TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN
TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM VÀO
CÁC THỊ TRƯỜNG PHI HẠN NGẠCH
GV hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Trung Vãn
Sinh viên thực hiện : Đoàn Thanh Tú
Lớp : Trung 1
Khóa : 38E
Hà Nội 12/2003
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình phát triển, các nước công nghiệp tiên tiến như Anh,
Pháp, Nhật... trước đây, cũng như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore... hiện nay
thường quan tâm phát triển sản xuất, xuất khẩu dệt may như một ngành xuất
khẩu chính.
Ở Việt Nam, ngành dệt may trong các năm qua cũng được quan tâm đầu
tư, mở rộng năng lực sản xuất, và cũng trải qua bao thăng trầm bởi thị trường
quốc tế và cơ chế quản lý trong nước. Đến nay, kim ngạch ngành dệt may năm
2002 đạt mức 2,7 tỷ USD, chiếm gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước,
chỉ đứng sau xuất khẩu dầu thô. Xuất khẩu dệt may đã tạo dựng được bước
phát triển khởi sắc đáng mừng.
Để thực hiện thắng lợi chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
hiện nay ngành công nghiệp nói chung cần duy trì tốc độ tăng trưởng bình
quân 15%/năm, trong đó ngành dệt may cần có tốc độ tăng trưởng cao hơn,
nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng chung, và tiến kịp các nước ASEAN
trong lộ trình hội nhập. Để đi xa hơn nữa, ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
thị trường Canada,... Thị trường phi hạn ngạch gồm các nước và khu vực
không hạn chế mức nhập khẩu và chủ yếu phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh
của chính sản phẩm đó
Khoá luận sẽ tập trung nghiên cứu nhưng thị trường phi hạn ngạch điển
hình là: Nhật Bản, SNG (chủ yếu là Nga) và Châu Phi. Ngoài ra khoá luận còn
nêu tóm tắt một số thị trường khác như ASEAN, Ôxtraylia và Trung Đông.
1. THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN, MỘT THỊ TRƯỜNG KHÓ TÍNH NHƯNG
ĐẦY HẤP DẪN
Thị trường Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ 3
của Việt Nam, chiếm 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam, chỉ đứng sau thị trường Mỹ và thị trường EU. Tuy nhiên nếu với thị
trường EU và thị trường Mỹ hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam bị hạn chế
bởi hạn ngạch thì khi chúng ta xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản lại
không phải chịu hạn ngạch. Như vậy, có thể khẳng định rằng Nhật Bản là thị
trường nhập khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam cho đến
thời điểm hiện tại. Vậy thị trường Nhật Bản có những đặc điểm gì ?
1.1. Mức tiêu thụ
Nhật Bản là một thị trường mở, có quy mô tương đối lớn đối với các nhà
xuất khẩu hàng may mặc nước ngoài. Với số dân là 126,9 triệu người và mức
thu nhập bình quân hàng năm vào khoảng 30.039 USD/người, Nhật Bản là
4
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
nước nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên
việc mua sắm của người Nhật Bản đối với các sản phẩm nói chung và các sản
phẩm may mặc nói riêng đều khác biệt với các thị trường như Mỹ và EU hay
bất kỳ một thị trường nào khác. Một trong những nguyên nhân là Nhật Bản
đang đối mặt với sự thay đổi giữa các nhóm tuổi trong xã hội theo hướng già
hoá dân số tương đối nhanh chóng. Theo một nghiên cứu về xu hướng thay
đổi dân số Nhật Bản giai đoạn 1990-2025 cho thấy: năm 2000 nhóm tuổi từ
15-29 là 16 triệu người thì tới năm 2010 sẽ giảm xuống còn 12,3 triệu người
giá cả (Tạp chí công nghiệp Việt Nam số 12/2003). Qua những con số trên
chúng ta có thể thấy rằng đã có một sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của
người Nhật Bản một cách tương đối, từ quan tâm đến giá cả giờ chuyển sang
quan tâm nhiều hơn đến chất lượng mặc dù từ trước đến nay người Nhật Bản
vẫn luôn khắt khe và khó tính thậm chí còn được đánh giá là thị trường khó
tính nhất thế giới. Đặc biệt đối với hàng dệt may, người Nhật chú ý đến từng
đường kim mũi chỉ, sản phẩm không được có sai sót gì dù là nhỏ nhất.
