản xuất:
Tổng năng lực sản xuất toàn ngành năm 1998 đạt khoảng 380 triệu sản phẩm (qui
đổi sơ mi), năm 1999 con số này là khoảng 470 triệu sản phẩm, đến năm 2000 đạt 580
triệu sản phẩm (qui đổi sơ mi). Như vậy trung bình mỗi năm tăng khoảng 21% ( khoảng
100 triệu sản phẩm) .
Trong đó kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may (chủ yếu là ngành may) luôn
giữ vị trí thứ 2 sau dầu khí chiếm tỉ trọng trên dưới 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả
nước. Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 1450 triệu USD , năm 1997 đạt
1747 triệu USD, năm 2000 con số này là 1892 triệu USD, năm 2001 là 1975,4 triệu
USD và đến năm 2002 là 2750 triệu USD, góp phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nước.
Tính đến hết tháng 12/2002 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang tất cả
các thị trường đạt 2,751 triệu USD. Trong đó kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 540
triệu USD, chiếm 19,5% tổng kim ngạch: Nhật đạt 485 triệu USD, chiếm 17,5%: Mỹ đạt
975 triệu USD, chiếm 35,5%: các nước khác đạt 751 triệu USD, chiếm 27,5%. Như vậy
năm 2002 là năm có mức tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất của hàng dệt may kể từ năm