Vậy là với mức chi tiêu "thoáng" hơn, giờ đây người Nhật Bản sẵn sàng
trả giá cao để mua những sản phẩm chất lượng tốt, tính thời trang thẩm mỹ
cao. Sản phẩm còn phải thể hiện được những nét đặc trưng của nơi sản xuất về
truyền thống văn hoá, nguyên vật liệu bởi họ quan niệm rằng một sản phẩm
may mặc không chỉ đáp ứng nhu cầu thông thường là để mặc, mà nó còn là
một sản phẩm nghệ thuật làm đẹp cho người sử dụng. Họ trở nên tin tưởng và
dễ dàng bỏ tiền ra mua những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng của Nhật
Bản như tiêu chuẩn công nghiệp Nhật (JIS) hoặc các tiêu chuẩn quốc tế như
ISO 9000, ISO 14000, SA 8000. Người tiêu dùng Nhật Bản cũng sẵn sàng từ
chối những sản phẩm làm theo kiểu dáng "hàng nhái" cho dù bán với giá rẻ
hoặc những sản phẩm có những vết xước, vết bẩn trên bao bì, những sợi chỉ
6
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
sợi bông còn sót lại trên bề mặt sản phẩm, kể cả sản phẩm sắp xếp không ngăn
nắp đẹp mắt, bị xô lệch. Đây có thể sẽ là những gợi ý để doanh nghiệp Việt
Nam tham khảo khi muốn đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản vì
hiện tại nhiều chuyên gia kinh tế Nhật Bản đều có chung một nhận xét về hàng
may mặc xuất khẩu của Việt Nam: mặc dù hàng may mặc Việt Nam đạt chất
lượng tốt nhưng không đồng đều, không ổn định, kiểu dáng mẫu mã rất nghèo
nàn và chưa thể hiện được những yếu tố đặc trưng của sản phẩm may mặc
Việt Nam.
Ngoài ra, mức tiêu thụ hàng may mặc của người dân Nhật Bản còn chịu
ảnh hưởng bởi sự biến động của giá đồng Yên. Còn nhớ cuộc khủng hoảng tài
thoi chất liệu bông, áo blouse, đồ lót, váy làm từ chất liệu tơ tằm cũng được
người Nhật Bản yêu thích.
1.3. Mức tự cung đảm bảo
Là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ hai trên thế giới, khối lượng
nhập khẩu hàng may mặc của Nhật Bản tăng nhanh qua các năm. Mức nhập
khẩu có chững lại khi nền kinh tế Nhật Bản lâm vào cuộc khủng hoảng tài
chính-tiền tệ 1997-1998. Nhưng kể từ sau khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi
kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nhật đang tăng trở lại. Ngược với xu
hướng nhập khẩu ngày càng nhiều, hiện nay mức sản xuất hàng dệt may trong
nước của Nhật Bản ngày một suy giảm, nhất là từ năm 1992 cả về mặt giá trị
và số lượng.
Một trong nguyên nhân chủ yếu khiến cho việc sản xuất tại thị trường
nội địa không được mở rộng là do sự suy giảm sức mua trên thị trường, áp lực
8
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
của nền kinh tế giảm phát những năm vừa qua, đơn giá sản phẩm bị hạ xuống
một cách đáng kể qua từng năm. Để đáp ứng đòi hỏi hạ giá bán hàng hoá, các
nhà bán lẻ đã buộc phải bán hàng hoá với giá rẻ, dẫn tới việc giảm tỷ suất lợi
nhuận trong ngành dệt may Nhật Bản. Và hệ quả tất yếu là các nhà sản xuất
hàng dệt may và các hãng buôn đã chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài
nhằm đối phó với tình hình này.
Trong 5- 10 năm qua việc chuyển hoạt động sản xuất hàng dệt may ra
nước ngoài đã phát triển rất nhanh mà điểm đến thường là những nước đang
phát triển rất gần với Nhật Bản. Đầu tiên là sự chuyển dịch sang Hàn Quốc và
Đài Loan. Tiếp đó là thị trường Trung Quốc và thị trường Inđônêxia, hai trong
số nhiều nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á với nguồn nguyên phụ
liệu dồi dào, nguồn lao động phong phú với giá tương đối rẻ. Hiện nay Trung
Quốc được xem là một "cơ sở" sản xuất lớn và là nguồn nhập khẩu quan trọng
của Nhật Bản.
Hiện tại mức sản xuất trong nước của Nhật Bản chỉ chiếm trên dưới 30%
ra ở những thị trường như thế này dễ dàng được người tiêu dùng Nhật Bản
chấp nhận hơn bất kỳ sản phẩm nào được sản xuất ở các nước khác, những
hàng hoá được sản xuất ở Trung Quốc được đối xử như với hàng hoá được sản
xuất tại Nhật Bản vậy.
Hàng may mặc nhập khẩu của Nhật Bản bao gồm hàng dệt thoi và hàng
dệt kim. Dưới đây là bảng số liệu kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản trong
một số năm gần đây.
Kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản
10
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
(Đơn vị:triệu Yên)
Chủng loại 1997 1998 1999 2000 2001
Hàng dệt kim 770.412 782.895 719.019 808.410 853.171
Hàng dệt thoi 995.394 995.394 902.634 1.013.980 1.135.825
Nguồn:Báo cáo của JETRO
Ngoài ra còn có một cách phân loại hàng dệt may nhập khẩu nữa là căn
cứ theo những đặc điểm khác biệt nổi bật nhất của hàng hoá nhập khẩu so với
hàng hoá của Nhật Bản người ta chia ra thành những loại sau:
- Những sản phẩm có sức thu hút, có tính thời trang, có chất lượng cao.
Đó là những sản phẩm đặc biệt hấp dẫn về cả màu sắc, kiểu dáng, chất
lượng sản phẩm, thiết kế cũng như sự khéo léo tinh tế trong từng
đường nét của sản phẩm. Với những đặc điểm nổi bật đó, loại sản
phẩm này thường được nhập khẩu từ những trung tâm thời trang nổi
tiếng trên thế giới tập trung chủ yếu ở Mỹ và các nước EU.
- Những sản phẩm làm từ những loại nguyên phụ liệu hiếm không thể
sản xuất được ở Nhật Bản như len cashmere, vải nỉ angora, hoặc một
số loại len ít phổ biến khác...
- Những sản phẩm đòi hỏi nhiều lao động, với nhiều khâu thủ công tỉ
mỉ thường được sản xuất ở các nước đang phát triển có nguồn lao
động dồi dào nhưng giá nhân công lại rẻ.
những năm vừa qua, với việc gia tăng hoạt động gia công xuất khẩu, Trung
Quốc càng tạo được cho mình một chỗ đứng vững chắc tại thị trường Nhật
Bản.
1.5.2.Hàn Quốc
12
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
Do vị trí địa lý gần kề Nhật Bản nên Hàn Quốc có được những ưu thế về
vận tải hơn các nước khác. Thực vậy hàng hoá từ cảng Pusan của Hàn Quốc
có thể chuyên chở tới cảng Shimonoseki nằm ở phía Tây của Nhật Bản chỉ
trong vòng một ngày. Điều đó đã tạo cho Hàn Quốc những lợi thế nhất định.
Tuy nhiên với sự tăng giá của đồngWon thời gian gần đây và giá nhân công
cao đã làm khả năng cạnh tranh cuả hàng dệt may Hàn Quốc giảm đáng kể
nhất là những mặt hàng dành cho thị trường đại chúng. Vì thế, hiện nay Hàn
Quốc chủ yếu tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cấp trung hơn
là những mặt hàng bình dân như trước kia.
1.5.3.EU
Tuy bất lợi cả về khoảng cách địa lý cũng như giá nhân công cao hơn
hẳn các nước ASEAN nhưng hàng dệt may của EU vẫn có thể đứng vững trên
thị trường Nhật Bản, bởi những mặt hàng xuất khẩu của EU sang thị trường
này thường là những mặt hàng cao cấp, hợp thời trang và đắt tiền. Đó là
những sản phẩm gắn với những tên tuổi lớn trong ngành công nghiệp thời
trang thế giới, nhưng số lượng cung cấp chỉ có hạn. Ngoài ra EU cũng được
coi là đã khéo léo sử dụng những ảnh hưởng của mình tại thị trường dệt may
Nhật Bản. Song một điều không thể phủ nhận là hàng dệt may của EU được
đánh giá rất cao bởi sự tinh tế trong việc sử dụng màu sắc sản phẩm, việc kết
hợp khéo léo hơn hẳn những sản phẩm của Nhật Bản. Nhưng từ cuối thập niên
80 phần lớn những những sản phẩm của các thương hiệu lớn của EU đều đã
được sản xuất tại Nhật Bản dưới hình thức license chứ không còn được nhập
khẩu trực tiếp từ EU.
1.5.4.Mỹ
2
và dân số là 9,9
triệu người.
14
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
- Cộng hoà Moldova với diện tích là 33.700 km
2
và dân số là 4,3 triệu
người.
- Cộng hoà Ukraina với diện tích là 603.700 km
2
và dân số là 48,2 triệu
người.
- Cộng hoà Grudia với diện tích là 69.700 km
2
và dân số là 4,4 triệu
người.
- Cộng hoà Acmenia với diện tích là 29.800 km
2
và dân số là 3,8 triệu
người.
- Cộng hoà Azecbaizan với diện tích là 86.600 km
2
và dân số là 8,2
triệu người.
- Cộng hoà Udơbêkixtan với diện tích là 447.400 km
2
và dân số là 28,4
triệu người.
- Cộng hoà Tazikixtan với diện tích là 143.100 km
sản, đồng thời cũng là những mặt hàng chủ lực của nước ta hiện nay. Trong số
các mặt hàng đó, giá trị xuất khẩu dệt may thường chiếm 60-70% tổng giá trị
xuất khẩu sang thị trường này.
Sự phân chia thành nhiều thị trường các quốc gia độc lập hiện nay dẫn tới
những chính sách kinh tế thương mại của mỗi quốc gia khác nhau và các chính
sách ngoại thương cũng khác nhau. Chính vì thế việc xuất khẩu hàng hoá của
nước ta sang thị trường các nước này đã thay đổi rất nhiều so với trước kia và
xuất hiện cách thức mới trong quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước SNG.
Do vậy muốn trở lại với thị trường này chúng ta cần phải dựa trên quan hệ
truyền thống làm nền tảng, trong việc tiếp cận thị trường SNG chúng ta cũng
cần xác định nên bắt đầu từ đâu và thị trường nào đóng vai trò quyết định
nhất. Trong thị trường SNG hiện nay, rõ ràng đóng vai trò quyết định nhất
trong quan hệ ngoại thương, đó là thị trường Nga.
Liên bang Nga là nước có diện tích lớn nhất thế giới trải dài trên hai lục
địa Âu và Á, có biên giới giáp với 14 quốc gia cũng như giáp với rất nhiều
biển và đại dương.
16
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
Nga cũng là một nước đa sắc tộc đa tôn giáo. Tại Nga hiện có hơn 100
dân tộc cùng sinh sống trong đó dân tộc Nga chiếm 81,5%, người Tácta chiếm
3,8% và người Ukraina chiếm 3% dân số. Ngoài ra còn gần 25 triệu người
Nga sống ở các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và gần 2 triệu người ở các
nước khác trên thế giới. Phần lớn dân Nga theo đạo Cơ đốc chính thống. Tuy
nhiên, một bộ phận dân số không nhỏ là gần 20 triệu người theo đạo Hồi sống
dọc biên giới phía Nam của Nga. Ngoài ra còn có các tôn giáo khác như đạo
Phật, Do Thái, Thiên Chúa giáo La Mã.
Thị trường Nga đã từng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động
xuất khẩu của Việt Nam nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng dệt may nói
riêng. Những biến động về chính trị xã hội của Liên Xô cũ năm 91-92 đã
khiến cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này giảm mạnh,
Hiện tại, kinh tế Nga đang đi theo hướng kinh tế thị trường hiện đại.
Trọng tâm của nền kinh tế Nga không phải là có chuyển hướng kinh tế hay
không mà là phải đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế như thế nào cho phù hợp nhất
với riêng nước Nga.
Với quy mô nhập khẩu tới 50 tỷ USD mỗi năm về hàng tiêu dùng, chủ
yếu là nông phẩm và đồ gia dụng, Nga thực sự là một thị trường đầy triển
vọng với Việt Nam. Mặt khác Nga mới chỉ chú trọng phát triển công nghiệp
nặng chứ chưa chú ý đầu tư phát triển sản xuất hàng tiêu dùng cỡ nhỏ như
quần áo, giày dép, nông sản và thực phẩm chế biến, đồ nhựa gia dụng, hàng
thủ công mỹ nghệ, gia vị, đông dược, gỗ ván sàn. Đó cũng là một lợi thế cho
Việt Nam xuất khẩu những hàng hoá tiêu dùng sang thị trường này.
Theo thoả thuận đã đạt được giữa hai nước trong tổng số nợ hàng năm
mà Việt Nam phải trả cho phía Nga, phần lớn trong số đó Việt Nam trả bằng
18
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
hàng hoá. Đây là cơ hội tốt cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu
trực tiếp hàng hoá sang Nga. Quan trọng hơn là tạo chỗ đứng lâu dài trên cho
hàng hoá Việt Nam tại thị trường Nga.
2.2. Thị hiếu tiêu dùng
Tuy Liên Bang Nga được coi là thị trường truyền thống của ta nhưng sau
những biến động của lịch sử , chắc chắn thị hiếu tiêu dùng của người dân Nga
cũng khác. Trước đây doanh nghiệp Việt Nam khá quen thuộc với thói quen
và sở thích tiêu dùng của người dân Nga, đó là những người tiêu dùng khá dễ
tính không đòi hỏi quá cao về chất lượng. Hiện nay, hàng may mặc tại thị
trường Nga đã có những thay đổi về cơ bản, tuy không khó tính như thị trường
Nhật Bản nhưng thị trường Nga đang tiếp cận ngày một nhanh với thị trường
các nước Châu Âu, các tập đoàn thương mại lớn trên thế giới đầu đã có mặt
tại Nga, ở Châu Âu có hàng hoá gì thì Nga cũng có loại hàng đó. Do vậy, yêu
cầu về chất lượng cũng như hình thức sản phẩm ở mức cao với giá cả chấp
nhận được. Hàng có phẩm chất trung bình chỉ có thể tiêu thụ được ở các vùng
Hầu hết các nước Châu Phi đều là những nền kinh tế đang phát triển, với
mức thu nhập bình quân ở nhiều nước xấp xỉ 400USD/người/năm. Tuy mức
thu nhập bình quân tính theo đầu người này còn khá khiêm tốn nếu không
muốn nói là thấp nhưng lại có tiềm năng phong phú về tài nguyên thiên nhiên,
khoáng sản, với nguồn lao động dồi dào. Sự ổn định chính trị đang dần trở lại
với châu lục này lại cộng thêm sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế thì chắc chắn
trong một tương lai không xa Châu Phi sẽ có một diện mạo mới tươi sáng hơn.
Ngoài Ai Cập và Cộng hoà Nam Phi, Châu Phi vẫn chưa tự xây dựng
được cho mình những ngành công nghiệp quan trọng cần thiết để khai thác
nguồn nguyên liệu đa dạng của mình bởi lẽ thiếu vốn để xây dựng nhà máy,
lại chưa đào tạo được nhiều công nhân lành nghề, nhà quản lý và kỹ thuật viên
20
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
tốt nên không đủ sức cạnh tranh với nền kinh tế công nghiệp của Mỹ và Châu
Âu. Từ đầu thế kỷ XX và ngay đến hiện tại Châu Phi chỉ có một số ngành
công nghiệp tiêu dùng quy mô nhỏ như công nghiệp dệt, thuốc lá, nước giải
khát, giày dép và sản xuất linh kiện ô tô.
Hiện nay nền công nghiệp nhiều nước Châu Phi vẫn chưa tạo lập được vị
trí xứng đáng với ưu thế về tài nguyên. Do vậy ngoại thương đang đóng một
vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của lục địa này. Hiện có khoảng
1/4 sản phẩm của châu lục này được xuất khẩu, trong đó dầu khí là mặt hàng
xuất khẩu quan trọng hàng đầu, tiếp đến là cà phê, ca cao, bông, khí đốt tự
nhiên... Bên cạnh đó, cơ cấu hàng nhập khẩu của các nước Châu Phi nổi bật là
những mặt hàng như máy móc các loại, hoá chất, nhựa, hàng dệt may, các sản
phẩm hoá dầu, cao su tự nhiên, hàng tiêu dùng, hàng nông sản (gạo, chè, cà
phê), hàng thủ công mỹ nghệ.
Cơ cấu nhập khẩu trên cho thấy, phần lớn những mặt hàng mà Châu Phi
có nhu cầu nhập khẩu cũng là những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh.
Trong những năm gần đây với mục tiêu tăng cường và mở rộng quan hệ hợp
tác, Việt Nam và các nước Châu Phi đã trao đổi và ký nhiều thoả thuận, hiệp
nhập cao trong số các nước đang phát triển. Thị trường Nam Phi không phải là
thị trường khó tính vì nhu cầu rất đa dạng. Các sản phẩm cao cấp cũng như
bình dân đều có thể tiêu thụ được tại thị trường này. Trong vài năm trở lại đây,
những cải cách kinh tế được chú trọng như chính sách linh hoạt về ngoại hối,
cơ cấu lại nền kinh tế làm cho đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng, thị
trường nội địa không ngừng mở cửa cho cạnh tranh từ bên ngoài.
Bạn hàng lớn của Nam Phi là EU và Mỹ nhưng Châu Phi cũng là một đối
tác quan trọng của đất nước cực Nam Châu Phi này. Nam Phi hiện là thành
viên của SACU (Liên minh Thuế quan Miền Nam Châu Phi, gồm 5 nước:
Bôtsoana, Lêsôthô, Nammibia, Swaziland, Nam Phi). Thương mại giữa các
22
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
nước thuộc SACU hầu như không có cản trở gì và hoàn toàn tự do. Cũng
trong khu vực Châu Phi, Nam Phi đã cam kết thành lập một khu vực thương
mại tự do với các thành viên của SADC (Cộng đồng phát triển Miền Nam
Châu Phi) gồm 14 nước Miền Trung và Miền Nam Châu Phi. Như vậy có thể
coi Nam Phi là một cánh cửa để đưa hàng hoá của Việt Nam vào thị trường
các nước Trung và Nam Châu Phi.
Ngoại thương đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước này. Năm
2000 kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 34,3 tỷ USD, đóng góp 45% GDP, nhập
khẩu khoảng 30 tỷ USD. Nam Phi là nước xuất khẩu vàng hàng đầu thế giới.
Ngoài ra, Nam Phi cũng xuất khẩu nhiều mặt hàng khác nhau như kim cương,
các sản phẩm kim loại (sắt, thép), đá quý, nông sản (ngô, kê), thuốc lá sợi, hoá
chất, than, uranium. Cùng với xuất khẩu, Nam Phi cũng nhập khẩu nhiều mặt
hàng như máy móc các loại, dụng cụ khoa học, nhựa, hàng dệt may, dầu
mỏ.v.v.
Hiện Nam Phi đang tuân thủ các hiệp định tự do thương mại với một số
nước như EU, Dimbabue. Trên cơ sở các hiệp định đó, Nam Phi xác định mức
thuế cho mặt hàng may mặc cũng như các mặt hàng khác. Nam Phi cũng đang
tiến hành đàm phán ký kết hiệp định tự do thương mại với Ấn Độ và Trung
nhưng vải phải đủ độ bền, màu sắc càng màu mè, càng đậm thì càng được ưa
chuộng.
Người da trắng chiếm 14% dân số Nam Phi. Khác với người da đen, phần
đông người da trắng thuộc tầng lớp có thu nhập khá cao. Do đó, với họ, tông
màu được ưa chuộng hơn cả, đó là màu sáng. Người da trắng cũng tỏ ra sành
điệu hơn trong ăn mặc nhất là giới trẻ. Họ chuộng những màu cơ bản kiểu
dáng Châu Âu, nhưng đơn giản và tiết kiệm vẫn là tiêu chí được chú trọng.
Ngoài ra, hàng may mặc Châu Phi còn phân theo mùa. Thường thì vùng
Đông Bắc Châu Phi có khí hậu khắc nghiệt hơn cả. Vì vậy yêu cầu về độ bền
24
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
của vải, độ ấm của quần áo được đặt lên hàng đầu, những tiêu chí còn lại như
màu sắc, kiểu dáng chỉ là thứ yếu.
Nhìn chung thị trường Châu Phi là thị trường không đòi hỏi chất lượng
quá cao và kỹ tính như thị trường Nhật Bản hay thị trường EU hoặc là thị
trường Mỹ. Những mặt hàng mà thị trường này có nhu cầu doanh nghiệp Việt
Nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng bởi trình độ phát triển của nước ta có
nhiều điểm phù hợp với các nước Châu Phi. Và thực tế là hầu hết hàng hoá
Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Châu Phi. Thậm chí
tại thủ đô Luanda của Angola các mặt hàng tiêu dùng của Việt Nam như quần
áo, điện tử, xe gắn máy,.v.v được bày bán rộng rãi và có sức tiêu thụ manh tại
khu "Việt Nam town". Đây là một dấu hiệu rất đáng mừng cho hàng hoá Việt
Nam nói chung và hàng dệt may nói riêng. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tìm
được chỗ đứng xứng đáng trên thị trường này tương xứng với tiềm năng mối
quan hệ hợp tác giữa Việt Nam- Châu Phi vì hòa bình và phát triển theo
nguyên tắc cùng có lợi.
4. MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG KHÁC
4.1. Thị trường một số nước trong khu vực
ASEAN là tên gọi tắt của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được chính
thức thành lập vào ngày 8/8/1967. Ngày 28/7/1995 đã đi vào lịch sử khi Việt